1
LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển của Việt Nam cũng như của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa
(XHCN) khác được đánh dấu bằng sự chuyển hướng trong tư tưởng,nhận thức
của các Đảng va Nhà Nước về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đường đi lên
CNXH.Ở Việt Nam,từ sau những năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 15
năm,đó thực sự chỉ là một khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của
một dân tộc,một đất nước.
Tuy nhiên,trong 15 năm đó,Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển
vượt bậc.Từ một nước nghèo đói va thiếu ăn quanh năm,luôn phải trông chờ vào
các khoản viện trợ,trợ giúp của các nước khác,Việt Nam đã trở thành một nước
xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan).Các nghành sản xuất
Công-Nông Nghiệp và Dịch Vụ đã đạt được những thành quả đáng kể,đời sống
của nhân dân được cải thiện vv...Có được sự phát triển đó,như trên đã nêu,chính
là nhờ sự đổi mới trong nhận thức,tư duy về CNXH và con đường
đi lên CNXH .Trong số những nhận thức đó,đặc biệt quan trọng,là sự đổi mới
trong nhận thức về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận nói chung cũng như sự
đánh giá lại vai trò của lợi nhuận trong công cuộc xây dựng CNXH nói riêng
.Đảng và Nhà Nước ta đã khẳng định rằng chỉ dựa trên cơ sở có những hiểu biết
đúng đắn về nguồn gốc,bản chất và vai trò của lợi nhuận thì chúng ta mới có thể
thúc đẩy nền kinh tế phát triển,sớm đưa Việt Nam hội nhập với các nước trong
khu vực và trên thế giới cũng như xây dựng thành công CNXH.
Vậy thì lợi nhuận là gì?Nguồn gốc,bản chất của lợi nhuận?Vai trò của lợi
nhuận trong việc phát triển nền kinh tế là như thế nào?Những câu hỏi nay không
phải dến bây giờ mới được đặt ra mà từ rất lâu rồi con người đã có nhiều những
quan điểm khác nhau về lợi nhuận.Từ những quan điểm của các trường phái lý
luận trước Mác cho đến những trường phái lý luận ngày nay,mỗi trường phái
đều có những luận điểm,học thuyết của mình để trả lời những câu hỏi đó.Trong
số những quan điểm đó,học thuyết của Chủ Nghĩa Mác(CN Mác),được xây
dựng trên nền tảng lý luận giá trị thặng dư(GTTD),đã giải thích được một cách
nhiều tiền,như nhận xét của Engels sau này thì
"các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn,hai tay ơm khư khư túi tiền
q báu, nhìn sang người láng giềng với con mắt ghen tỵ,đa nghi".
Do được hình thành trong một hồn cảnh lịch sử như vậy cho nên tồn bộ học
thuyết của CNTT nói chung và quan điểm về lợi nhuận nói riêng đều được xây
dựng trên cơ sở đồng nhất giá trị với tiền bạc và lấy đối tượng nghiên cứu của
Kinh Tế Chính Trị(KTCT) là lĩnh vực lưu thơng,coi KTCT "là khoa học về của
cải thương mại mà nhiệm vụ của nó là bán nhiều mua ít".Chính vì vậy,CNTT
cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thơng,do sự mua bán trao đổi mà sinh
ra.Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều ,mua rẻ bán đắt mà có.Họ cho rằng
muốn có đượclợi nhuận thì khơng có cách nào khác ngồi việc trao đổi bn
bán.
Về vai trò của lợi nhuận thì CNTT đã khẳng định rằng lợi nhuận ln là mục
tiêu của mọi hoạt động trao đổi mua bán trên thị trường.Điều này được thể hiện
qua việc một quốc gia phải ln đảm bảo xuất siêu như Thomas Mun đã viết:"
Chúng ta phải thường xun giữ vững ngun tắc là hàng năm bán cho người
nước ngồi với số lượng hàng hố lớn hơn số lượng chúng ta phải mua của
họ".Còn đối với các thương nhân thì mục tiêu của họ ln là mua rẻ bán đắt
nhằm thu được phần lợi nhuận chênh lệch.
Nhìn chung thì các quan điểm về lợi nhuận của CNTT,cũng như các quan
điểm khác của họ,chưa có được sự nhận thức,phân tích mang tính khoa học sâu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
sắc ,chưa mang tính quy luật.Tuy nhiên,các quan điểm này cũng đóng vai trò
khá quan trọng, làm tiền đề cho các học thuyết kinh tế sau này.
2/Quan điểm của trường phái Tư Sản Cổ Điển về lợi nhuận:
Có thể nói rằng,trong giai đoạn trước Mác,trường phái Tư Sản Cổ
Điển(TSCĐ) là trường phái tiến bộ nhất.Đây cũng là một trong ba trường phái
được Mác chọn làm tiền đề lý luận cho học thuyết của mình.Sở dĩ trường phái
thủ cơng,thì đã có những bước tiến đáng kể về lý luận so với phái Trọng
Nơng.Ơng khẳng định rằng khơng chỉ lao động trong nơng nghiệp mà tất cả mọi
hình thức lao động khác cũng đều tạo ra giá trị và lao động chính là thước đo
của giá trị.Dựa trên quan điểm đúng đắn về giá trị lao động,A.Smith đã đưa ra
những lý luận của mình về lợi nhuận.Ơng cho rằng phần giá trị mà người lao
động tạo ra được phân chia thành tiền lương trả cho người lao động,địa tơ trả
cho địa chủ và lợi nhuận trả cho nhà tư bản.Nói như vậy có nghĩa là nếu như ta
coi địa tơ là khoản khấu trừ thứ nhất thì lợi nhuận chính là khoản khấu trừ thứ
hai vào sản phẩm của người lao động và chúng đều có chung một nguồn gốc là
lao động khơng dược trả cơng của người lao động.Xét về mặt lượng thì địa tơ và
lợi nhuận chính là những khoản dơi ra ngồi tiền lương của người lao động còn
xét về mặt chất thì chúng phản ánh quan hệ bóc lột của tư bản và địa chủ đối với
người lao động.Ơng chỉ rõ rằng " Khi sở hữu TBCN xuất hiện,người cơng nhân
trở thành lao động làm th thì tiền lương của họ khơng phải là tồn bộ giá trị
sản phẩm lao động của họ sản xuất ra nữa,mà chỉ là một bộ phận của giá trị
đó".Ngồi ra,A.Smith cũng đã thấy được xu hướng bình qn hố tỷ suất lợi
nhuận và xu hướng tỷ suất lợi nhuận giảm sút do khối lượng tư bản đầu tư tăng
lên.
D.Ricardo đã kế thừa một cách xuất sắc những tư tưởng của A.Smith.Là
người sống trong thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng cơng nghiệp nên D.Ricardo đã
có được những điều kiện khách quan để tiếp tục phát triển học thuyết của
A.Smith.Về lợi nhuận,D.Ricardo cho rằng lợi nhuận là số còn lại ngồi tiền
lương mà nhà tư bản trả cho người cơng nhân.Tiến bộ hơn A.Smith,Ricardo
khơng những đã thấy được xu hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận bình qn
mà còn giải thích được ngun nhân của sự giảm sút là do sự vận động , biến đổi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
của thu nhập giữa ba giai cấp địa chủ,cơng nhân và nhà tư bản.Ơng giải thích
rằng do trong nơng nghiệp có tồn tại quy luật màu mỡ của đất đai ngày càng
giảm,vì vậy,giá cả của nơng phẩm sẽ ngày càng tăng lên làm cho tiền cơng của
càng tăng.Chính vì vậy,trong giai đoạn này,các nhà lý luận của giai cấp tư bản
đã ra sức xun tạc,bẻ cong những lú luận đúng đắn trước kia và đưa ra những
lý luận sai lầm nhằm giải thích các hiện tượng xã hội kể trên với mục đích che
dấu bản chất bóc lột của CNTB.Do đó
các học thuyết hình thành trong thời kỳ này nói chung và các lý luận về lợi
nhuận nói riêng khơng còn mang tính khoa học nữa.Sau đây chúng ta sẽ xem xét
một số trường phái như vậy,trên cơ sở phân tích các lý luận về lợi nhuận để thấy
rõ bản chất phi khoa học của các học thuyết này.
3/Quan điểm về lợi nhuận của trường phái Hậu Cổ Điển:
Trường phái Hậu Cổ Điển(HCĐ),mặc dù xuất hiện ngay sau trường phái
TSCĐ nhưng các nhà lý luận của trường phái HCĐ lại hồn tồn xa rời những lý
luận cuả trường phái TSCĐ.Họ rời bỏ phương pháp trừu tượng hố khoa
học,khơng đi sâu vào phân tích bản chất của sự vật,hiện tượng mà chỉ xem xét
hời hợt bên ngồi.Đặc biệt là họ đã áp dụng phương pháp tâm lý chủ quan trong
phân tích kinh tế,"coi KTCT là khoa học nghiên cứu về đạo đức xã hội".Hơn
nữa,họ lại xa rời lý thuyết về giá trị lao động và đưa ra các lý luận về giá trị ích
lợi hay giá trị các nhân tố sản xuất vv...Ta có thể thấy được điều đó qua các học
thuyết của một số đại diện tiêu biểu cho trường phái này như R.Malthus và
J.B.Say.
Đối với Malthus,trên cơ sở quan điểm sai lầm của A.Smith về giá trị,ơng đã
phát triển lên và cho rằng:"Giá trị của hàng hố do lao động mà hàng hố đó có
thể mua được bằng những chi phí để sản xuất ra nó.Các chi phí này bao gồm chi
phí về lao động sống,chi phí về lao động vật hố cộng với lợi nhuận tư bản ứng
trước".Như vậy là dựa trên quan điểm sai lầm về giá trị,Malthus đã đưa ra quan
niệm sai lầm về lợi nhuận,coi lợi nhuận"là khoản dơi ra ngồi chi phí về lao
động sống và lao động vật hố".Với quan niệm này về lợi nhuận
vơ hình chung,Malthus đã dẫn tới một cách giải thích sai lầm về nguồn gốc của
lợi nhuận,cho rằng khơng chỉ sức lao động của người cơng nhân mà cả các cơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Vi J.B.Clark,ụng ó phỏt trin lý thuyt 'ớch li gii hn' lờn thnh lý thuyt
'nng sut gii hn' v t ú a ra lý thuyt 'nng lc chu trỏch nhim' ca cỏc
nhõn t sn xut.ễng cho rng thu nhp l nng lc chu trỏch ca cỏc nhõn t
sn xut,c th l,tin lng l nng lc chu trỏch nhim ca lao ng,a tụ l
nng lc chu trỏch nhim ca t ai cũn li nhun l nng lc chu trỏch nhim
ca t bn.Núi nh vy cú ngha l li nhun,thc cht,c coi l tin lng tr
cho nh sn xut-kinh doanh.Hoc nh Alfred Marshall thỡ li coi li nhun nh
l khon tin thự lao thun tỳy cho nng khiu qun lý kinh doanh,s dng t
bn v nng lc t chc hot ng sn xut.
Nhỡn chung,cỏc quan im v li nhun ca mt s trng phỏi phi Mỏcxit k
trờn,mc dự cú mt s trng phỏi cú nhng quan im tin b,c bit l cỏc
trng phỏi trc Mỏc, nhng chỳng vn cha th cú c tớnh chớnh xỏc v
khoa hc mt cỏch trn vn.S d nh vy l vỡ cỏc quan im ny c xõy
dng trờn c s nhng lun im,hoc l cha ỳng n,chớnh xỏc hoc l sai
lm hon ton,v giỏ tr.Vỡ vy m ngay c nhng nh t tng tin b nht ca
trng phỏi TSC cng cha th xỏc nh c y v chớnh xỏc v ngun
gc v bn cht ca li nhun.Ch n khi CN Mỏc xut hin,trờn c s k tha
v phỏt trin tip tc nhng quan im ỳng n ca cỏc trng phỏi trc
ú,mi cú th gii thớch mt cỏch khoa hc,chớnh xỏc v y v ngun gc v
bn cht ca li nhun.
II/Quan im v li nhun trong hc thuyt ca Mỏc:
Nh trờn ó phõn tớch,ch n khi CN Mỏc xut hin thỡ ngun gc v bn
cht ca li nhun mi c lm sỏng t thụng qua cỏc hc thuyt kinh t ca
CN Mỏc.Da trờn vic k tha nhng t tng tin b,khoa hc ca cỏc trng
phỏi lý lun trc ú,Mỏc ó sỏng to ra hc thuyt ca mỡnh m trong ú,ni
bt v cú vai trũ nh "mt hũn ỏ tng" trong ton b hc thuyt chớnh l nhng
Với sự hình thành khái niệm CPSX,nhà tư bản đã bước đầu che dấu được sự
hình thành của giá trị thặng dư(GTTD) và tạo điều kiện để hình thành nên khái
niệm lợi nhuận.Có thể thấy rõ được điều này qua việc nghiên cứu những phân
tích của Mác về cơng thức của CFSX trên.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Trước tiên,ta hãy xen lại định nghĩa của Mác về GTTD.Theo Mác thì "giá trị
thặng dư là giá trị mới dơi ra ngồi giá trị sức lao động do cơng nhân tạo ra và bị
nhà tư bản chiếm khơng".Như vậy,theo Mác thì GTTD chính là phần lao động
khơng được trả cơng của người cơng nhân mà nhà tư bản đã chiếm đoạt,điều đó
có nghĩa là GTTD (hay chính là phần giá trị mới) dược tạo ra bởi lao động của
người cơng nhân.Nói cách khác,chính lao động của người cơng nhân và chỉ duy
nhất một mình nó là tạo ra GTTD.Lý luận về GTTD của Mác đã vạch trần bản
chất bóc lột của CNTB,chỉ rõ nguồn gốc sự giàu có của CNTB nói chung và của
nhà tư bản nói riêng chính là nhờ chiếm đoạt GTTD.
Tuy nhiên,với sự hình thành khái niệm CPSX (k=c+v) thì nguồn gốc và bản
chất bóc lột của GTTD đã bị che lấp.Ở đây,dường như phần giá trị mới được tạo
ra là do tác động của tồn bộ lượng tư bản mà nhà tư bản đã ứng ra.Có nghĩa
là,cả bộ phận tư bản bỏ vào lao động (v) và bộ phận tư bản bỏ vào TLSX (c) đều
có vai trò như nhau trong việc tạo ra phần giá trị mới,như Mác đã viết:"Bộ phận
tư bản bỏ vào lao động,khác với bộ phận tư bản bỏ vào TLSX,vào bơng hay than
chẳng hạn,ở chỗ là nó được dùng để trả tiền cho một yếu tố sản xuất khác về mặt
vật chất,chứ hồn tồn khơng phải là vì,do chức năng của nó,nó đã đóng một vai
trò khác trong q trình sáng tạo ra giá trị của hàng hố và do đó trong q trình
làm cho tư bản tăng thêm giá trị".Như vậy là,với sự hình thành khái niệm CPSX
,vơ hình chung đã xố đi sự khác nhau giữa tư bản bất biến(TBBB) và tư bản
khả biến(TBKB) trong chức năng sáng tạo ra giá trị.
Như vậy,phần giá trị mới,được tạo ra trong q trình sản xuất,nếu coi là phần
dơi ra ngồi giá trị sức lao động do người cơng nhân tạo ra thì được gọi là
GTTD còn nếu,vẫn với lượng giá trị đó,mà được đem so sánh với tồn bộ tư bản
nhuận được tạo nên từ tồn bộ phần tư bản đã tiêu dùng,đúng như Mác đã viết
:"...nhà tư bản trơng mong là tất cả các bộ phận của tư bản mà hắn ứng ra đều sẽ
đem lại lợi nhuận như nhau cả ".Từ quan niệm trên đã nảy sinh khái niệm về tỷ
suất lợi nhuận.Theo định nghĩa của Mác thì "Tỷ suất lợi nhuận (p') là tỷ số tính
theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tồn bộ tư bản ứng trước".Ta có :
p'=(m/(c+v))*100%.
Với sự xuất hiện khái niệm tỷ suất lợi nhuận,ta có thể thấy rằng,một lần nữa
bản chất bóc lột của CNTB lạiđược che dấu đi.Nếu như tỷ suất GTTD (m') đã
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
phn ỏnh c s búc lt ca nh t bn i vi cụng nhõn lm thuờ,l thc o
trỡnh búc lt ca giai cp t sn thỡ t sut li nhun,n thun,ch phn ỏnh
mc lói ca vic u t t bn,nú ch cho nh t bn bit nờn u t vo õu thỡ
cú li hn.
Trờn õy,chỳng ta ó nghiờn cu,xem xột v s hỡnh thnh ca t sut li
nhun cng nh vai trũ ca nú trong phn ỏnh mc lói ca hot ng u t.Tuy
nhiờn,t sut li nhun ch phn ỏnh trong phm vi mt nghnh sn xut,mi
nghnh cú mt t sut li nhun riờng.Cũn trong nn kinh t TBCN vi s a
dng v nghnh ngh thỡ tt yu dn ti s hỡnh thnh khỏi nim t sut li
nhun bỡnh quõn.S d hỡnh thnh khỏi nim ny l do trong nn kinh t TBCN
luụn tn ti s cnh tranh,ú l hỡnh thc u tranh gay gt gia nhng ngi
sn xut hng hoỏ da trờn ch s hu khỏc nhauv TLSX,nhm ginh git
nhng iu kin cú li nht v sn xut v tiờu th hng hoỏ.Trong nn kinh t
TBCN,do ch chim hu t nhõn TBCN cho nờn s tn ti tỡnh trng cnh
tranh l tt yu di hai dng l cnh tranh trong ni b nghnh v cnh tranh
gia cỏc nghnh.Mi hỡnh thc cnh tranh s em li mt kt qu khỏc nhau.Vi
cnh tranh trong ni b nghnh,kt qu cui cựng l lm cho t sut li nhun
ca nghnh gim xung.Cũn cnh tranh gia cỏc nghnh thỡ li dn ti s hỡnh
thnh nờn t sut li nhun bỡnh quõn.S d nh vy l do,nh ta ó bit,mi
nghnh sn xut cú mt t sut li nhun riờng rt khỏc nhau,nú ph thuc vo
quyết định.Sở dĩ như vậy vì,như trên đã phân tích,nguồn gốc của lợi nhuận chỉ
có thể xuất phát từ lao động khơng cơng của cơng nhân bị nhà tư bản chiếm đoạt
chứ khơng thể từ một nguồn gốc nào khác.Các nhà tư bản,như Mác nói,sẽ khơng
thể bóc lột lẫn nhau,bóc lột trên lưng nhau được.
Hai là, mặc dù trên thực tế,trong một số nghành,giá cả sản xuất của một hàng
hố có thể cao hơn giá trị của nó trong khi ở một số nghành khác thì giá cả sản
xuất của hàng hố lại thấp hơn giá trị của nó.Nhưng xét về tổng thể,trên phạm vi
tồn xã hội,thì tổng số giá cả sản xuất vẫn đúng bằng tổng số giá trị của tất cả
hàng hố.
Ba là,giá trị của một hàng hố biến động tăng hoặc giảm cũng sẽ kéo theo sự
biến động tương ứng của giá cả sản xuất của hàng hố đó.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
15
Nói tóm lại,Mác đã giải thích được một cách chính xác và khoa học về nguồn
gốc,bản chất của lợi nhuận cũng như các khái niệm khác liên quan tới lợi
nhuận,đặc biệt là những khái niệm về tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản
xuất.Điều này thể hiện sự tiến bộ vượt trội của học thuyết kinh tế của Mác so
với các học thuyết kinh tế khác.Hơn thế nữa, không chỉ lý giải về sự hình thành
của tỷ suất lợi nhuận bình quân mà Mác còn giải thích và chứng minh một cách
đúng đắn và khoa học về quy luật tỷ suất lợi nhuận giảm dần.Một quy luật mà
mặc dù một số nhà lý luận của trường phái TSCĐ như A.Smith hay D.Ricardo
tuy đã nhận thức được về sự hiện diện của quy luật này nhưng vẫn chưa thể giải
thích được nó một cách đúng đắn và khoa học.
Mác đã chứng minh rằng sự tồn tại của quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng
giảm dần là do sự tăng lên của TBBB so với tổng tư bản đã dẫn tới sự giảm sút
một cách tương đối của TBKB so với tổng tư bản.Kết quả là TBBB sẽ tăng lên
một cách tương đối so với TBKB và do đó làm cho tỷ suất lợi nhuận cũng giảm
dần.Sở dĩ có hiện tượng TBBB tăng lên tương đối so với TBKB,theo Mác giải
thích, là do "...sự phát triển ngày càng nhanh chóng của CNTB đã đem lại những
phương pháp sản xuất mới cho phép vẫn một số lượng công nhân như thế,vẫn
ngừng nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư cũng như khơng ngừng tăng thêm tổng
số lao động bị tư bản bóc lột.Hơn thế nữa,quy luật này còn làm cho nhà tư bản
càng tăng cường bóc lột cơng nhân tới mức tối đa nhằm kìm hãm xu hướng
giảm sút của tỷ suất lợi nhuận.Ngồi ra,nó còn làm cho cuộc tranh giành phân
chia tổng khối lượng lợi nhuận ngay trong nội bộ giai cấp tư bản cũng diễn ra
ngày càng gay gắt.
Khơng chỉ có vậy mà trong nỗ lực tìm mọi cách kìm hãm xu hướng giảm dần
của tỷ suất lợi nhuận và nhằm mục tiêu tối đa hố lợi nhuận,nhà tư bản đã đua
nhau đầu tư tư bản ra nước ngồi đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nơi có
nguồn nhân cơng giá rẻ và cấu tạo hữu cơ của tư bản thấp hơn so với các nước
phát triển.Ở các nước này,bọn tư bản ra sức vơ vét,bóc lột nhân dân các nước
thuộc địa.Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các
nước chậm tiến,giữa chính quốc và các nước thuộc địa ngày càng gay gắt.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
17
Ngồi ra,với tham vọng tăng thêm lợi nhuận để bù đắp vào chỗ giảm sút lợi
nhuận do xu hướng giảm sút lợi nhuận gây ra,nhà tư bản đã tăng cường mở rộng
quy mơ sản xuất,đẩy sức cung của thị trường vượt xa khỏi giới hạn nhu cầu của
người mua.Đây là một trong các ngun nhân dẫn tới các cuộc khủng hoảng
thừa,loại khủng hoảng đặc trưng của CNTB.
Nói tóm lại,có thể thấy rằng,quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần
khơng chỉ đơn thuần phản ánh xu hướng giảm dần của tỷ suất lợi nhuận trong xã
hội tư bản mà nó còn làm cho những mâu thuẫn nội tại của CNTB ngày càng trở
nên sâu sắc và từ đó,chỉ ra các hạn chế mang tính chất lịch sử của PTSX TBCN
.Vì vậy,việc giải thích một cách khoa học sự hình thành cũng như các tác động
của quy luật tỷ suất lợi nhuận giảm dần trong xã hội tư bản đã làm cho học
thuyết kinh tế của Mác nói riêng và tồn bộ hệ thống lý luận của Mác nói chung
tăng thêm tính khoa học và phù hợp với thời đại.Những lý luận này góp phần
làm sáng tỏ những hạn chế mang tính lịch sử của CNTB.Nó chỉ ra rằng tới một
lúc nào đó thì những mâu thuẫn nội tại của CNTB cũng như những hạn chế lịch
với chúng là hai hình thức lợi nhuận, lợi nhuận Thương nghiệp và lợi nhuận
Cơng nghiệp . Khơng phải chỉ tới CNTB thì mới tồn tại hai dạng tư bản cũng
như hai hình thái lợi nhuận này. Nhưng trong các xã hội trước CNTB thì hai
dạng tư bản này hồn tồn độc lập với nhau. Nhà tư bản sau khi sản xuất ra sản
phẩm rồi phải tự mình mang sản phẩm ra thị trường để tiêu thụ do đó tồn bộ tư
bản của họ ban đầu khơng chỉ được đầu tư vào mỗi q trình sản xuất mà còn
phải chi phí cho cả q trình bán hàng do vậy lợi nhuận của nhà tư bản Cơng
nghiệp sẽ bị giảm đáng kể.Còn tư bản Thương nghiệp trong giai đoạn này,hay
còn được gọi là Thương nghiệp cổ xưa với chức năng lưu thơng hàng hố dựa
trên cơ sở “mua rẻ, bán đắt” và vì vậy lợi nhuận Thương nghiệp lúc này thực
chất là kết quả của việc “ăn cắp và lừa đảo”. Ta có thể thấy rõ điều này qua quan
điểm của trường phái trọng thương, cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi
khơng ngang giá , cho rằng “khơng một người nào thu được lợi mà khơng làm
thiệt kẻ khác”.
Nhưng trong giai đoạn TBCN,do nhu cầu của sự chun mơn hố và hợp tác
hố thì Cơng nghiệp và Thương nghiệp hay nói rộng hơn là q trình sản xuất và
lưu thơng khơng thể tách biệt độc lập mà đã trở nên phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
19
Lúc này thì tư bản Thương nghiệp, thực chất “là một bộ phận của tư bản Cơng
nghiệp tách rời ra, phục vụ qúa trình lưu thơng hàng hố của nhà tư bản Cơng
nghiệp”. Khi đó, với sự hình thành của tư bản Thương nghiệp thì cả tư bản Cơng
nghiệp và tư bản Thương nghiệp đều thu được những lợi ích mà được thể hiện ra
là lợi nhuận Cơng nghiệp và lợi nhuận Thương nghiệp. Đối với tư bản Thương
nghiệp, mặc dù chỉ tham gia vào lĩnh vực lưu thơng, tức là chỉ tham gia vào việc
thực hiện giá trị, trong đó có giá trị thặng dư, chứ khơng hề tham gia vào q
trình sản xuất ra giá trị nhưng vẫn thu được một phần lợi nhuận. Phần lợi nhuận
này được gọi là lợi nhuận Thương nghiệp. Nếu chỉ xét tới vai trò của tư bản
Thương nghiệp là thực hiện giá trị của hàng hố mà tạm thời bỏ qua chức năng
tiếp tục q trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thơng của nó thì đúng là tư bản
thơng cho nên lợi nhuận Thương nghiệp chính là phần chênh lệch giữa giá bán
và giá mua hàng hố.Nhưng nói thế khơng có nghĩa là nhà tư bản Thươnh
nghiệp phải mua hàng hố với đúng giá trị của nó để rồi bán cao hơn giá trị
nhằm thu lợi nhuận chênh lệch. Mà thực chất thì nhà Tư bản Thương nghiệp
sẽ mua hàng hố thấp hơn giá trị và bán đúng bằng giá trị của hàng hố. Ngun
nhân của hiện tượng này là do sự hình thành một tỉ suất lợi nhuận bình qn mới
là bình qn các tỉ suất lợi nhuận của hai nghành Cơng nghiệp và Thương
nghiệp. Ta có thể thấy rõ điều này khi phân tích ví dụ sau:
Một nhà Tư bản Cơng nghiệp có một lượng tư bản là 800 với cấu tạo: 700c +
100v
với tỉ suất giá trị thặng dư: m’ = 100% => giá trị hàng hóa là: 700c + 100v + 100
= 900
Tỉ suất lợi nhuận nghành Cơng nghiệp sẽ là:
P’
CN
= 100/800 * 100% = 12,5%
Bây giờ,nếu có thêm một nhà tư bản Thương nghiệp bỏ ra 200 để mua hàng
hố =>lúc đó ta có tỉ suất lợi nhuận bình qn sẽ bằng:
100
*100% = 10%
800 + 200
Theo tỉ suất lợi nhuận chung mới này thì phần lợi nhuận Cơng nghiệp và lợi
nhuận Thương nghiệp tương ứng sẽ bằng:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
21
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi ú nh t bn Thng nghip s mua hng hoỏ t nh t bn Cụng nghip
vi giỏ thp hn giỏ tr:
Nh vy l cựng mt lỳc va cú nhng nh t bn cú nhu cu i vay li va
cú nhng nh t bn cú nhu cu cho vay. V tt yu s hỡnh thnh nờn mi quan
h tớn dng TBCN v nh t bn Cụng nghip cú t bn nhn ri s tr thnh
nh t bn cho vay.
Vy t bn cho vay "l t bn tin t m ngi ch ca nú nhng cho mt
ngi khỏc s dng trong mt thi gian nhn c mt s li no ú". c
im ni bt ca t bn cho vay l nú khụng thuc s hu ca nh t bn s
dng nú vo sn xut. Cú ngha l khi nh t bn cho vay cho ngi khỏc vay
mt lng t bn tin t l ch cho ngi ú quyn s dng lng t bn tin t
ú ch khụng cho quyn s hu lng t bn ú. Do vy m t bn cho vay
thỡ quyn s dng v quyn s hu c tỏch ri nhau, õy cng l s khỏc bit
cn bn ca t bn cho vay vi t bn Cụng nghip v t bn Thng nghip.
Nh trờn ó phõn tớch, nh t bn cho vay cho ngi khỏc s dng lng t
bn tin t nhn ri ca mỡnh khụng phi do lũng tt hay vỡ mt cỏi gỡ khỏc m
ch n thun l kim li. Chớnh vỡ vy m nh t bn i vay phi tr cho nh
t bn cho vay mt s tin no ú, khon tin ny c gi l li tc v nú dc
trớch t phn li nhun thu c ca nh t bn i vay sau khi anh ta s dng
lng t bn i vay vo quỏ trỡnh sn xut.
Vy li tc l mt phn li nhun bỡnh quõn m nh t bn i vay phi tr cho
nh t bn cho vay cn c vo mún tin m nh t bn cho vay ó a cho nh
t bn i vay s dng. Nh vy thỡ xột cho cựng ngun gc ca li tc chớnh l
phn giỏ tr thng d m nh t bn Cụng nghip chim ot ca ngi lao
ng.
Vi s hỡnh thnh ca t bn cho vay v tng ngvi nú l li tc cho vay
thỡ lỳc ny phn li nhun bỡnh quõn m cỏc nh t bn Cụng nghip v t bn
Thng nghip thu c khụng cũn thuc hon ton v h m phn li nhun
bỡnh quõn ú c chia ra thnh li tc cho vay l khon em tr cho nh t bn
cho vay, phn cũn li sau khi tr li tc c gi l thu nhp ca ch xớ nghip.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
23
24
Trong nghip v nhn gi, huy ng c cỏc ngun t bn nhn ri, Ngõn
hng tr mt khon li tc nhn gi cho cỏc khon gi. ng thi, trong nghip
v cho vay, Ngõn hng li thu mt khon li tc cho vay ca nhng ngi i
vay.V nh mi t chc kinh doanh TBCN khỏc,mi hot ng ca Ngõn hng
cng phi nhm mc tiờu em li li nhun.Chớnh vỡ vy, da trờn vic quy nh
li tc nhn gi nh hn li tc cho vay, Ngõn hng ó thu c li nhun t
hot ng kinh doanh ca mỡnh.Khon li nhun ny c gi l li nhun
Ngõn hng,nú chớnh l khon chờnh lch gia li tc cho vay v li tc nhn
gi sau khi ó tr i nhng khon chi phớ cn thit v nghip v Ngõn hng v
cng vi cỏc khon thu nhp khỏc v kinh doanh tin t.Khỏc vi li tc vn
ng theo quy lut t sut li tc gim dn, li nhun ngõn hng hot ng theo
quy lut t suõt li nhun bỡnh quõn gim dn,cú ngha l li nhun ngõn hng
ngang bng vi li nhun bỡnh quõn.
c/ a tụ T bn Ch ngha:
trờn chỳng ta ó nghiờn cu v xem xột s hỡnh thnh v xõm nhp ca
CNTB vo lnh vc Thng nghip v tớn dngv tng ng l s hỡnh thnh
nờn cỏc b phn t bn Thng nghip; t bn cho vay v t bn Ngõn hng.
n phn ny, chỳng ta s xem xột s xõm nhp ca CNTB vo trong Nụng
nghip dn ti s hỡnh thnh b phn t bn kinh doanh trong Nụng nghip v
s xut hin mt hỡnh thc mi ca li nhun l a tụ T bn Ch ngha.
Trc tiờn, ta s xem xột s xõm nhp ca PTSX TBCN vo trong Nụng
nghip. Vi s phỏt trin ca CNTB, giai cp T bn khụng ch thng tr nghnh
Cụng nghip m cũn dn dn thao tỳng c lnh vc Nụng nghip. S xõm nhp
ca CNTB vo lnh vc Nụng nghip cú th din ra theo hai cỏch sau
Mt l, trc ht vn duy trỡ v cn bn nn kinh t phong kin a ch trc
kia v sau ú thụng qua cỏc cuc ci cỏch m dn dn chuyn sang ng li
kinh t theo kiu T bn Ch ngha.
Cỏch th hai l,ngay t u, thụng qua con ng Cỏch mng T sn lt
ch kinh t phong kin c; gii phúng lc lng sn xut thoỏt khi xing
cũng bằng tổng giá trị thặng dư. Như vậy thì giai cấp tư sản kinh doanh trong
Nông nghiệp đã kiếm đâu ra phần lợi nhuận siêu ngạch để trả cho giai cấp địa
chủ dưới hình thức địa tô Tư bản Chủ nghĩa. Để trả lời câu hỏi này ta sẽ phải
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN