"Trái đôi" Xuân Diệu - Huy
Cận với Tự lực văn đoàn Kỳ vọng của Xuân Diệu nơi Huy Cận đã được đền đáp: Lửa thiêng đã được Đời
nay cho ra mắt bạn đọc vào năm 1940 với 3000 bản, một số lượng vào loại kỷ lục thời
đó. Hơn thế nữa, Tự lực văn đoàn đã quyết định kết nạp thi sĩ họ Cù và lịch sử văn
chương Việt Nam lẽ ra biết tới thành viên thứ Chín của Tao đàn ấy nếu không có
những biến cố chính trị xảy ra gắn liền với cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II. Sự
nuối tiếc của Huy Cận vì đã không kịp trở thành thành viên chính thức của Tự lực văn
đoàn không phải đợi đến hôm nay mới được ông thổ lộ với tôi mà đã bộc lộ từ lâu ở
ngay dòng chú thích “ T.L.V.Đ” do tay ông viết bên cạnh tên mình trong tờ quảng cáo
Nhà xuất bản Đời nay in năm 1941 trong đó, ngoài các thành viên của nhóm và Huy
Cận ra còn có Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Nguyên Hồng, Nguyễn Khắc Mẫn, Đoàn Phú
Tứ, Trọng Lang, Anh Thơ (đúng ra là cô Anh Thơ), Mạnh Phú Tư cùng ảnh chân dung
của họ. Cái “tình cảm gia đình” của Tự lực dành cho chàng thi sĩ quán sông La ấy có
thể cảm nhận được rất rõ trong thư của Khái Hưng gửi Xuân Diệu ngay sau khi thi sĩ
khăn gói vào Mỹ Tho: “Anh đi Nam, chúng tôi thấy thiếu anh quá. Nói thực đấy,
không khách sáo đâu. Nhất những hôm hội họp ở nhà anh Tam (Nhất Linh - C.H.H.V)
ai ai cũng bảo: “Thiếu có Xuân Diệu”. Nhưng có người tiếp luôn: “Đã có Huy Cận ăn
hộ cả hai người”. Huy Cận, ai cũng coi như một nửa của linh hồn anh.” Rồi chính tác
giả của Tiêu Sơn Tráng Sĩ đã cùng với Nhất Linh, Thạch Lam và hoạ sĩ Nguyễn Đỗ
văn đoàn, qua ông, bản thân tôi cũng tiếc nuối cái bầu không khí văn chương lãng mạn
và gia đình ấy trong đó tập thể tồn tại cùng riêng tư, trong đó đố kỵ, “bằng mặt mà
chẳng bằng lòng” phải khiếp đảm trước triết lý “mình vì mọi người, mọi người vì mình”
trong cuộc đấu tranh đầy cam go vì một nền “văn học quốc ngữ”. “Gái có công, chồng
không phụ”, công lao gây dựng nền văn học đậm đà bản sắc dân tộc ấy chẳng những
được bạn đọc và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước ghi nhận mà còn được các nhà
cách mạng Việt Nam đánh giá rất cao. “Tự lực văn đoàn - cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng khẳng định với Huy Cận - rất có công với văn học Việt Nam thông qua đổi mới
cách viết văn nói riêng và đổi mới nền văn học nước nhà nói chung”. Vẫn theo Huy Cận,
các nhà cách mạng khác như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp… đều có cùng một nhận
định. Mặt khác, tính đến ảnh hưởng sâu rộng cũng như tổ chức chặt chẽ của nó (có tôn
chỉ, nguồn tài chính riêng, cấp giấy chứng nhận thành viên, lập giải thưởng, có cơ quan
ngôn luận và thậm chí cơ quan xuất bản), tôi cho rằng Tự lực văn đoàn xứng đáng được
nhìn nhận như “Hội Nhà văn” đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Lùi để tiến, hay như Xuân Diệu nói: "Hy sinh một tiểu đội nhưng để thắng một
trận đánh", bác tôi đành để cơ quan xuất bản có thể nói là “giáo điều” lược bỏ những
đề tặng Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo khi làm Tuyển tập Thơ của ông, miễn làm
sao thiên hạ biết Xuân Diệu vẫn ra sách đều, vẫn tiếp tục hiện diện một cách tích cực
trong cuộc đời. Tuy nhiên nếu cho rằng những lược bỏ đề tặng đã nói trên đơn thuần
là "chiến thuật", là một việc làm miễn cưỡng của Xuân Diệu thì cũng không hẳn. Còn
nhớ, cả Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đều tham gia Việt Nam Quốc dân đảng và
vì vậy về mặt chính trị là xung khắc và sau Cách mạng tháng Tám là xung đột với
một Xuân Diệu trong mặt trận Việt Minh. Trong Lời giới thiệu của Tuyển tập, Hoàng
Trung Thông viết: “Người ta thường khen anh dũng cảm đấu tranh với bọn Quốc dân
đảng bằng những bài thơ đả kích". Quả thật, bên cạnh Ngọn quốc kỳ ca ngợi nền Dân
Chủ Cộng Hoà, Xuân Diệu liên tục “ra đòn” đánh lại cái đám “Việt Quốc” (Việt Nam
Quốc dân đảng của Nguyễn Tường Tam), Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng
minh của Nguyễn Hải Thần) bằng những “Tổng bất đình công”, “Một cuộc biểu
tình”, “Vịnh cái cờ” Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là sự khởi đầu của mạch
văn “chính trị-quần chúng hoá” của một Xuân Diệu “Tôi cùng xương thịt với nhân
lịch sử trong phê bình”
(4)
. Quan điểm ấy cũng được Huy Cận, người đồng chí của ông
suốt cả cuộc đời, chia xẻ. Bản thân thi nhân họ Cù cũng tặng Nhất Linh Áo trắng,
tặng Hoàng Đạo Giấc ngủ chiều, tặng Khái Hưng Buồn đêm mưa và Tràng giang (bài
này đề tặng Trần Khánh Giư, tên thật của Khái Hưng) trong thi phẩm Lửa thiêng.
Vậy mà trong Tuyển tập Thơ Huy Cận xuất bản 1985, lời đề tặng ba thành viên trên
của Tự lực cũng không còn. Tôi có hỏi lại bố tôi về chuyện này thì không chần chừ
ông khẳng định ngay: “Với tư cách là người khởi xướng Tự lực văn đoàn, Nhất Linh
rất có công với nền văn học nước nhà. Ông là một đồng nghiệp tốt, thân ái với mọi
người. Về mặt chính trị, Nguyễn Tường Tam trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là
yêu nước theo hướng dân tuý (populiste), giai đoạn thứ hai là chọn nhầm con đường
cứu nước qua việc dựa vào Nhật để chống Pháp (như cụ Phan Bội Châu), giai đoạn
thứ ba là phản động khi dựa vào Tàu Tưởng để chống lại Việt Minh. Như vậy,
Nguyễn Tường Tam là đối lập chính trị với Xuân Diệu và Huy Cận
(5)
. Thật đáng tiếc,
con người yêu nước Nhất Linh đã đi nhầm đường để cuối cùng trở thành phản cách
mạng”. Rồi bố tôi nói thêm rằng ngay tại Đại hội Tân Trào năm 1944 Lê Đức Thọ đã
bàn với ông vận động Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đi với Việt Minh và chính
cụ Hồ Chí Minh ngay sau khi Cách mạng thành công cũng nói: “Chú quen biết
Nguyễn Trường Tam (Bác đọc nhầm Tường thành Trường) thì chú vận động anh ta đi
với Cách mạng, đi với Việt Minh thì tốt”. Nhưng những nhân vật trọng yếu ấy của
Việt Nam Quốc dân đảng đã “nguây ngẩy” từ chối vì cho rằng Việt Minh là “độc
tài”?!. Thậm chí báo Việt Nam do Khái Hưng chủ trương còn “mỉa” rằng nhà thơ
Huy Cận ngồi cô đơn ở Bắc Bộ Phủ (lúc đó Huy Cận là Bộ trưởng Canh nông) để làm
cái gì?! Suy cho cùng, có thể nôm na thế này, vợ chồng không hợp nhau thì ly dị
miễn những đứa con - tác phẩm phải được nuôi cho đến nơi đến chốn và như đã thấy,
Xuân Diệu và Huy Cận đâu bỏ rơi "đứa con tinh thần” nào của mình.
Để kết luận, Huy Cận, người bạn nối khố của Xuân Diệu và đồng nhân chứng của