KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1930
Nhìn chung, văn học hợp pháp giai đoạn này có xu hướng tiến gần đến
văn học hiện đại. Ðối với các tác gia,í văn học hiện đại là một khu vườn
quyến rũ đầy những hoa thơm cỏ lạ. Phát hiện nó là một chuyện nhưng
đến với nó là một chuyện khác. Bởi vì họ "không có đủ độ sâu và độ
đúng của lý luận, không đủ học vấn để kế thừa truyền thống và tiếp thu
ảnh hưởng của văn học nước ngoài một cách hợp lý và sáng tạo" (Văn
học Việt Nam giai đoạn giao thời - Trần Ðình Hượu và Lê Chí Dũng,
trang 337). Ðối với người sáng tác, cảm xúc thẩm mỹ có thay đổi, thế
giới quan và nhân sinh quan đã khác trước, nhưng họ chưa được trang
bị chu đáo về mặt lý luận. Họ đã đến với văn học hiện đại trong sự nhận
thức chưa trọn vẹn về mọi phương diện, trong đó có cả phương diện
nghệ thuật.
2. 5. Các loại hình:
2.5.1. Truyện ngắn và tiểu thuyết:
Truyện ngắn và tiểu thuyết là hai thể loaüi đã có ở nền văn học trung
đại nhưng không được gọi tên như thế. Vào những năm cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, trước tiên là Nam bộ đã xuất hiện những tác
phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết viết bằng văn xuôi quốc ngữ, dựa theo
nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết của văn học phương Tây. Quá
trình chuyển từ truyện Nôm sang tiểu thuyết hiện đại hay từ tiểu
thuyết Hán văn sang quốc ngữ diễn ra khá phức tạp. Ðến giai đoạn này,
một số tác giả như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vẫn còn sáng tác tiểu
thuyết bằng chữ Hán, viết theo lối kết cấu chương hồi như "Giai nhân
kỳ ngộ, Trùng quan tâm sử.". Những nhà văn thuộc lực lượng trí thức
tân học đã đi từ con đường dịch thuật qua phỏng tác rồi đến sáng tác
để tạo nên những tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại. Với tư
cách máy móc cái truyền thống và hiện đại.". Hạn chế đó mang tính tất
yếu của một giai đoạn chuyển biến trong lịch sử văn học, từ phạm trù
văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại. Chính vì sự lắp ghép
nên đã xuất hiện nhiều trường hợp lối kết thúc có hậu, diễn biến theo
thời gian được xây dựng xen lẫn với hình thức kể chuyện tạo ra những
điểm thắt nút, diễn biến theo tâm lý nhân vật, câu văn biền ngẫu, đối ý,
đối thanh, lên bổng xuống trầm ra đời bên cạnh câu văn xuôi hiện đại,
v.v Nhìn chung, ở hầu khắp các phương diện của nghệ thuật, từ yếu
tố ngôn ngữ đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách hành văn, lẫn kết
cấu tác phẩm đều có sự đan xen, pha tạp như đã nói trên. Mặt khác,
truyện ngắn và tiểu thuyết bấy giờ đã chú ý đến vấn đề miêu tả thiên
nhiên nhưng vẫn còn mang hình thức sáo cổ, và đặc biệt là khuynh
hướng thuyết minh đạo đức thì ở tác giả nào cũng có. Có khi nhà văn tự
ý chen vào tác phẩm để "diễn thuyết" một bài đạo đức dài lê thê.
Những tác giả tiêu biểu của thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết ở giai
đoạn này gồm có:
Nguyễn Bá Học: Ông là một trong những nhà văn nổi tiếng đầu tiên ở
Việt Nam viết truyện ngắn phản ánh xã hội thành thị đang trên đường
tư sản hóa. Ông có 7 truyện ngắn, sáng tác trong 3 năm: "Câu chuyện
gia đình, chuyện ông Lý Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư, Dư
sinh lịch hiểm ký, Chuyện cô Chiêu Nhì, Câu chuyện một tối của người
tân hôn." Ông đã đi vào phản ánh hiện thực xã hội thực dân nửa phong
kiến, một xã hội náo động, xô bồ đầy những cạm bẫy chết người. Ðó là
cuộc sống ở thành thị. Còn ở nông thôn thì ngày càng tàn tạ, vắng lặng,
ngưng đọng với sự sụp đổ của Nho học, với những người nông dân, đặc
biệt là phụ nữ sống an phận thủ thường theo nề nếp cũ. Cũng như
nhiều tác giả khác cùng thời, ông có ước muốn "điều hòa tân cựu" "thổ
nạp Á-Âu" . Nhưng thực tế ông đã không thể hướng lý tưởng xã hội-
thẩm mỹ của mình vào việc khẳng định xã hội tư sản. Ông đã hình dung
phẩm đề cập đến cuộc đời lưu lạc, đau khổ ê chề của một người phụ nữ
con nhà nề nếp vì gia đình sa sút nên phải nhận lấy cuộc sống ba chìm
bảy nổi. Tác phẩm đã nói đến nhiều cảnh ngộ xã hội, nhiều nhân vật có
ý nghĩa. Trong một mức độ nhất định ông đã phản ánh được nhiều khía
cạnh của hiện thực xã hội đương thời, với một thái độ phê phán khá sắc
bén.
Tuy nhiên, đây là một tác phẩm còn nhiều hạn chế. Chủ đề bị tản mạn,
thiếu tập trung, kết cấu không theo thứ tự thời gian nhưng sự liên lạc
giữa các chương, đoạn không chặt chẽ, nhiều đoạn trong tác phẩm còn
chịu nhiều ảnh hưởng của tiểu thuyết kiếm hiệp.
Hoàng Ngọc Phách: Ông có một quyển tiểu thuyết duy nhất là "Tố
Tâm". Tác phẩm viết xong năm 1922, khi ông học năm cuối cùng của
trường Cao đẳng sư phạm in tại Hà Nội đầu năm 1925. "Tố Tâm" ra đời
đã gây một tiếng vang lớn trên văn đàn đương thời. Tác phẩm đã thể
hiện sự kết hợp hai yếu tố cũ và mới trong cả hai phương diện nội dung
và nghệ thuật. Ông đã để cho hai nhân vật chính Tố Tâm và Ðạm Thủy
giằng co giữa hai con đường chạy theo tình yêu tự do hay chấp nhận lễ
giáo phong kiến. Tác phẩm đã khép lại trong kết thúc bi thảm. Với "Tố
Tâm", người tuân thủ đạo đức truyền thống đã không có hạnh phúc
trong chế độ đại gia đình phong kiến, mà người muốn sống hết mình
cho tình yêu tự do cũng không thể đón nhận hạnh phúc trong tình yêu.
Cả đôi đường đều không thể trọn vẹn, con người bị lâm vào thế bế tắc.
Nguyên nhân bắt nguồn từ trạng thái lưỡng phân, giao thời của xã hội.
Có thể thấy được, ở "Tố Tâm" cái tôi tư sản được tác giả đặt bên cạnh
lễ giáo phong kiến. Tất nhiên ở vào thời đại của ông, ông chưa đủ sức
tấn công vào lễ giáo phong kiến. Ông chỉ dám nói đến cái tôi trong thế
cạnh tranh với lễ giáo phong kiến, và ông là một "trọng tài" có sự thiên
vị đối với đạo đức phong kiến, mặc dù thực tâm ông đã nghiêng về cái
2.5.2. Kịch nói và cải lương:
Kịch: Là một loại hình nghệ thuật sân khấu rất mới, có giá trị văn học,
chỉ xuất hiện từ khi có sự du nhập của nền văn hóa phương Tây. Một số
tác giả tiêu biểu thời này như Vũ Ðình Long, Nam Xương đã dùng thể
loại hoàn toàn mới mẻ này để phản ánh hiện thực xã hội đương thời.
Ðời sống của các gia đình phong kiến bị phá sản, sự hư hỏng của con
người trong xã hội tư sản, hiện tượng lai căng mất gốc Tuy nhiên, mọi
vấn đề được các tác giả đưa lên sân khấu để bóc trần sự thật, để phê
phán hay đả kích đều xuất phát từ lập trường đạo lý, nhằm củng cố nền
luân lý cổ truyền của dân tộc. Cho nên chưa thể xem nội dung đó là
hoàn toàn mới lạ. Khán giả đương thời hưởng ứng nồng nhiệt bởi
những vấn đề hãy còn xưa cũ ấy được thể hiện trong một hình thức rất
mới.
Cải lương: Cũng như kịch nói, cải lương cũng được xem là một hình
thức mới xuất hiện trong hoàn cảnh xã hội mới. Cải lương bắt nguồn từ
một hình thức văn nghệ dân gian ở Nam bộ. Cải lương thường được
viết theo các tiểu thuyết Trung Quốc ngày xưa hoặc viết theo các tiểu
thuyết, kịch của ta và Pháp. Khai thác đề tài lịch sử cải lương rất phù
hợp với thị hiếu của công chúng đương thời. Cải lương ra đời đã làm
phong phú thêm nghệ thuật của loại hình kịch hát tự sự dân tộc. Tuy
nhiên, các văn nghệ sĩ đương thời ít chú ý đến giá trị văn học của các vở
cải lương. Bấy giờ có một số vở cải lương được nổi tiếng như: Phụng
Nghi đình, xử án Bàng Quí Phi, Giọt máu chung tình, Giá trị danh dự,
Ðầu xanh có tội, Tiếng nói trái tim.
2.5.3. Thơ.
Tóm lại, những tìm tòi trong việc đổi mới về nghệ thuật và nội dung của
thơ ca hợp pháp, mặc dù chưa mang tính toàn diện, đồng bộ, mỗi
người có một hướng cách tân riêng, không mang lại sự đổi mới có tính
chất nguyên tắc thơ Việt Nam. Nhưng những việc làm đó và việc thơ
trữ tình trên văn đàn công khai tập trung vào sầu cảm, bi thương vào
thế giới bên trong của con người đã tích cực chuẩn bị cho sự ra đời của
thơ mới lãng mạn ở giai đoạn 1930-1945.
V. KẾT LUẬN CHUNG
Ở giai đoạn 1900-1930, văn học chưa làm nên những kiệt tác nhưng
không vì thế chúng ta xem nó không có vai trò quan trọng trong lịch sử
phát triển. Phải nhìn nhận đóng góp của nó đối với sự phát triển của
nền văn học nước nhà. Có nó, dòng chảy liên tục từ thế kỷ thứ X đến
nay không tắt mạch hay chia dòng.
Văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX có sự hiện diện của cả hai nền văn học
truyền thống và hiện đại, có sự pha tạp cả hai yếu tố cũ và mới, tạo nên
những giá trị trung gian. Văn học giai đoạn này đang ở thời kỳ thử
thách, nó không phong phú ở đỉnh cao mà phong phú ở khả năng phát
triển nhanh ở tính đa dạng. Ðó chính là "cái lượng" cần có cho tiến trình
hiện đại hóa văn học ở bước đầu, để dần dần về sau "lượng" sẽ biến
thành "chất" tạo nên những thành tựu rực rỡ cho văn học vào giai đoạn
30-45.