Dorrit Cohn và những kĩ
thuật tự sự cơ bản Hơn nữa, ở một số văn bản, không dễ dàng xác định chúng thuộc về độc thoại nội
tâm hay không: vô số những đoạn dẫn suy tư của các nhân vật hư cấu, trong các tiểu
thuyết cả trước lẫn sau Joyce, thể hiển những cấu trúc vừa logic vừa liên tưởng, đến
mức, độ “lưu loát” (fluidité) của chúng có thể thay đổi ngay từ khoảnh khắc này sang
khoảnh khắc khác (và từ người đọc này sang người đọc khác). Sự khác biệt giữa độc
thoại nội tâm và độc thoại này làm sao lãng hai phạm trù cơ bản chung cho tất cả những
đoạn dẫn suy tư, cho dù đó là đối tượng hay phong cách : sự quy chiếu về chủ thể gợi tới
ngôi thứ nhất, và sự quy chiếu về thời gian của truyện (nếu có thế nói, thời gian của
truyện chính là thời gian của sự trình bày) gợi tới thời hiện tại ngữ pháp. Cấu trúc cú
pháp chung này thống nhất độc thoại nội tâm và độc thoại, và tách biệt rõ ràng cái kỹ
thuật dẫn trực tiếp này khỏi những kĩ thuật khác được sử dụng để thể hiện cuộc sống nội
tâm trong văn cảnh ở ngôi thứ ba.
Độc thoại được kể (monologue narrativisé): Đây là kỹ thuật thứ ba và là kỹ thuật
cuối cùng được sử dụng để thể hiện cuộc sống nội tâm trong một văn cảnh ở ngôi thứ
ba. Các nhà phân tích thể loại trần thuật như Scholes và Kellog chỉ phân biệt “hai kỹ
thuật chính để thể hiện cuộc sống nội tâm”: phân tích tự sự và độc thoại nội tâm. Sự
phân chia này để lại một khoảng trống lớn là phương pháp có thể làm nổi lên rất nhiều
những suy tư được gán cho các nhân vật trong tiểu thuyết của những thế kỷ gần đây.
Phương pháp này không có cách gọi cố định trong tiếng Anh; trong tiếng Pháp nó được
gọi là “kiểu gián tiếp tự do”, trong tiếng Đức là erlebte Rede. Dorrit Cohn đề xuất gọi
là độc thoại được kể (narated monologue), “độc thoại narrativisé”, cách gọi gợi lên sự
hành động, tuyên bố, suy nghĩ của cái ngã đang trải nghiệm (trải nghiệm cái Tôi) và có
thể thêm thông tin và ý kiến vào các sự kiện trong quá khứ. Cái tôi tự sự này xem xét
sự khác nhau giữa lí tưởng và hiện thực, di chuyển giữa nguyên nhân và hệ quả. Cái tôi
trải nghiệm hướng vào sự đối mặt thực tế trực diện với những chỉ dẫn tinh thần và sự
hiển nhiên mang tính hệ quả, chứ không hướng đến những yếu tố làm nền, yếu tố hoàn
cảnh, hay đánh giá, bình phẩm.
Ngược lại với tự sự-bản ngã không cộng hưởng là tự sự bản ngã cộng hưởng,
trong đó, cái ngã được tự sự áp dụng một cái nhìn lợi thế giống như là nó đang trải
nghiệm chính bản ngã của nó. Ở loại tự sự này, khó có thể xác định đâu là tự sự bản
ngã và đâu là trải nghiệm bản ngã. Thậm chí ngay cả khi tập trung hoàn toàn vào
Trải nghiệm bản thân mình, cái tôi lại tạo thành nền tảng tuyệt đối cho việc Tự sự
chính bản thân nó. Theo Cohn, trong tự sự-bản ngã không có sự bình luận bản ngã;
khoảng cách tâm lí giữa việc trải nghiệm cái Tôi và tự sự cái Tôi rất mong manh; và
việc Tự sự cái Tôi không nhằm vào ý kiến, quan điểm của người tự sự.
Quan niệm về tự sự-tâm lí ở ngôi thứ ba và tự sự-bản ngã ở ngôi thứ nhất trong
nghiên cứu của Cohn sau này được Palmer, nhà tự sự học tự đặt mình thuộc về dòng tự
sự học hậu cổ điển gọi là báo cáo tâm lí trong tác phẩm Fictional Minds(Những tâm trí
hư cấu, 2004). Ông cho rằng, tâm trí mang tính xã hội, bởi vì suy nghĩ xảy ra khi tương
tác với hoàn cảnh. Cũng vì thế, suy nghĩ mang tính mục đích: chúng có mục đích, dự
định, có nguyên nhân và hệ quả. Palm cho rằng, báo cáo tâm lí là hình thức thích hợp
nhất trong việc thể hiện suy nghĩ của các nhân vật hư cấu bởi vì các suy nghĩ của nhân
vật đều diễn ra trong một hoàn cảnh xã hội và trong sự phản ứng với các nhân vật
khác. Và việc phân tích bản báo cáo suy nghĩ cho phép chúng ta nhận ra rằng các cảm
xúc là nhìn thấy được và mang tính cộng đồng; cảm xúc có mối quan hệ chặt chẽ với
tri thức; thể hiện cảm xúc là phần sống còn của việc sáng tạo nhân vật và các đoạn về
cảm xúc có giá trị mục đích luận.
Để bổ sung cho quan niệm về ba kĩ thuật trên, Dorrit Cohn còn đưa ra quan điểm
riêng biệt về ngôi kể. Theo bà, điều đặc biệt từ trước tới nay trong nghiên cứu các kĩ
thật tự sự ý thức là sự chú ý đến những văn bản tự sự ngôi thứ ba và loại ra ngoài
những văn bản hoàn toàn là độc thoại nội tâm. Việc người kể chuyện tiểu sử dùng đời
thành hình thức ngôi thứ nhất tự trị (autonomous first-person form) vốn được coi là sự
phát triển tốt nhất hay ít nhất là tốt hơn của kiểu tự sự ngôi thứ nhất.
Ở đây, để làm rõ thêm sự khác nhau giữa thuật ngữ độc thoại nội tâm và hình thức
tự sự ngôi thứ nhất tự trị, tác giả đưa ra bài học về sự nhầm lẫn của Dujardin. Dujardin
khăng khăng tác phẩm Les Lauriers sont coupes của ông là tổ tiên duy nhất củaUlysses.
Tuy nhiên, điều này trở nên đáng nghi khi xem xét cấu trúc khác nhau giữa hai tác
phẩm: sự vắng mặt của hoàn cảnh tự sự trong tác phẩm của ông và sự hiện diện của điều
đó trong tác phẩm của Joyce. Và hiển nhiên, trên bề mặt, Uyleses không phải là tiểu
thuyết độc thoại nội tâm giống như Les Laurier. Joyce hoàn toàn ý thức về sự khác nhau
này trong bản miêu tả của ông về tác phẩm của Dujardin: “Trong cuốn sách đó, độc giả
thấy mình được hình thành ngay từ những dòng đầu tiên, trong những suy nghĩ của nhân
vật chính… Việc giúp độc giả hình dung vị trí của mình này được thực hiện qua việc
đưa cho họ thông điệp về việc nhân vật đó đang làm gì và điều gì đang xảy ra với anh
ta”. Trong khi đó ở Ulysses (trừ đoạn Penelop), độc thoại nội tâm có ở khắp nơi và hiện
thân trong phương tiện tự sự ngôi thứ ba. Những dòng đầu tiên của tác phẩm không có
dụng ý xây dựng độc giả bởi bất cứ khi nào có kĩ thuật độc thoại xuất hiện, nó được thay
thế bởi tự sự. Và sự xen vào của tự sự này, dù là ngắn ngủi, cũng làm lan toả lời tự phát
biểu (self-locution) không liên tục và cùng lúc đó, chúng làm nhẹ bớt những khó khăn
đầy tai tiếng của hình thức tự trị (autonomous form – như sự miêu tả về cử chỉ cũng như
hoàn cảnh bản thân của người độc thoại). Với nhận định trên, tác giả cho rằng, độc thoại
nội tâm là một hình thức hư cấu riêng biệt, đó là thuộc loại ngôi thứ nhất. Để tránh nhầm
lẫn, tác giả dùng thuật ngữ “độc thoại nội tâm tự trị” (autonomous interior monologue)
(đôi khi cũng được tác giả dùng là “văn bản hay tiểu thuyết độc thoại nội tâm” – interior
monologue text or novel) để phân biệt với thuật ngữ “độc thoại nội tâm được trích dẫn”
(quoted interiorr monologue). Kĩ thuật “độc thoại nội tâm tự trị” gắn bó với thể loại ngôi
thứ nhất một cách tinh vi hơn so với những gì mà các nhà nghiên cứu hiểu. Về mặt lịch
sử và loại hình, cả hai đều là những lớp trung gian phức tạp giữa văn bản độc thoại và
văn bản tiểu sử và hai phạm trù này chỉ có thể được tách biệt khi xem xét một cách kĩ
lưỡng những biến thể chuyển giao này. Do đó, ở công trình miêu tả các kĩ thuật thể hiện
ý thức cần phải xem xét sự bành trướng của thể loại tự sự và độc thoại tự trị