HƯỚNG DẪN KỸ NĂNG DÙNG TỪ
(TIẾNG VIỆT)
2.1- Từ Hán - Việt không có đơn vị thuần Việt tương đương.
Trong trường hợp này, chúng ta bắt buộc phải dùng từ Hán - Việt. Tránh
lối chuyển dịch nghĩa nôm na, tuỳ tiện.
Ví dụ:
Ðộc lập, tự do, bình đẳng, bác ái, cấu trúc, hàm số, ẩn số, hằng số, phế
liệu, bảo thủ, thủ môn, ảo tưởng, viễn cảnh, nội thương, ngoại thương,
nhân quyền, nhân mãn, nhân tạo v.v
Trong một số trường hợp cho phép, chúng ta có thể chuyển đổi trật tự
các yếu tố để làm giảm bớt màu sắc tiếng Hán:
Khoa trưởng ( trưởng khoa; trưởng lớp ( lớp trưởng; quân y viện viện
quân y; nội khoa ( khoa nội; ngoại khoa ( khoa ngoại v.v
2.2- Từ Hán - Việt có đơn vị thuần Việt đồng nghĩa sắc thái.
Ðây là trường hợp từ Hán - Việt và từ thuần Việt đồng nhất với nhau ở
một vài nét nghĩa, nhưng lại khác nhau ở một vài nét nghĩa nào đó hay
khác nhau về sắc thái biểu cảm, giá trị phong cách. Ðối với trường hợp
này, tuỳ vào nội dung biểu đạt, thái độ, tình cảm và phong cách ngôn
ngữ văn bản mà chúng ta dùng từ Hán - Việt hay từ thuần Việt. Ðể diễn
đạt sắc thái trang trọng, trân trọng, lịch sự và trong các phong cách ngôn
ngữ mang tính văn hoá cao, chúng ta dùng từ Hán - Việt. Ðể diễn đạt sắc
thái thân mật, suồng sã và trong khẩu ngữ tự nhiên, chúng ta dùng từ
thuần Việt.
So sánh:
Tạ thế, hi sinh, từ trần - Mất, chết, ngủm, bỏ mạng
Tử thi - Xác chết, thây ma.
Chiến sĩ, binh sĩ - Lính.
Phu nhân - Vợ.
Sinh - Ðẻ.
trục này. Một từ có ý nghĩa là nhờ vào những thế đối lập trên hai trục lựa
chọn và kết hợp. Cũng từ đó, giáo viên mới đưa ra được những phương
pháp sửa chữa lỗi dùng từ của học sinh, với mục đích giúp họ hiểu đúng,
viết đúng và nói đúng 3. Do đó có thể phân loại lỗi dùng từ của học
sinh, với mục đích giúp họ hiểu đúng, viết đúng và nói đúng[1][1]. Do
đó, có thể phân loại lỗi dùng từ, ngữ dựa trên cơ sở hai trục vừa nêu.
Dựa vào hai trục này, lỗi dùng từ, ngữ chia thành hai loại lớn : lỗi lựa
chọn và lỗi kết hợp. Mỗi loại lỗi được chia thành nhiều kiểu lỗi sai nhỏ
hơn, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hiện tượng sai.
2. Lỗi lựa chọn : Nói đến lỗi lựa chọn từ, chủ yếu là xét qua hai mối quan hệ :
- Giữa nội dung muốn biểu đạt với nghĩa của từ được dùng ;
- Giữa giá trị phong cách của từ được dùng với phong cách ngôn ngữ
văn bản.
Trên cơ sở đó, lỗi lựa chọn từ được chia thành ba kiểu lỗi sai nhỏ :
2.1. Chọn sai từ :
Chọn sai từ là chọn từ mà nghĩa của nó không phù hợp với nội dung
muốn biểu đạt, tức khái niệm, hành động, tính chất, trạng thái mà
người viết muốn nói đến. Nói cách khác, chọn sai từ là hiện tượng nghĩa
của từ được dùng và nội dung muốn biểu đạt có sự chênh lệch ở mức độ
này hay mức độ khác.
Xem xét các ví dụ dưới đây :
(a) và người dân là một miếng ăn của bọn chúng (bọn quan lại phong
kiến)(BVHS).
(b) Tất cả mọi hành động, suy nghĩ của mình, chị Út đều dồn vào tương
lai của đàn con(BVHS).
một cách quá đáng, vô lí. Nhưng nội dung mà học sinh muốn nói về anh
Trỗi là : ân cần chăm sóc với tất cả tình cảm thương yêu (đốivới vợ).
Hơn thế nữa, nói anh Trỗi nuông chiều vợ còn bao hàm sự phê phán.
Xem lại các ví dụ (a), (b), (c), (d) ở mục 1.1. Các từ hắt hơi, gan ruột,
đâm chĩa, câu trong các ví dụ này cũng thuộc lỗi chọn sai từ.
Chọn câu sai từ có biểu hiện khá đa dạng. Có trường hợp chỉ sai nghĩa
cơ bản. Chẳng hạn như các từ miếng ăn, dồn, dưới, xa xỉ, thác oan trong
các ví dụ vừa dẫn. Có trường hợp vừa sai nghĩa cơ bản (nghĩa biểu
niệm, nghĩa biểu vật), vừa sai cả nghĩa biểu thái (thành phần nghĩa biểu
thị thái độ đánh giá của người viết đối với đối tượng được nói đến). Ðó
là trường hợp từ hợp tác, nuông chiều đã dẫn.
Nguyên nhân chủ yếu của lỗi chọn sai từ là do học sinh hiểu nghĩa của
từ một cách lơ mờ, thiếu chính xác, hay do nhầm lẫn nghĩa của từ này
với nghĩa của từ khác.