phần I: lời NóI đầu
Năm 1986 nớc ta tiến hành cải cách nền kinh tế, chuyển từ nền
kinh tế kế hạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lí của
nhà nớc. Có thể nói đó là mốc lớn trong lịch sử của đất nớc ta, từ đó đến nay
chúng ta đã chứng kiến bao đổi thay, bao thành tựu mà chúng ta đã đạt đợc.
Tuy nhiên để vận hành một nền kinh tế thị trờng có hiệu quả thì chung ta còn
phải nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu nhiêù nhiều khía cạnh của kinh tế thị tr-
ờng để áp dụng cho nền kinh tế nớc ta. Nớc ta muốn thực hiện chính sách
phát triển kinh tế có hiệu quả thì ngời cầm lái phải là ngời hiểu biết sâu
rộng trong công việc lắm bắt vấn đề để đa ra các phơng án tối u. các chính
sách phải hình thành từ sự hiểu biết sâu sắc những gì nó đem lại và những gì
nó gây ra trong hiện tại và tơng lai. Đứng trên tầm vi mô và vĩ mô.
Xuất phát từ nguyên tắc trên với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Nớc
ta đang chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có
sự quản lý của nhà nớc. Chúng ta mong mỏi cho quá trình phát triển triển
kinh tế thành công để đến năm 2020 nớc ta hoàn thành cuộc cách mạng công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc. Vì thế không ai khác, không phải một tổ
chức nào khác, một quốc gia nào khác có thể giúp đỡ chúng ta mà chúng ta
phải tự vận động, phải tự vơn lên, tự tìm ra con đờng phát triển kinh tế phù
hợp với điều kiện của nớc ta hiện nay. yêu cầu đặt ra là chúng ta
phải hiểu rõ những bản chất, nguồn gốc của những yếu tố bên trong
nền kinh tế thị trờng đặc biệt là lợi nhuận. Đó chính là yếu tố thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế thị trờng. Vậy thế nào là lợi nhuận ? Nguồn gốc và bản
chất của lợi nhuận là gì ? Và lợi nhuận đóng vai trò nh thế nào trong nền kinh
tế thị trờng mà ta lại có thể xem nó là yếu tố chính yếu ?
Đây là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn. Quá trình nghiên cứu nó
phải xuất phát từ các quan điểm của các học thuyết trớc Mác kết hợp với
quan điểm của Mác và thực tiễn hiện nay.
Quá trình nghiên cứu sẽ giúp ta giải đáp đợc các câu hỏi luôn đặt ra trong lý
luận cũng nh trong thực tiễn về sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp,
những biến đổi xã hội,...để thấy đợc qúa trình phát triển của Việt Nam.
tiền không ra nớc ngoài, tập trung buôn bán để Nhà nớc dễ kiểm tra, bắt buộc
các thơng nhân nớc ngoài đến buôn bán phải dùng số tiền mà họ có mua hết
số hàng mang về nớc họ,...ở giai đoạn sau họ dùng chính sách xuất siêu để có
chênh lệch, mang tiền ra nớc ngoài để thực hiện mua rẻ bán đắt...
Với những chính sách đa ra nhằm đạt đợc nh trên của các nớc t bản chỉ
mang tính chất bề mặt nông cạn. Chứng tỏ quan điểm về lợi nhuận cũng nh
kinh tế cha có chiều sâu thực chất. Chính điều này đã dẫn đến nhiều mâu
3
thuẫn trong nền kinh tế. Đòi hỏi phải thoát khỏi phơng pháp kinh nghiệm
thuần túy. Phải phân tích kinh tế xã hội với t cách là một chỉnh thể.
2. Quan điểm về lợi nhuận của trờng phái kinh tế chính trị học t
bản Cổ điển Anh
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thơng, sự hoạt động của t bản chủ yếu
là trong lĩnh vực lu thông. Do quá trình phát triển của công trờng thủ công, t
bản chuyển sang quá trình sản xuất. Lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất
đã vợt quá khả năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thơng và học
thuyết kinh tế Cổ điển xuất hiện. Các nhà kinh tế học của trờng phái này lần
đầu tiên chuyển đối tợng nghiên cứu từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản
xuất. Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và qui luật của
nền kinh tế thị trờng. Nh phạm trù lợi nhuận, địa tô,lợi tức,...Trong đó có một
số quan điểm về lợi nhuận nổi bật là quan điểm của: William Petty,
AdamSmith, David Ricardo.
a. William Petty.
William Petty không trình bày lợi nhuận của các doanh nghiệp công
nghiệp: ông trình bày hai hình thái giá trị thặng d là địa tô và lợi tức. Theo
ông, địa tô là số chênh lệch giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất. Chi
phí sản xuất bao gồm tiền lơng và giống má. Trong khái niệm về địa tô của
William Petty, một mặt ông đã đồng nhất địa tô với lợi nhuận, mặt khác, ta
có thể rút ra kết luận logic: Số chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí và
chi phí sản xuất là giá trị thặng d. Từ luận điểm này, CMác cho rằng, công
nhà kinh tế của thời kỳ công trờng thủ công còn David Ricardo là nhà t tởng
của thời đại cách mạng công nghiệp. Ông còn sử dụng phơng pháp khoa học
tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tợng hoá, đồng thời áp dụng các phơng pháp
khoa học chính xác, đặc biệt là phơng pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế
chính trị học.
Về lợi nhuận, David Ricardo cho rằng: Lợi nhuận là số còn lại ngoài
tiền lơng mà nhà t bản trả cho công nhân. ông đã thấy xu hớng giảm sút tỉ
xuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận
động, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: Địa chủ, công nhân và t bản. Ông
cho rằng do qui luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng
lên làm cho tiền lơng công nhân tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuận không
tăng. Nh vậy theo ông địa chủ là ngời có lợi, công nhân không có lợi cũng
không bị hại, còn phần nhà t bản thì có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảm xuống.
Nhng hạn chế của ông là không phân biệt đợc lợi nhuận và giá trị thặng d.
3. Quan điểm về lợi nhuận của Kene
5
Kene đợc CMác đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị cổ điển và ông
có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế. Khi phân tích phần thởng cho sự
gánh chị rủi ro nói chung. Chúng ta không tính tới các rủi ro do vỡ nợ hay
các rủi ro có bảo hiểm. Có một dạng rủi ro đặc biệt phải lu ý là rủi ro đầu t
không đợc bảo hiểm, nó phải đợc tính vào trong quá trình tính toán lợi nhuận.
Doanh thu của Công ty phụ thuộc rất lớn vào thăng trầm trong chu kỳ kinh
doanh. Do các nhà đầu t không thích các trờng hợp rủi ro nên họ đòi hỏi phải
có mức phí dự phòng rủi ro cho những đầu t không chắc chắn nhằm bù đắp
cho những rủi ro của họ.
Lợi nhuận bằng doanh thu trừ đi chi phí. Lợi nhuận kinh doanh đợc
báo cáo chủ yếu là thu nhập Công ty.
4. Học thuyết của Mac-Anghen về lợi nhuận.(HT giá trị thặng d )
Mác viết: Tôi là ngời đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao
động biểu hiện trong hàng hoá.
CMác gọi T là giá trị thặng d. Ông cũng thấy rằng mục đích của lu
thông tiền tệ với t cách là t bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị.
mục đích lu thông T - H - T
là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng d lên sự
vận động T - H - T
là không có giới hạn. Công thức này đợc Mác gọi là công
thức chung của t bản.
Vậy giá trị thặng d (m) là phần giá trị mối dôi ra ngoài ra trị sức lao
động do công nhân tạo ra bị nhà t bản chiếm đoạt. Qua đó chúng ta thấy t
bản là giá trị đem lại giá trị thặng d bằng cách bóc lột công nhân làm thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng d trong quá trình sản
xuất của t bản thì CMác đã chia t bản ralàm hai bộ phận t bản bất biến và t
bản khả biến.
Bộ phận t bản tồn tại dới hình thái t liệu sản xuất mà giá trị đợc bảo
tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lợng trong quá
trình sản xuất đợc CMác gọi là t bản bất biến ký hiệu là C.
Còn bộ phận t bản biểu hiện dới hình thức giá trị sức lao động trong
quá trình sản xuất đã tăng thêm về lợng gọi là t bản khả biến ký hiệu là V.
Nh vậy, ta thấy muốn cho t bản khả biến hoạt động đợc phải có một t
bản bất biến đã đợc ứng trớc với tỉ lệ tơng đơng. Và qua sự phân chia ta rút ra
t bản khả biến tạo ra giá trị thặng d vì nó dùng để mua sức lao động. Còn t
bản bất biến thì có vai trò gián tiếp trong việc tạo ra giá trị thặng d. Từ đây ta
có thể kết luận: Giá trị của một hàng hoá bằng giá trị t bản bất biến mà nó
chứa đựng, cộng với sự tăng thêm t bản bất biến đó (tức là giá trị thặng d đã
đợc sản xuất ra). Nó đợc biểu hiện bằng công thức:
Giá trị = C + V + m
Giá trị t liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm C.
7
ngạch.
Mác đã chỉ ra trong những giai đoạn phát triển siêu ngạch chủ nghĩa t
bản, khi kỹ thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng d tuyệt
đối bằng cách kéo daì tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao
động cần thiết hay không thay đổi. Nhng phơng pháp này còn có hạn chế về
thời gian, về thể chất và tinh thần của ngời công nhân. Sự bóc lột này đã dẫn
đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các nghiệp đoàn. Mặt khác đến giai
đoạn phát triển sản xuất bằng cơ khí, khi mà kỹ thuật phát triển cao có thể
làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà t bản dựa vào
tăng năng suất lao động để tăng giá trị thặng d và nâng cao trình độ bóc
lột.
Nhà t bản sản xuất ngày càng tăng giá trị thặng d bằng cách rút ngắn
thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài tơng ứng thời gian lao động thặng
d trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phơng pháp này gọi là ph-
ơng pháp sản xuất giá trị thặng d tơng đối, phơng pháp này không có giới
hạn.
9
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng d chỉ là sự hiểu hiện qua sảu phẩm
còn thực tế để thu đợc tiền thì sự chuyển hoá đó phải nh thế nào. Vì công
thức chung của chủ nghĩa t bản là T - H - T nên mục đích cuối cùng của nhà
t bản là thu đợc T còn giá trị thặng d chỉ là nền tảng để thu đợc T (T > T).
Mác đã giúp ta giải quyếtvấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lợng biểu hiện
giá trị thặng d đó là lợi nhuận (P).
Vậy:
Các giá trị thặng d khi đợc đem so sánh với tổng t bản ứng trớc thì
mang hình thức biến tớng thành lợi nhuận. Từ đó có thể thấy P chính là con
đẻ của tổng t bản ứng trớc: C+V
Để hiểu rõ hơn về lợi nhuận chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi
phí thực tế xã hội và chi phí sản xuất t bản chủ xuất phát từ giá trị hàng hoá:
C+V+m.
các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích
tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà t bản ở các
ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu t có lợi hơn. ở các ngành khác
nhau, sản xuất khác nhau do đó có những điều kiện khác nhau, tỷ suất lợi
nhuận khác nhau. Các nhà sản xuất chọn những điều kiện sản xuất có lợi cho
mình nhất để thu đợc nhiều lợi nhuận, các nhà t bản thì tìm nơi để đầu t thu
đợc lợi nhuận cao nhất đối với họ. C.Mác viết: Do ảnh hởng của cạnh tranh
những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỷ suất lợi nhuận
chung, đó là con số bình quân của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau.
Lợi nhuận của một t bản có một lợng nhất định thu đợc, theo tỷ suất lợi
nhuận chung đó, không kể cấu tạo hiện có nh thế nào gọi là lợi nhuận bình
quân.
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật
tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản. Sự hoạt động của quy luật tỷ
suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản biểu hiện bởi sự hoạt động của
quy luật giá trị thặng d trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa t bản.
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã
che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản. Sự hình thành P và P
không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội t bản, trái lại cạnh
tranh vẫn tiếp diễn.
11
Sự chuyển hoá từ giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất là sự che dấu
quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa của phạm trù sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ
phận hàng hoá đợc bán cao hơn giá trị của chúng, còn bộ phận khác lại bán
thấp hơn giá trị của chúng cũng theo một tỷ lệ nh thế. Chỉ có bán hàng hoá
theo những giá cả đó thì tỷ suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng
chia một phần lợi nhuận đó, một phần này gọi là lợi nhuận thơng nghiệp.
2. Lợi nhuận thơng nghiệp
Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thơng ở đó họ
cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá. Họ coi trọng
thơng nghiệp là sự lừa gạt không một ngời nào thu đợc lợi mà không làm
thiệt kẻ khác. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm và nguyên nhân của sự sai
lầm này là do họ tách rời quá trình lu thông và quá trình sản xuất ra khỏi
nhau.
Khác với t bản thơng nghiệp trớc, chủ nghĩa t bản thơng nghiệp hiện
đại thì t bản thơng nghiệp là một bộ phận của t bản công nghiệp tách rời ra
phục vụ quá trình lu thông hàng hoá của t bản công nghiệp. T bản thơng
nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không sáng tạo ra giá trị và
giá trị thặng d. Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá thặng d. Nhìn bề
ngoài lợi nhuận thơng nghiệp là do mua rẻ, bán đắt do lu thông tạo ra. Nhng
thực chất lợi nhuận thơng nghiệp là một phần giá trị thặng d đợc sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng
nghiệp. Nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng nghiệp một phần
bởi vì t bản thơng nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lu thông đó là một
khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất - tức là một khâu trong quá trình
chu chuyển của t bản, không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản xuất không
thể tiếp tục đợc. Và dĩ nhiên nhà t bản thơng nghiệp cũng không phải là hoạt
động không công đợc mà họ cũng đòi hỏi phải có lợi nhuận. Điều này bắt
buộc nhà t bản công nghiệp phải nhờng một phần lợi nhuận của mình cho t
bản thơng nghiệp. Vậy: lợi nhuận thơng nghiệp là số chênh lệch giữa giá
bán và giá mua hàng hoá.
Nhng điều đó không có nghĩa là nhà t bản thơng nghiệp bán hàng hoá
cao hơn giá trị của nó, mà là nhà t bản thơng nghiệp mua hàng hoá thấp hơn
giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Và vì nhà t bản thơng
nghiệp tham gia vào việc phân chia giá trị thặng d (m) cho nên đời sống của
xã hội t bản hai loại giá sản xuất: Giá cả sản xuất công nghiệp và giá cả sản