Han Yong-Un và Hàn Mặc Tử:
"Thơ ca của niềm im lặng"
Ánh sáng lạ nhất trong thơ ca tiền bán thế kỷ hai mươi ở bán đảo Triều Tiên là
HAN YONG-UN (1879-1944) và ở bán đảo Đông Dương là HÀN MẶC TỬ (1912-
1940).
Thơ ca của họ vừa sâu thẳm những tố chất truyền thống Đông Á vừa dậy lên những
làn sóng mới bất ngờ đến kinh ngạc.
Thoạt nhìn, Han Yong-Un (Hàn Long Vân) và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ rất khác
biệt ngoài yếu tố vừa kể trên.
Song, khi đặt thơ họ bên nhau thì trong ánh sáng tương chiếu, ta sẽ khám phá ra
những điệu thơ đồng dạng.
Sự đồng điệu lớn nhất của họ thể hiện ở “niềm im lặng” trong thơ.
Thơ của họ là một thứ ngôn ngữ đang tìm kiếm niềm im lặng.
Phong trào Thơ Mới của hai xứ (Hàn và Việt) có nhiều tài năng. Đương thời họ nổi
bật hơn hai nhà thơ họ Hàn mà ta đang đối chiếu.
Nhưng rồi ta biết, bây giờ và tương lai, hai cái bóng của Hàn Long Vân và Hàn
Mặc Tử ngày càng lớn dậy trong nền thơ ca Đông Á.
Niềm im lặng trong thơ họ tỏa sáng. Đó là niềm im lặng tạo nên ý nghĩa (a kind of
silence of signification) nói theo Roland Barthes.
*
Han Yong-Un là một thiền sư, một chiến sĩ, học giả, nhà văn, nhà tiên tri, nhưng
trước tiên và trên hết, ông là một nhà thơ.
Ông qui y năm 1905 với pháp hiệu là Manhae (Vạn Hải).
Hàn là một trong 33 chí sĩ lãnh đạo phong trào độc lập của Hàn Quốc năm 1919
Trên đầu người là biển cả vô biên và vô lượng… Người nín lặng để mà nghe tiếng
trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lở”.
Người thơ im lặng đến mức Tử phải tự hỏi:
“Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?”
(Cuối thu)
Và nếu như Hàn Long Vân khởi đi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình
thế lịch sử của mình thì điều đó cũng không xa trường hợp Hàn Mặc Tử.
Trong bài tản văn Chiêm bao với sự thực, Tử viết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một
cách rất nhà Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống, gần cũng như xa và hư cũng
như thực…”.
Tất nhiên, tư tưởng Thiền của Hàn Long Vân và tư tưởng tôn giáo của Hàn Mặc Tử
có nhiều điều khác biệt.
Thiền của Long Vân kết hợp với tinh thần dân chủ và tự do hiện đại.
Tư tưởng tôn giáo của Tử là phối sắc của Phật, Đạo và Chúa.
Tất cả điều đó lọc qua thần trí cá nhân của hai nhà thơ, tạo nên thơ ca của niềm im
lặng.
Niềm im lặng ấy trong văn chương là một cái gì rất cũ mà cũng rất mới. Thơ
Vương Duy đời Đường, thơ văn Lý Trần ở Việt Nam…
Văn chương đương đại cũng đi đến niềm im lặng ấy theo cách thế của mình. Chẳng
thế mà Gerard Genette khi nói vềNhững niềm im lặng của Flaubert đã quả quyết rằng:
“Ngôn ngữ chỉ tự mình trở nên văn chương phải trả giá bằng cách tự mình chết đi, vì
nó phải đánh mất ý nghĩa của nó để đạt tới niềm im lặng của tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa,
cuộc đảo hoán này, cuộc xoay chuyển ngôn ngữ thành niềm im lặng này đối với chúng ta
hôm nay, là yếu tính của văn chương”
(2)
.
Nhưng im lặng cũng như chân không trong văn chương không phải là sự bất động,
cái chết hay sự trống rỗng.
Đây là một niềm im lặng mà Han Yong-Un gợi nên:
Lá ngô đồng bay lặng lờ qua không gian lặng gió – đó là dấu chân ai?
nhà thơ. Và bản thân thơ ca, người thơ, bản thân cái đẹp cũng trở thành tiêu điểm trong
cuộc hành trình của họ.
- Tình yêu của niềm im lặng
Niềm im lặng sâu thẳm nhất là cái chết. Đối với hai nhà thơ tâm linh này, cái chết
không đối lập với đời sống. Hơn nữa, trong cái chết và im lặng có đời sống và tình yêu.