thấp thường dưới 1 con/lá, sang tháng 3 khi nhiệt độ ấm dần lên, nhện đỏ phát sinh
mạnh đạt 2,3 con/lá. Sang tháng 4, 5 và tháng 6 sau những lứa hái đầu tiên cây chè tạo
được bộ khung tán với số lượng lá chừa cao, lúc này cùng với nhiệt độ cao 25 - 30
o
C,
mật độ nhện đỏ rất cao có thể lên tới 10 con/lá, cá biệt có nơi 20 - 25 con/lá, trung bình
3 - 5,5 con/lá. Lúc này nếu thời tiết khô hạn và không được chăm sóc đúng lô chè có
thể bị “cháy”. Sang tháng 7, 8, 9 tuy nhiệt độ cao nhưng các trận mưa rào đã rửa trôi đa
số nhện hại nên mật độ nhện hại chỉ còn khoảng 0,6 - 1,1 con/lá. Mật độ nhện hại trong
các tháng 10 - 11 cao hơn các tháng mùa mưa chút ít đạt 1,0 - 2,0 con/lá. Đây có thể
được coi là 1 cao điểm phụ
. Mật độ nhện hại tiếp tục giảm dần trong tháng 12 và đạt
bình quân 0,9 con/lá.
Mật độ nhện hại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi cây chè, các thao tác đốn,
cây che bóng, nhiệt độ, lượng mưa và các biện pháp canh tác khác. Nghiên cứu sức tăng
quần thể nhện đỏ trên 5 giống chè thấy rằng nhện đỏ có sức tăng quần thể cao và chúng
sinh trưởng mạnh trên các giống PH1, 1A, tiếp theo là các giố
ng Gia Vài, Tham vè và
Trung Du (Nguyễn Văn Đĩnh 1994).
Gièng chÌ
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
dương, Ấn Độ, Srilanka, New Zealand, Úc, Brazil, Achentina, Chi Lê, Pêru, Colômbia ,
nơi có mặt các loài cây thuộc giống cam chanh Citrus.
5.2. Phạm vi ký chủ
Gây hại trên các cây trồng như cam, quýt, bưởi, chanh Cây trong giai đoạn vườn
ươm và giai đoạn nhỏ tuổi bị hại nặng hơn giai đoạn khác.
5.3. Triệu chứng và mức độ gây hại
Nhện trưởng thành và nhện non sống ở mặt trên của lá, dùng miệng chích hút dịch
lá, t
ạo nên các vết châm nhỏ li ti màu trắng vàng. Khi mật độ cao chúng có mặt cả trên
quả, cành bánh tẻ. Khi bị hại nặng toàn bộ lá và quả có màu trắng hơi vàng, lá bị rụng,
sự phát triển của cây bị đình trệ.
5.4. Đặc điểm hình thái
Trưởng thành cái có hình ô van, màu đỏ sẫm. Lông trên lưng dài mọc trên u lông. Con
đực có cơ thể nhỏ hơn, nhưng chân con đực dài hơn. Trứng hình cầu hơi dẹt, ở giữa trứng
có cu
ống, phía trên đỉnh có vài sợi lông. Trứng thường được đẻ ở gần giữa gân chính của
mặt trên lá.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………106
a
b
c
Hỡnh 10.8. Loi Panonychus citri M. (Meyer, 1981)
a. Nhn c nhỡn t mt bờn; b. Nhn cỏi nhỡn t mt lng;
c. Lỏ qut b hi cỏc mc tng dn t trỏi qua phi
5.5. Tp quỏn sinh sng v qui lut phỏt sinh gõy hi
Nhit thớch hp cho s phỏt trin ca loi nhn hi cam chanh l 25
0
C. Nhit
trờn 35 - 40
C. 30
o
C nhn
bt u trng sm hn, s lng trng trong ngy cao hn nhng nhanh chúng kt
thỳc giai on trng. Do cú vũng i ngn hn v li tp trung nờn tuy sc sinh sn
(s lng trng) thp hn 25
o
C nhng 30
o
C nhn P. citri cú t l tng t nhiờn (r =
0,311) cao hn 25
o
C (r = 0,288).
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh ng vt hi nụng nghip 107
Tại vùng Hà Nội, sự tấn công gây hại của nhện đỏ trên các giống cam chanh có sự
khác nhau. Các loại cây cam chanh đem lại hiệu quả cao được thâm canh nhiều như cam
Canh, bưởi Diễn đều có mật độ nhện và tỷ lệ hại cao (Nguyễn Thị Thuỷ, 2003).
Kẻ thù tự nhiện của nhện đỏ cam chanh gồm các loài côn trùng bắt mồi, chủ yếu thuộc
2 giống bọ rùa Stethorus và cánh cộc Oligota. Chúng thườ
ng xuất hiện khi mật độ nhện hại
cao. Ngoài ra còn một số loài côn trùng thuộc nhóm Cánh mạch nâu với vai trò chưa rõ
ràng. Bọ trĩ Scolothrips sexmaculatus P. được coi là loài bắt mồi quan trọng trên cam
chanh ở California (McMurtry và ctv., 1970)
Các loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae phổ biến thuộc giống Amblyseius gồm 6 loài có
khả năng kìm hãm nhện hại, ngay cả khi mật độ của chúng còn thấp 1 - 3 con/lá. Loài nhện
hại cam chanh ở vùng nóng ẩm còn bị nấm thuộc giố
ng Entomopthora và 1 loại bệnh virus
tấn công khá mạnh.
5.6. Biện pháp phòng chống
Nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Nam Phi, Úc chỉ ra rằng
6.3. Triu chng v mc gõy hi
C trng thnh v nhn non tp trung chớch hỳt dch v qu, lm cho v qu bin
mu, chuyn sang mu xn, mu xi mng hoc mu nõu en, thng c gi l
rỏm/nỏm qu. Triu chng hi in hỡnh l khi qu ln, v
qu cú mu xỏm bc,
mt mu xanh hoc vng c trng, ton b v qu hay mt din ln phớa di qu cú
mu thõm hi nõu hoc thõm en, lm gim ỏng k giỏ tr thng phm. Nu b hi t
lỳc qu nh, qu khụng ln c, cú khi b khụ ột v rng. Nhng qu b hi thng
tp trung ch rm rp trong tỏn lỏ v l ni ớt ỏnh sỏng. Hin tng rỏm qu do nhn
rỏm vng nhiu hn l do nhn trng (Nguyn Vn nh, 1994).
Mt di lỏ khi b hi thng cú mu nõu hi en hoc hi vng. Cnh nh mu nõu
hi tớm hoc thõm en.
6.4. c im hỡnh thỏi
Nhn rỏm vng (NRV) Phyllocoptruta oleivora A. cú kớch thc c th rt nh, mu
vng, khụng nhỡn thy bng mt thng. C th cú hỡnh c c rt v hi dt, di 150 - 170
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh ng vt hi nụng nghip 109
µm. Có 2 đôi chân hướng về phía trước. Vuốt bàn chân có 5 lông. Trứng hình cầu, mầu
trắng hơi vàng, trứng được đẻ rải rác trên quả hoặc gần gân chính lá. Nhện non có 2 tuổi.
Xác lột màu trắng, khi nhiều tạo nên đám trắng bạc.
Hình 10.10. Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora A. (Meyer, 1981)
a. Nhìn từ mặt lưng; b. Nhìn từ mặt bên; c. Quả cam bên trái bị hại nặng, quả bên phải bình thường
6.5. Tập quán sinh sống và qui luật phát sinh gây hại
Nhện rám vàng có thời gian các pha phát triển ngắn. Tại nhiệt độ 30
o
C thời gian phát
triển của các pha ngắn hơn ở 25
o
C (bảng 8.6). Jeppson và ctv. (1975) và Meyer (1981) cho
rằng: thời gian phát triển của nhện non tuổi 1 ở 32
Trứng 60 93,33
4,88 ± 0,21
60 98,3
3,68 ± 0,04
Tuổi 1 56 94,64
3,96 ± 0,15
59 96,61
2,14 ± 0,03
Tuổi 2 53 98,11
3,84 ± 0,15
57 89,47
1,57 ± 0,03
Vòng đời 36 -
13,88 ± 0,22
33 -
8,24 ± 0,21
Đời/(tuổi thọ)
- Đực
15 -
20,40 ± 1,10
16 -
13,41 ± 0,95
- Cái 16 -
25,07 ± 1,32
33 -
17,50 ± 0,89
c
b
a
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………110
Tại Hng Yên, tỷ lệ hại và chỉ số hại do nhện rám vàng gây nên trên quả quất là khác
nhau đáng kể giữa trong vờn nhà và ở ngoài đồng, trong vờn nhà cao hơn ở ngoài đồng.
Các tuổi cam khác nhau tỷ lệ hại và chỉ số hại khác nhau rõ rệt, tuổi càng cao chỉ số hại
và tỷ lệ hại càng cao (bảng 10.7).
Bảng 10.7. Tỷ lệ quả bị rám và chỉ số quả rám trên cây cam 7, 15 và 25 năm tuổi
tại Tân Quang, Mỹ Văn, Hng Yên
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh ng vt hi nụng nghip 112
Tui cõy (nm) T l qu rỏm (%) Ch s qu rỏm (%)
7 34,5 11,63a
15 58,12 26,54b
25 77 31,74c
n = 1000; a, b, c - khác chữ là sai khác đáng kể ở 95%.
Tỷ lệ và chỉ số quả rám bên trong tán cây cao hơn hẳn bên ngoài rìa tán cây.
6.6. Biện pháp phòng chống
p dng bin phỏp IPM trong ú chỳ ý cỏc im sau õy:
- Ta to tỏn thụng thoỏng v bún phõn cõn i;
- Ti phun s lm gim mt nhn hi;
- S dng thuc tr dch hi trờn cam chanh mt cỏch chn lc trỏnh phun cỏc loi
thuc quỏ c i vi thiờn ch ca nhn hi.
Khi ỏp dng cỏc loi thuc hoỏ hc cn chỳ ý: phun t u 2 mt lỏ v qu vi lng
n
c thuc 800 lớt/ha. nhng ni t l hi cao trong cỏc nm trc nờn tin hnh phun 2
ln thuc tr nhn rỏm vng vo cỏc thi im khi hoa n xong v qu cú ng kớnh 1 - 2
cm. Cỏc loi thuc cú th s dng l Pegasus, Nissorun, Comite, Ortus v Danitol.
Mt s ni trờn th gii vn s dng Zineb tr nhn rỏm vng kt hp vi phũng tr
nm bnh. Tuy nhiờn t nhng nm 1975, Jeppson v ctv. ó c
p ti hin tng nhn
rỏm vng khỏng Zineb M v Israel.
7. NHN LễNG NHUNG HI NHN VI Eriophyes litchii Keifer. Họ Eriophyidae
7.1. Phõn b
xuân. Nhện trưởng thành di chuyển đến các chồi non nhờ gió, bám vào côn trùng hoặc tự
di chuyển đến lộc non. Nhện đẻ trứng từng qu
ả rải rác trên các lá non, quả non và nụ hoa.
Thời gian phát dục của trứng 2,5 ngày, nhện non tuổi 1 là 2 - 3 ngày, nhện non tuổi 2 là 6
ngày, thời gian trưởng thành trước đẻ trứng là 1,5 ngày. Vòng đời 13 - 19 ngày. Đỉnh cao
mật độ nhện thường xuất hiện trùng với đợt ra lộc xuân rộ của cây vải, tuy nhiên nhiệt độ
cao kèm theo độ ẩm cao và mưa lớn là những điều kiện không thuận lợi đối với sự phát
triển quần th
ể nhện.
7.6. Biện pháp phòng chống
Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cần sử dụng, chủ yếu gồm:
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………114
- Vệ sinh: ngắt bỏ những lá, cành lộc bị lông nhung ra khỏi vườn trước khi lông nhung
chuyển sang màu vàng nâu.
- Bón phân cân đối, giảm tới mức thấp nhất việc sử dụng thuốc trừ dịch hại vì chúng
có thể tiêu diệt kẻ thù tự nhiên của nhện lông nhung.
- Khi phun thuốc cần phun đúng lúc lộc non đang nhú. Một số thuốc hoá học có thể sử
dụng hiện nay gồm Pegasus 0,1%; Ortus 3SC 0,1%; Regent 0,1% với liều l
ượng 600 - 800
lít/ha. Chú ý phun ướt đều 2 mặt lá, nhất là mặt dưới lá lộc.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Nhện đỏ hại cam chanh Panonychus citri và biện pháp phòng chống?
2. Nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae và biện pháp phòng chống?
3. Nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus và biện pháp phòng chống?
4. Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora và biện pháp phòng chống?
5. Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus và biện pháp phòng chống?
6. Nhện lông nhung Eriophyes litchii và biện pháp phòng chống?
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………115
Phần C
Chuét HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHỀNG CHỐNG
Thiệt hại kinh tế lớn nhất là đối với nghề trồng lúa. Chỉ tính riêng ở châu Á, thiệt hại
do chuột trên ruộng lúa ước tính nuôi đủ 200 triệu người (Singleton và CTV, 2003).
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………116
Tại Ấn Độ, Hart (2001) tính rằng tổng thiệt hại đối với cây lấy hạt ở ngoài đồng là
25%, sau thu hoạch là 25 - 30% tương đương 5 tỷ đô la Mỹ/năm, các loại cây trồng bị tấn
công nghiêm trong gồm: lúa (1,1 - 44,5%), dừa 4,5 - 55%), ca cao (30 - 50%), cọ dừa (11,2
- 57,3%), mía (2,1 - 31,0%). Trên thế giới có 10 loài chuột hại quan trọng đối với cây trồng
(bảng 11.1)
Bảng 11.1. Các loài chuột hại quan trọng trên thế giới
TT Loài chuột hại Nơi gây hại Cây trồng
1 Sigmodon hispidus Trung và Nam châu Mỹ Lúa, mía, bông
2 Arvicanthis niloticus,
Mastomus (Praomys) natalensis
Cận Sahara Cây lương thực
3 Meriones spp. Bắc Phi và Trung Cận Đông Cây có hạt
4 Bandicota bengalensis Tiểu lục địa ấn Độ, Đông Nam á Mía, Cây có hạt, cây
lương thực
5 Rattus argentiventer Đông Nam á Lúa (cọ dầu)
6 Rattus rattus, R. norvegicus, R. exulans Các đảo Dừa, cây lương thực
* Còn phải kể đến R. flavipectus ở Nam Trung Quốc và Đông Dương (dẫn theo Alan P. Buckle, 1999)
Đối với nước ta, nạn chuột khuy khá phổ biến ở vùng trung du miền núi. Vụ mùa năm
1953, chúng phá lúa nương, lúa ruộng ở Bắc Cạn, Hà Giang, một số vùng ở Tây Bắc làm
thất thu tới 60% sản lượng, có năm tới 100% và được gọi là “giặc hoặc nạn giặc”. Trong
các năm 1962, 1963 tại nhiều vùng ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá chuột phá hại
làm thất thu 50% sản lượng lúa (Lê Vũ Khôi và CTV, 1979).
Chuột gây hại mạnh trên lúa t
ại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) suốt từ năm 1991
đến nay. Chỉ tính riêng Vụ Đông xuân 1992 - 1993 ở tỉnh Long An, có trên 10.000 ha bị
thiệt hại 10 - 30%, 4000 ha thiệt hại 50 - 100%. Đến năm 1996 diện tích bị chuột hại của
cả vùng ĐBSCL đã lên tới 130.000 ha.
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về chuột, chủ yếu liên quan tới dịch tễ học
các bệnh lan truyền từ chuột sang người. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mới đây, tổ
chức Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của Australia (ACIAR) đăng tải 2 tuyển tập
công trình về Sinh thái quản lý chuột (1999) và Sinh h
ọc và Quản lý chuột (2003) đã
tập hợp nhiều kết quả nghiên cứu mới nhất của các nước và khu vực Đông Nam châu
Á về tác hại, đặc điểm sinh học, sinh thái học, quy luật phát sinh gây hại, các biện
pháp quản lý, nhất là quản lý dựa theo các nguyên tắc sinh thái và dựa vào cộng đồng
(Singleton và CTV, 2003).
Tại Việt Nam trong thời Pháp thuộc, từ thế kỷ XIX đã có các cuộc điều tra khảo sát về
động v
ật nói chung và gặm nhấm nói riêng. Mẫu gặm nhấm đầu tiên được sưu tầm và mô
tả là loài sóc chân vàng Callosciurus flavimanus Geof. 1831 ở Đà Nẵng. Morice (1875) đã
thống kê được 3 loài chuột, 7 loài sóc và một loài nhím ở Nam Bộ. De Pousargeus (1904)
đã phân tích tư liệu của Đoàn nghiên cứu về lịch sử và động vật ở bán đảo Đông Dương từ
1879 - 1895 ghi nhận 28 loài gặm nhấm.
Nghiên cứu về chuột ở Việt Nam có thể chia làm 2 giai đoạ
n chính như sau: Giai đoạn
năm 1950-1986 chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cơ bản đặc điểm sinh học, sinh thái của
chuột hại như hang tổ, thức ăn, biến động số lượng của chuột hại, hoạt động sinh sản, phân
bố của một số loài chuột hại thường gặp ở Việt Nam (Đào Văn Tiến, 1964, 1985; Đào Văn
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………118
Tiến, Grohopskaia,1963; Đào Văn Tiến và Hoàng Trọng Cư, 1966; Đào Văn Tiến và CTV,
1966 a, 1966 b; Lê Vũ Khôi 1970, 1985, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Văn Biền 1980; Nguyễn
Minh Tâm và CTV, 1986) Cuốn "Chuột và biện pháp phòng trừ" của Lê Vũ Khôi, Vũ
Quốc Trung và Nguyễn Văn Bền (1979) đã tổng hợp khá đầy đủ kết quả nghiên cứu và các
biện pháp phòng trừ chuột hại trong giai đoạn này.
Giai đoạn 2 là từ năm 1986 đến nay, chuột gây hạ
i ngày một tăng và đã thực sự trở
thành một nguy hại lớn cho sản xuất nông nghiệp. Kể từ khi có chỉ thị của Thủ tướng
Hình 12.1. Các phần cơ thể chuột
1
2
Hình 12.2. Răng chuột cống
1. Răng cửa; 2. Răng hàm
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………120
1.1. Đầu
Trên đầu có 2 mắt, 2 tai, cơ quan miệng, quanh cơ quan miệng có râu mép. Đầu cứng
chắc do xương mặt và xương sọ hình thành. Mắt và tai khác nhau tuỳ loài và phụ thuộc vào
mức độ thích nghi của chúng đối với môi trường. Loài ăn đêm thường có mắt và tai to, râu
mép phát triển.
Răng cửa có 1 đôi hàm trên và 1 đôi hàm dưới (Hình 12.2). Điểm đặc trưng của chuột
là răng cửa phát triển liên tục.
Hình 12.3. Sự phát triển không bình thường của răng cửa hàm trên
do răng cửa hàm dưới đối diện với nó bị hỏng
Răng cửa có đặc điểm uốn cong hình lưỡi liềm và cắm sâu vào trong hàm (Hình 12.3).
Do đó áp suất lên vành răng được san đều và không ảnh hưởng tới chân răng. Răng dùng
để cắt thức ăn và chúng luôn phát triển, khoảng 10 mm/năm. Vì vậy nếu răng cửa đối diện
bị hỏ
ng, nó sẽ phát triển và tạo thành vòng răng (Hình 12.3) không có tác dụng dinh dưỡng
và có thể làm cho con vật chết. Do đó để cho răng có hiệu quả, nhóm gặm nhấm phải
“mài” răng liên tục, gặm bất cứ thứ gì chúng có thể gặm được. Răng gồm chủ yếu là chất
Đentin mềm, phía trước có bọc 1 lớp men rất cứng, vì thế răng mòn không đều, bên trong
mòn nhiều hơn bên ngoài làm cho răng có hình vát nhọn từ trong ra ngoài (Hình 12.4).
3
2
1
Có dạng tròn hoặc dạng bẹt, nhìn chung thuôn dần về phía cuối. Phía cuối đuôi có thể
có túm lông hoặc không.
1.4. Ngoại hình con đự
c và con cái
Sự phân biệt đực cái chủ yếu dựa vào số lỗ ở cuối bụng. Con đực có 2 lỗ (lỗ hậu môn
và lỗ đái sinh dục), tinh hoàn của con trưởng thành võng xuống rõ rệt. Con cái có 3 lỗ (lỗ
hậu môn, lỗ đái và lỗ âm đạo). Hai bên ngực bụng của chuột cái có 2 - 5 cặp đầu vú.
Khi còn nhỏ con đực và con cái có sự khác biệt về độ dài giữa hậu môn và lỗ đái sinh
dục: ở con đự
c dài còn ở con cái thì ngắn hơn.
1.5. Về độ tuổi
Bên ngoài có thể căn cứ vào màu lông, sự thõng xuống của hòn dái (đối với con đực)
và đầu vú (đối với con cái) để phân biệt độ tuổi một cách tương đối.
Lông ngay ngắn, mềm, đồng màu, đầu to là chuột non. Lông không đồng đều, có một
số lông dài rải rác giữa lông mềm là chuột nhỡ. Còn chuột trưởng thành con đực có hòn dái
thõng xuống, con cái có đầu vú nhô rõ, lông thô và cứng.
- Đối vớ
i chuột cái
+ Xác định trạng thái của tuyến sữa
Chuột non: Đầu vú nhỏ không thấy rõ, đầu vú bị lông phủ kín.
Chuột non đã trưởng thành về sinh dục nhưng chưa sinh sản: Đầu vú thấy rõ hơn, bầu
sữa to ra, xung quanh đầu vú chưa trụi lông, bóp đầu vú chưa có sữa tiết ra.
Chuột cái mang thai: Bụng to, bầu sữa to, ấn lên bầu sữa có sữa đặc.
Chuột cái nuôi con: Đầu vú lớn, lông xung quanh đầu vú thưa ho
ặc trụi, bầu sữa căng,
ấn tay lên bầu sữa đầu vú vươn ra, tiết ra sữa đặc và đục.
Chuột cái thôi nuôi con: Đầu vú lớn, lông xung quanh đầu vú thưa hoặc trụi, bầu sữa
không căng, ấn lên bầu sữa thì đầu vú vươn ra tiết ra sữa trong.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………123
Chuột cái thôi nuôi con một thời gian dài: Đầu vú lớn, đen, dài, xung quanh bầu vú có
+ Số lứa đã sinh ra
- Đối với chuột đực
Cơ quan sinh dục chuột đực có đôi tinh hoàn hình trứng. Phụ tinh hoàn bao lấy phần
nửa có mô mỡ bao quanh. Trong phụ tinh hoàn có các ống cuộn là nơi chứa các tinh trùng
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………124
đã chín. Ống dẫn tinh xuất phát từ phần phụ tinh hoàn đổ vào ống dẫn niệu chung, trước
chỗ ngã ba ống của đôi túi tinh đổ vào.
Chuột non: Tinh hoàn nhỏ màu trắng trong, nằm trong xoang bụng. Bìu da nhỏ, đôi khi
không rõ, chỉ lấy được tinh hoàn khi mổ chuột, ống trong phụ tinh hoàn không rõ, màu
trắng trong.
Chuột trưởng thành: Tinh hoàn lớn và nằm trong bìu da. Ống phụ tinh hoàn rõ, màu
trắng đục. Dùng kéo tách phụ tinh hoàn khỏi tinh hoàn, dùng compa đo chiều dài và chiều
rộng c
ủa tinh hoàn, chiều dài và chiều rộng của túi tinh.
Theo khoá phân loại dựa vào hình thái ngoài của Cao Văn Sung (1980), những số liệu
sau (hình 12.7) cần chú ý:
Chiều dài thân (L): Đo từ mút mũi đến giữa hậu môn, theo mặt bụng con vật.
Chiều dài đuôi (C): Đo từ giữa hậu môn đến mút đuôi, không kể túm lông đuôi nếu có
Chiều dài bàn chân sau (Pt): Đo từ gót chân sau đến đầu ngón chân dài nhất, không kể
vuốt.
Chiều dài tai (A): Đo từ bờ kẽ tai th
ấp nhất đến đỉnh cao nhất của vành tai, không kể
túm lông tai nếu có.
Cách đo chiều dài cơ thể Cách đo chiều dài đuôi Cách đo chiều bàn chân Cách đo chiều dài tai Cân khối lượng cơ thể
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………125