Thỏ mắn đẻ một gia đình nuôi một thỏ đực cộng 2 thỏ cái sinh sản thì thường
xuyên có 15 - 25 thỏ ở các lứa tuổi cần phải nuôi. Từ một thỏ cái sinh sản, nuôi tốt
một năm cho 30 - 36 con thỏ thịt, 3 - 4 tháng tuổi cho 60 - 70kg thỏ hơi tương đương
30 - 35 kg thịt móc hàm. Vì vậy, nuôi thỏ lấy thịt là rất tốt. Thức ăn cho thỏ lại dễ kiếm
chỉ là cây cỏ, lá tự nhiên, cỏ trồng hoặc củ quả, phụ phẩm của cây trồng hoặc phụ phẩm
từ thực phẩm dùng cho con người (bã chè ).
+ Các giống thỏ.
Hiện nay có nhiều giống thỏ khác nhau. Ở nước ta đang nuôi các giống thỏ chính là
thỏ nội (thỏ dé) và thỏ nhập nội Tân Tây Lan trắng (Newzeland White)
- Thỏ nội ( thỏ Việt Nam) còn được gọi là thỏ dé có nguồn
gốc là thỏ của Pháp du nhập vào nước ta 70 - 80 năm trước đây, nay bị
pha tạp nhiều. Hiện nuôi ở trung tâm dê thỏ Sơn Tây, tỉnh Đồng Nai và
rải rác ở nhiều nơi khác. Thỏ có màu lông đen hoặc xám, mắt đen, lưng
khum, tai to hướng lên trên. Khối lượng nhỏ sơ sinh 55 - 65g/con, thỏ
trưởng thành 3,0 - 3,5kg/con. Tuổi phối giống lần đầu 5 tháng, đẻ mỗi
năm 6 - 7 lứa mỗi lứa 6 - 7 con. Thịt thơm ngon ít mỡ
- Thỏ Tân Tây Lan trắng (Newzeland White)
Nhập vào nước ta từ Hungari năm 1997 và năm 2000; Hiện nuôi ở trung tâm dê thỏ
Sơn Tây và một số tỉnh khác. Thỏ có lông màu trắng tuyền, mắt đỏ, thân dài 45cm. Khối
lượng thỏ sơ sinh 50 - 60g/con. Trưởng thành thỏ được 5 - 5,5kg/con, thỏ cái 4,5 -
5kg/con. Tuổi phối giống lần đầu 150 ngày, mỗi năm đẻ 6 - 7 lứa, mỗi lứa 6 - 8 con.
Thỏ cung cấp thịt, lông, da.
Từ hai giống thỏ thuần chủng này đã cho lai thỏ đực Tân Tây Lan với thỏ cái Việt
Nam, con lai sinh sản tốt hơn và sinh trưởng nhanh, cho nhiều thịt.
+ Chuồng lồng nuôi thỏ.
Chuồng hoặc lồng nuôi thỏ được làm bằng vật liệu dễ kiếm như tre, nứa, gỗ hoặc
có thể bằng khung sắt sàn lưới thép. Chuồng đặt gần nhà tiện lợi cho chăm sóc và ở nơi
yên tĩnh. Trong gia đình mới bắt đầu nuôi nên nuôi một gia đình thỏ gồm một thỏ đực hai
thỏ cái sinh sản, thường xuyên sẽ có 15 - 20 thỏ con ở độ tuổi khác nhau, như vậy gần 3
lồng cho thỏ bố mẹ và hai lồng nuôi chung thỏ thịt. Một số kiểu chuồng (cũi) nuôi thỏ ở
gia đình (hình 7.1). Cạnh chuồng gồm hệ thống máng ăn, máng uống tiện cho thỏ sử
trường hợp đàn thỏ con đẻ ra quá đông và nhiều đàn cùng đẻ cách nhau 1 - 2 ngày có thể
thực hiện san đàn, ghép ổ.
Thỏ mẹ chỉ nhảy vào ổ cho con bú một lần trong một ngày đêm. Sau khi thỏ con bú
xong nên giữ yên tĩnh, có thể đưa ổ đẻ chứa thỏ con ra khỏi lồng thỏ mẹ để giữ yên tĩnh
cho thỏ con. Đảm bảo giữ thức ăn và nước uống cho thỏ mẹ và đủ sữa cho con.
** Thỏ mẹ nuôi dưỡng tốt, khoẻ mạnh có thể cho phối giống ngay lần động dục
đầu tiên lúc 1- 3 ngay sau khi đẻ, thông thường nên cho phối lại vào lần động dục thứ hai
sau khi đẻ, tức là 16 – 18 ngày sau khi đẻ. Như vậy, thỏ đẻ được 6 – 7 lứa/năm. Mới nuôi thỏ
lần đầu nên cho đẻ thưa 4 – 5 lứa/năm. Thời gian sử dụng thỏ sinh sản là 3 năm.
** Thỏ con sau khi đẻ ra sinh trưởng rất nhanh. Tuần đầu thỏ con ngủ nhiều ít
hoạt động trừ khi bú sữa. Tuần thứ 2 lông bắt đầu mọc ra phủ kín mình, thỏ con mở mắt
và đi lại được. Tuần thứ 3 thỏ con ra khỏi ổ và tập ăn thức ăn cùng mẹ. Các tuần tiếp theo
đó thỏ giảm bú, ăn tăng dần thức ăn. Khi thỏ 5 - 6 tuần tuổi có thể cai sữa và cho ăn thức
ăn cứng. Lúc thỏ 8 tuần tuổi có thể phân biệt và tách nuôi riêng đực cái. Và đưa đi
chuồng khác để nuôi vỗ béo thỏ thịt hoặc bán giống.
* Vỗ béo thỏ thịt: sau khi cai sữa chuyển thỏ vào chuồng nuôi thỏ thịt. Nuôi nhốt 6
- 8 thỏ vào một ô chuồng (tốt nhất là thỏ cùng một đàn hoặc hai đàn gần ngày nhau).
Cho thỏ ăn thức ăn theo nhu cầu (thoả mãn) và uống đủ nước. Vệ sinh thức ăn nước
uống, chuồng trại sạch sẽ. Nuôi tốt lúc 3 - 4 tháng tuổi thỏ đạt 1,8 - 2,2 kg và có thể bán
thịt. Muốn nuôi lớn hơn nữa thì phải tách riêng đực cái nuôi ở các ô chuồng riêng.
Chú ý: bắt thỏ phải đúng cách, tay nắm chắc da vùng sát gáy, tay khác đỡ lấy mông
thỏ nhấc lên không được xách tai hoặc hai chân sau dốc ngược lên (hình 7.2). Thỏ con
khi bắt nắm chắc vùng giữa xương chậu và mông nhấc thỏ lên để đầu chúc xuống. Hình 7.2. Bắt thỏ đúng cách (A) và không đúng cách (B)
7.5. Chăn nuôi chim cút (nuôi cút)
Chim cun cút gọi tắt là chim cút được thuần hoá ở Nhật Bản từ thế kỉ XI. Cút nuôi
có nguồn gốc từ châu á, cút được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới để sản xuất thịt
và trứng. Hiện nay, Nhật Bản sản xuất mỗi ngày 1,5 triệu trứng cút và khoảng 1 triệu con
150 - 170g/con cá biệt có con tới 250g/con (tùy theo giống).
- Nuôi cút không đòi hỏi nhiều diện tích chuồng nuôi, thức
ăn chi phí không nhiều nhưng hiệu quả chăn nuôi cao. Mỗi ngày cho
cút trưởng thành cho ăn 20 - 23g thức ăn và cút cho một quả trứng nặng
10 - 11g cho thấy cút là loài gia cầm nuôi có năng suất tạo trứng cao.
Thịt và trứng cút có giá trị dinh dưỡng cao, dễ chế biến, cút có thể nuôi
lồng với mật độ cao phù hợp với các vùng ven thành phố, thị xã đất ở
chật hẹp.
+ Các giống chim cút.
Trên thế giới có nhiều giống chim cút khác nhau. Nuôi để phục vụ giải trí, săn bắn
có giống cút Bốp oai (Bop white); nuôi làm cảnh, nghe hót như giống Xinh Xinh
(Singing gruil); giống nuôi lấy thịt và đẻ trứng như pharaoh của Anh; Cotusnix Tatonica
của Nhật Bản, một số giống khác của Pháp, Mỹ, Philippine, Malaysia. Nhìn chung các
giống cút đều có kích thước không lớn, mỏ cút ngắn, khoẻ; cánh ngắn, tròn, yếu, có 10
lông cánh sơ cấp. Đuôi ngắn, mềm gồm 12 lông, phần lớn đều có 3 ngón chân. Chim cái
lớn hơn chim đực và màu lông cũng sặc sỡ hơn.
Ở nước ta nuôi giống cút Pharaoh (nhập vào miền Nam từ rất lâu), khối lượng
trưởng thành 180 - 200g/con. Khoảng năm 1980 nhập chim cút Pháp khối lượng to hơn
Pharaoh, trưởng thành khoảng 200 - 250g/con. Các giống cút này pha tạp trong quá trình
phát triển chăn nuôi cút.
Căn cứ vào màu sắc vỏ trứng để nhận biết độ thuần chủng của các giống cút.
Cút Pharaoh thuần vỏ trứng có màu trắng và các đốm đen nhỏ đều như đầu đinh
ghim.
Cút Anh thuần vỏ trứng có màu nâu nhạt, các đốm đen to.
Hiện nay ở các đàn cút nuôi thường nhận được trứng có nhiều màu pha trộn, đốm
đen to, nhỏ không như nhau chứng tỏ cút đã bị pha tạp ở các mức độ khác nhau.
+ Kỹ thuật chăn nuôi cút.
- Kỹ thuật nuôi cút con (1 - 25 ngày tuổi)
* Chọn cút mới nở nhanh nhẹn, khoẻ mạnh, khối lượng trung bình của giống 6 -
10g/con, lông màu vàng với các vằn đen, loại bỏ con hở rốn, khòeo chân, dị tật.