ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
–R—
TRẦN THỊ NGỌC DUNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA VI KHUẨN CAMPYLOBACTER
SPP. GÂY BỆNH NHIỄM TRÙNG DẠ DẦY RUỘT Ở TRẺ EM DƯỚI 5
TUỔI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2010 Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. STEPHEN BAKER TP. HỒ CHÍ MINH – 2010
1.7.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm 16
1.7.3. Điều trị 17
1.8Tình hình kháng các loại thuốc dùng để chữa bệnh nhiễm Campylobacter 18
1.8.1. Tình hình kháng kháng sinh của Campylobacter ở thế giới 18
1.8.2. Tình hình kháng kháng sinh của Campylobacter ở Việt Nam 19
1.9 Kháng sinh Fluoroquinolone 20
Trang 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
1.9.1. Lịch sử ra đời và những thay đổi về cấu trúc của các kháng sinh
họ quinolones 20
1.9.2. Phân loại 22
1.9.3. Cơ chế hoạt động 23
1.9.4. Cơ chế kháng quinolone 23
1.10 Các phương pháp phân loại Campylobacter 27
1.11 Phương pháp Multilocus sequence typing – MLST 30
1.11.1. Phương pháp MLST cho Campylobacter 30
1.11.2. Ưu điểm và khuyết điểm của phương pháp MLST so với các
phương pháp genotyping khác 32
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 33
2.1 VẬT LIỆU 33
2.1.1. Bộ sưu tập chủng 33
2.1.2. Thiết bị 34
2.1.3. Hóa chất 34
2.1.4. Môi trường 36
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.2.1. Phân lập và định danh Campylobacter 38
2.2.2. Xác định kháng sinh đồ và nồng độ ức chế tổi thiểu (MIC) của
3.6 So sánh kết quả kiểu gen của gen gyrA và bơm đẩy thuốc CmeABC
với dữ liệu vi sinh 70
3.6.1. So sánh kết quả kiểu gen của gen gyrA với dữ liệu vi sinh 70
3.6.2. Khảo sát tương quan MIC đối với kháng sinh họ FQ giữa chủng
đột biến và chủng không đột biến ở vùng trình tự 16 bp của bơm
CmeABC 72
3.7 Kết quả MLST 76
3.7.1. Kết quả khuếch đại các phân đoạn gen bên trong 7 gen giữ nhà 76
3.7.2. Kết quả phân tích dữ liệu MLST 77
4. BIỆN LUẬN 87
4.1 Đặc điểm lâm sàng của các chủng Campylobacter phân lập ở trẻ em ở
thành phố Hồ Chí Minh 87
4.2 Đặc điểm kháng kháng sinh ở Campylobacter phân lập trên trẻ em
dưới 5 tuổi ở Tp Hồ Chí Minh hiện nay 89
4.2.1. Đặc điểm kháng một số kháng sinh dùng để chữa bệnh nhiễm
Campylobacter 90
Trang 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
4.2.2. Đặc điểm kháng fluoroquinolone ở Campylobacter phân lập trên
trẻ em dưới 5 tuổi ở Tp Hồ Chí Minh hiện nay 90
4.3 Đặc điểm kiểu gen và cơ chế phân tử của sự kháng fluoroquinolone 92
4.4 Đặc điểm di truyền quần thể Campylobacter phân lập ở thành phố Hồ
Chí Minh bằng phương pháp MLST 94
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
5.1 KẾT LUẬN 98
5.2 KIẾN NGHỊ 98
này chiếm 17,63% trên tổng số 363 trường hợp do tác nhân vi khuẩn trong
1420 bệnh nhi tiêu chảy từ 06/2009 – 05/2010 (số liệu chưa công bố của Đơn
Vị Nghiên Cứu Lâm Sàng Đại Học Oxford – OUCRU). Trong khi đó, hầu hết
các nghiên cứu Campylobacter ở Việt Nam đều dừng lại ở miêu tả sự nhiễm và
tình hình kháng kháng sinh ở Campylobacter phân lập trên thịt gà. Cho đến nay
chỉ mới có một nghiên cứu duy nhất của DW Isenbarger [45] cho thấy tỉ lệ
Campylobacter phân lập từ trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam kháng với nalidixic
acid và ciprofloxacin là 7%.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu một số
đặc điểm của vi khuẩn Campylobacter gây bệnh nhiễm trùng dạ dày-ruột ở
trẻ em dưới 5 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến năm 2010”
với mục tiêu, ý nghĩa và nội dung như sau:
Ø Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhi nhiễm
Campylobacter ở thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu tình hình kháng kháng sinh
ở các chủng Campylobacter phân lập được, đặc biệt là sự kháng
fluoroquinolone, từ đó nghiên cứu cơ chế kháng fluoroquinolone, cuối cùng
xác định kiểu di truyền của các chủng Campylobacter.
Ø Ý nghĩa: Cung cấp những kiến thức cơ bản về Campylobacter phân lập
ở Việt Nam để mở đầu cho những nghiên cứu tiếp theo. Bên cạnh đó chúng tôi
Trang 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
hi vọng nghiên cứu này sẽ hỗ trợ cho việc chẩn đoán và điều trị kháng sinh
bệnh viêm dạ dày-ruột do Campylobacter ở Việt Nam hiện nay.
Ø Nội dung:
- Phân lập và định danh Campylobacter từ các mẫu phân của trẻ em dưới
5 tuổi bị tiêu chảy
- Xác định kháng sinh đồ và nồng độ ức chế tối thiểu của một số kháng
1.1 Lịch sử phát hiện Campylobacter
Campylobacter được miêu tả lần đầu tiên vào năm 1886 bởi Theodor
Escherich. Vào thời gian đó, Escherich đã miêu tả một loại vi khuẩn hình que
có trong ruột kết của các trẻ em chết bởi căn bệnh “cholera infantum” [26].
Năm 1909, hai nhà bác sĩ thú y là McFadyean và Stockman đã miêu tả
sự kết hợp của một vi sinh vật chưa biết với bệnh dịch sảy thai ở cừu cái, vi
khuẩn này giống với một phẩy khuẩn – vibrio [69]. Và vào năm 1919, trong khi
điều tra những trường hợp sảy thai truyền nhiễm ở bò ở Mỹ, Smith đã phân lập
được một vi khuẩn và ông miêu tả đó là một xoắn khuẩn – spirillum [93]. Sau
đó Smith cho rằng mình và nhóm McFadyean và Stockman đang nghiên cứu
cùng một vi khuẩn. Và cùng với Taylor, Smith đã khẳng định được điều này và
đề xuất tên của vi khuẩn đó là ‘Vibirio fetus’.
Cho đến tháng 5 năm 1938, một sự kiện lớn đã xảy ra ở Illinos (Mỹ),
bây giờ nó được xem là một trường hợp có đầy đủ tài liệu dẫn chứng đầu tiên
về sự nhiễm Campylobacter ở người. Sự kiện này liên quan đến trận dịch tiêu
chảy do sữa nhiễm Campylobacter, ảnh hưởng đến 355 người [58]. Sau đó vào
năm 1947, Vinzent đã phân lập được V. fetus từ máu của ba người phụ nữ
mang thai nhập viện vì sốt mà không rõ nguyên nhân. Bệnh kéo dài trong 4
tuần và hai trong ba người phụ nữ này bị sảy thai. Vào năm 1957, Elizabeth
King đã miêu tả một phẩy khuẩn với rất nhiều đặc điểm chung với các tác nhân
được miêu tả bởi Vinzent nhưng khác về đặc đểm sinh hóa và tính kháng
nguyên [54]. Mãi đến năm 1963 thì giống Campylobacter (nghĩa là “vi khuẩn
hình que có dạng cong”) được đề xuất bởi Sebald và Veron khi nhận ra rằng vi
sinh vật này không sử dụng đường và có hàm lượng G+C khác với Vibrio spp.
Tuy nhiên vì chưa có phương pháp nuôi cấy, phân lập Campylobacter
thích hợp cho nên có rất ít trường hợp nhiễm Campylobacter trên người được
báo cáo. Mãi cho đến năm 1972, phương pháp phân lập các loài Campylobacter
chịu nhiệt mới được phát triển bởi Dekeyser và Butzler [22]. Phương pháp này
Trang 4
Hằng năm số trường hợp nhiễm Campylobacter có khuynh huớng giảm ở
những quốc gia có cải thiện trong các qui trình công nghiệp chế biến thịt gia
cầm.
Trang 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
Ở Mỹ tỉ lệ mắc bệnh ước tính là 880 khai báo/100.000 dân, đại diện cho
2,4 tỉ trường hợp nhiễm Campylobacter xảy ra mỗi năm [29]. Tuy nhiên từ năm
1996-2004, theo CDC thì các trường hợp nhiễm Campylobacter có khuynh
hướng giảm xuống (giảm 28%) [15]. Và từ năm 2005-2008 thì tỉ lệ nhiễm
Campylobacter ước tính là không thay đổi đáng kể [108].
Ở các nước thuộc liên minh Châu Âu (gồm 25 thành viên), có 183.961
trường hợp nhiễm Campylobacter được báo cáo vào năm 2004 với tỉ lệ nhiễm
là 47,6/100.000 dân. Và đến năm 2007 thì có tới 200.507 trường hợp được báo
cáo với tỉ lệ nhiễm là 45/100.000 dân. Tỉ lệ nhiễm này thay đổi theo độ tuổi, trẻ
em dưới 5 tuổi thì nhạy cảm cao với bệnh Campylobacteriosis (120 trường
hợp/100.000 người) trong khi các độ tuổi khác thì thay đổi giữa 32 và 53
trường hợp trên 100.000 người. Hầu hết các nước thành viên đều được báo cáo
là tăng tỉ lệ nhiễm Campylobacter vào năm 2007, đặc biệt là nước Đức tăng
56% [95].
v Ở các nước đang phát triển [16]
Ở các nước nhiệt đới đang phát triển, bệnh do Campylobacter không
phải là vấn đề nghiêm trọng ở người lớn nhưng lại là bệnh dịch của trẻ em, đặc
biệt là trẻ nhỏ hơn hai tuổi [5]. Tuy nhiên, tình trạng nhiễm Campylobacter
không triệu chứng bệnh xảy ra phổ biến ở cả người lớn và trẻ em [5], [16].
Bệnh viêm dạ dày-ruột do Campylobacter ở các nước đang phát triển không
xảy ra theo mùa, tỉ lệ nhiễm Campylobacter không có sự khác biệt đáng kể
giữa các mùa trong năm.
Hải
Ai cập
Jordan
Nam Á
Bangladesh
Đông Nam Á
Thái Lan
Lào
17,7
7,7
13,8
16,5
18
9,3
9,9
12,1 9,0
5,5
17,4
13,0
12,1
1.2.2. Tình hình nhiễm Campylobacter ở Việt nam
Vào năm 1996 – 1999, nghiên cứu về Campylobacteriosis ở Việt Nam
của DW Isenbarger [45] cho thấy Campylobacter là một trong những nguyên
Chú thích: Kết quả trong bảng chưa tính tới tác nhân gây bệnh là E. coli
Các tác nhân vi khuẩn gây
tiêu chảy
Số trường
hợp
Phần trăm (%)
Campylobacter 64 17,63
Shigella 64 17,63
Salmonella 77 21,21
Các vi khuẩn đường ruột khác 16 4,41
Tổng cộng 363 25,56
Trang 8 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
Tuy nhiên, cho đến nay vì có rất ít những nghiên cứu về Campylobacter
ở Việt Nam cho nên những thông tin về tình hình nhiễm vi khuẩn
Campylobacter ở Việt Nam còn rất sơ sài, thiếu dữ liệu.
1.3 Các nguồn chứa và các con đường lan truyền Campylobacter
1.3.1. Con người
Campylobacter không phải là một trong những vi sinh vật thường được
tìm thấy trong ruột người. Tỉ lệ lây truyền giữa người và người thường thấp
[18].
Tuy nhiên, những trẻ sơ sinh được sinh ra từ những bà mẹ mà đang bài
xúc gần với chó con hay mèo con đang bị tiêu chảy [49].
1.3.3. Thực phẩm [14], [50], [51], [87], [92]
Có nhiều yếu tố nguy cơ của sự lây truyền Campylobacter đã được xác
định có liên quan đến các thực phẩm thô, thực phẩm nhiễm bẩn bao gồm sữa
chưa được tiệt trùng, thịt gia cầm, thịt heo, thịt bò thô và nước chưa được xử lý
đúng cách. Trong đó, thịt gà hay các sản phẩm thịt gà chưa nấu chín được tin là
nguồn chứa Campylobacter quan trọng gây nên hầu hết các trường hợp bệnh
rải rác ở người do Campylobacter. Các điều tra về dịch tễ học đã chứng minh
được là có một mối tương quan quan trọng giữa việc tiếp xúc và tiêu thụ thịt gà
với các trường hợp bệnh đường ruột do Campylobacter [14].
Tuy nhiên các trận dịch lớn do Campylobacter thường là do sữa không tiệt
trùng và nước chưa được xử lý.
1.3.4. Các nguồn khác
Bao gồm các yếu tố thuộc môi trường:
· Nguồn nước tự nhiên bị nhiễm bẩn [53]
· Đất [46]
Bên cạnh những nguồn chứa và các con đường lan truyền nêu ở trên, bệnh
Campylobacteriosis cũng có thể phát tán qua con đường du lịch. Do đó du lịch
đến các nước đang phát triển và sinh sống ở các nước mà Campylobacter phổ
biến là một trong các yếu tố nguy cơ gây nên bệnh tiêu chảy do
Campylobacter.
Trang 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
Hình 1.1 Các nguồn chứa và các con đường lan truyền Campylobacter
quan trọng [21]
1.4 Hình thái, cấu trúc và một số đặc điểm sinh hóa
ruột của động vật và chim. Đặc điểm sinh lý học của C. jejuni và C. coli có độ
tương đồng cao, sự khác nhau duy nhất về kiểu hình là C. jejuni cho phản ứng
thủy phân hippurate mặc dù có khoảng 5% C. jejuni không thực hiện phản ứng
này.
A B
Hình 1.2 Hình dáng của Campylobacter quan sát dưới kính hiển vi điện tử
truyền suốt (A) [105] và sau khi nhuộm Gram (B)
1.5 Phân loại
Từ khi giống Campylobacter được đề xuất vào năm 1963 bởi Sebald và
Veron và khi có sự ra đời của các quy trình phân lập thích hợp, ngày càng có
nhiều vi sinh vật giống Campylobacter (Campylobacter-like organisms -
CLOs) được phân lập từ rất nhiều nguồn như con người, động vật, môi trường.
Sau đó dần dần các vi sinh vật giống Campylobacter này được xác định là các
loài Campylobacter mới. Từ năm 1974 đến 1988 có tất cả 14 loài và dưới loài
Campyloacter được phát hiện trong các môi trường sống khác nhau và gây các
bệnh khác nhau (tổng kết bởi Vandamme và Goosens năm 1992) [99].
Trang 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
Hiện nay giống Campylobacter gồm có 18 loài và 6 dưới loài: [107]
Giới Bacteria
DUNG
1.6.2. Các biểu hiện lâm sàng
1.6.2.1. Nhiễm trùng dạ dày- ruột
Campylobacter chịu nhiệt (C. coli và C. jejuni) là hai tác nhân gây
nhiễm trùng đường ruột chủ yếu trên toàn thế giới [70]. C. jejuni gây ra 80-
85% số trường hợp viêm dạy dày-ruột do nhiễm Campyobacter và 10-15%
trường hợp là do C. coli [70]. Triệu chứng chính được quan sát là tiêu chảy.
Bệnh nhân đi tiêu ra nước, máu và có thể có các tế bào máu màu trắng hay
màng nhầy. Các triệu chứng thường gặp khác là đau bụng, có thể kèm theo nôn
mửa. Ngoài ra sốt, đau đầu, suy nhược và chán ăn là những triệu chứng có thể
xảy ra trước khi bị tiêu chảy.
Thông thường bệnh nhiễm trùng đường ruột phát triển trong vòng 2 đến
3 ngày sau khi tiêu thụ thức ăn nhiễm bẩn và các triệu chứng sẽ tự hết trong
vòng một tuần. Liệu pháp dùng thuốc ít khi được sử dụng trừ khi diễn biến
bệnh trở nên nghiêm trọng hay đối với các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch.
Bệnh có tỉ lệ tái phát cao, có thể lên đến 20% bệnh nhân nhưng các triệu chứng
bệnh thường nhẹ hơn so với lần đầu [104].
1.6.2.2. Nhiễm trùng hệ thống
Campylobacter là những vi khuẩn xâm lấn, và có thể gây ra nhiễm trùng
hệ thống. Tuy vậy, tần số nhiễm trùng máu gây nên bởi Campylobacter vẫn còn
rất thấp (0,1%) đặc biệt là khi so sánh với Salmonella.
Tỉ lệ C. fetus gây nhiễm trùng hệ thống cao hơn là các loài
Campylobacter chịu nhiệt như C. jejuni và C. coli và đây là loài
Campylobacter hầu như chỉ phân lập được ở các trường hợp nhiễm trùng hệ
thống mà không thấy ở các trường hợp nhiễm trùng ruột.
Biểu hiện của bệnh là sốt và có hiện tượng di căn một số mô như màng
trong mạch máu (gây phình mạch máu, viêm tĩnh mạch, viêm màng trong tim),
Trang 14
chứng minh bằng những đột biến không tiêm mao làm cho Campylobacter
Trang 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
không thể khu trú được trong đường ruột của các động vật thí nghiệm [36].
Ngoài vai trò giúp cho Campylobacter di động, tiêm mao còn là một kháng
nguyên có tính sinh miễn dịch mạnh trong suốt quá trình gây nhiễm [10], [72]
và quá trình tạo ra các kháng thể chống lại tiêm mao có liên quan tới quá trình
bảo vệ cơ thể chống lại bệnh [68]. Cấu trúc của tiêm mao có chứa cả những
vùng bảo tồn khá cao và những vùng hay thay đổi [62], [80], ngoài ra còn được
biến đổi glycosyl hóa sau dịch mã. Việc sử dụng thành công một tiêm mao tái
tổ hợp bao gồm những vùng bảo tồn nhất như là một vắc xin chống lại
Campylobacter trong hai mô hình chuột cho thấy tầm quan trọng của tiêm mao
trong cơ chế gây bệnh của C. jejuni [57].
b) Tính hóa hướng động
Tính hóa hướng động là khả năng nhận biết các thang nồng độ hóa chất
và có thể di chuyển qua thang nồng độ này. Cả tính di động và hóa hướng động
đều cần thiết cho sự khu trú của C. jejuni vì những đột biến mất tính hóa hướng
động làm cho C. jejuni không thể sống được trong đường ruột của các mô hình
động vật.
c) Sự bám dính và xâm lấn
Một đặc điểm quan trọng trong cơ chế gây bệnh của C. jejuni là khả
năng bám và thâm nhập vào các tế bào chủ [104]. Trong quá trình gây nhiễm,
Campylobacter di chuyển qua lớp màng nhầy bao phủ các tế bào biểu mô, bám
chặt vào các tế bào này, sau đó xâm lấn các tế bào biểu mô. Sự xâm lấn sẽ dẫn
đến sự phá hủy lớp màng nhầy và gây hiện tượng viêm mà thường được quan
sát thấy ở các trường hợp nhiễm Campylobacter. Nguyên nhân là do quá trình
xâm lấn của C. jejuni cảm ứng rất nhiều yếu tố kích hoạt quá trình viêm như
ruột do những vi khuẩn khác như Salmonella, Shigella và E.coli 0157:H7.
1.7.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm [104]
Phương pháp nuôi cấy vi sinh truyền thống luôn là tiêu chuẩn vàng trong
chẩn đoán bệnh. C. jejuni và C. coli có thể được nuôi cấy từ mẫu phân còn các
loài Campylobacter khác gồm cả C. fetus có thể được nuôi cấy từ mẫu máu.
Phân lập C. jejuni và C. coli từ mẫu phân đòi hỏi môi trường chọn lọc có
chứa kháng sinh (môi trường mCCDA có chứa cefoperazone, amphotericin B),
điều kiện vi hiếu khí và nhiệt độ ủ là 42
0
C. Kháng sinh sẽ ức chế các vi sinh vật
Trang 17 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
khác có trong đường ruột. Nuôi cấy ở 42
0
C kìm hãm sự phát triển của một số
loài Campylobacter spp. không chịu nhiệt. Nếu muốn phát hiện các loài
Campylobacter khác, các phòng thí nghiệm có thể sử dụng kĩ thuật phân lập
không chọn lọc như phương pháp lọc vì C. upsaliensis, C. hyointestinalis và C.
fetus nhạy với một số kháng sinh có trong môi trường chọn lọc và nếu sử dụng
môi trường không có kháng sinh thì các loài Campylobacter sẽ gặp sự cạnh
tranh với các vi sinh vật khác trong hệ đường ruột.
Các kỹ thuật nhanh và nhạy để phát hiện Campylobacter như phương
pháp PCR hay ELISA đang được phát triển.
1.7.3. Điều trị [13]
Ở những bệnh nhân có hệ miễn dịch tốt thì bệnh nhiễm trùng đường ruột
do Campylobacter thường tự khỏi. Nếu bệnh chỉ biểu hiện những triệu chứng
nhẹ đến trung bình thì bệnh nhân không cần uống kháng sinh chỉ cần bù nước
cephalosporins phổ rộng, meropenem,
imipenem và ampicillin.
1.8 Tình hình kháng các loại thuốc dùng để chữa bệnh nhiễm
Campylobacter
1.8.1. Tình hình kháng kháng sinh của Campylobacter ở thế giới
Tình hình kháng kháng sinh đã trở thành mối quan tâm về sức khỏe
cộng đồng ở các nước phát triển và đang phát triển trong những năm gần đây
[45], [72]. Campylobacter kháng ciprofloxacin hay các fluoroquinolone (FQ)
khác và erythromycin, chloramphenicol, gentamicin và tetracycline đã được
báo cáo [75]. Trong thập kỉ qua, tình hình kháng FQ ở Campylobacter tăng
nhanh cùng với tỉ lệ phân lập được chúng trên khắp thế giới. Ở các nước Châu
Âu có khoảng 17% - 99% các chủng Campylobacter phân lập từ người và động
vật kháng với FQ [4], [64]. Campylobacter kháng FQ cũng trở nên phổ biến ở
cả Châu Phi và Châu Á. Ở cả hai châu lục này, các mẫu phân lập lâm sàng
Campylobacter kháng FQ đã không được phát hiện vào trước năm 1991 nhưng
từ năm 1993 thì tần số các chủng Campylobacter kháng FQ đã tăng một cách
đáng kể, cụ thể là tỉ lệ kháng đã lên đến trên 80% ở Thái Lan và Hồng Kông
[64]. Tuy vậy tỉ lệ kháng FQ ở các mẫu Campylobacter phân lập ở Úc và
Newzealand vẫn còn thấp một cách đáng kể so với các vùng khác [33], [88].
Có rất nhiều nghiên cứu đã liên kết việc sử dụng FQ trong nông nghiệp
và trong thuốc thú y với sự xuất hiện và gia tăng sự kháng FQ của các chủng
Trang 19 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: TRẦN THỊ NGỌC
DUNG
Campylobacter phân lập từ các thực phẩm động vật và từ người. Từ khi bắt đầu
sử dụng họ FQ (chủ yếu là enrofloxacin) vào thức ăn của động vật vào đầu
những năm 1990 ở những nước Châu Á và Châu Âu như Thụy điển, Hà lan và
Tây ban nha thì Campylobacter kháng FQ đầu tiên ở người cũng được phân lập
kháng với nalidixic acid và ciprofloxacin đã tăng lên đến 64% đối với C. jejuni
và lên đến 100% đối với C. coli [86].
1.9 Kháng sinh Fluoroquinolone
1.9.1. Lịch sử ra đời và những thay đổi về cấu trúc của các kháng
sinh họ quinolones
Quinolones là những sản phẩm được tổng hợp dựa vào hai loại cấu trúc
vòng là nhân quinolone và nhân naphthyridone [82]. Nhân Naphthyridone có
một nguyên tử nitrogen ở vị trí thứ 8 so với nhân quinolone (Hình 1.4).
Hình 1.3 Nhân quinolone (A) và nhân naphthyridone (B) [82]
Nalidixic acid (NA) là kháng sinh thuộc họ quinolones, nhân
naphthyridone, được khám phá đầu tiên vào những năm đầu thập niên 1960, chỉ
có hoạt tính chống lại vi khuẩn Gram âm ở mức vừa phải.
Trong suốt thập niên 1980, nhiều dẫn xuất quinolones hoạt tính mạnh
hơn được tổng hợp. Những kháng sinh ra đời sau NA được cải tiến nhiều về
mặt cấu trúc nên chúng thể hiện khả năng kháng khuẩn Gram âm cao hơn, thời
gian bán hủy dài và khả năng được cơ thể hấp thu cao hơn. Norfloxacin ra đời
với cấu trúc được cải tiến gồm có một gốc fluoro ở C6, một vòng piperazin ở
C7 làm gia tăng phổ tác động đối với vi khuẩn. Norfloxacin được xem là bước
chuyển tiếp giữa các kháng sinh quinolones cũ và các kháng sinh quinolones
mới hay còn được gọi là fluoroquinolone.
Ciprofloxacin, Ofloxacin ra đời tiếp đó hoàn thiện hơn tác động kháng
khuẩn cũng như thời gian bán hủy của thuốc. Ofloxacin cũng với cấu trúc ba
vòng như norfloxacin, nhưng thay thế vòng flumequin bằng vòng morpholine.