Quan niệm về KTNN xuất hiện từ bao giờ? KTNN khác
với kinh tế quốc doanh như thế nào?
Qua sự kiện Vinashin, bạn có nhận xét gì về vai trò chủ
đạo của KTNN và thực trạng kinh doanh ngoài ngành
của các tập đoàn kinh tế?
1. Sự hình thành kinh tế nhà nước
Ở Việt Nam, sự hình thành kinh tế quốc doanh được thực hiện bằng chính sách
quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân và xây dựng mới, trong đó xây dựng mới
là chủ yếu. Đại Hội Đảng lần thứ III năm 1960 đã coi nhiệm vụ bước đầu xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ trung tâm và cấp bách.
Thực hiện đường lối đó, thời kỳ 1955 – 1975 mặc dù miền Bắc phải đáp ứng nhu
cầu to lớn cho quốc phòng song vẫn cố gắng dành một phần đáng kể ngân sách nhà
nước đầu tư xây dựng cơ bản mà chủ yếu là xây dựng kinh tế quốc doanh. Đến năm
1975 tài sản cố định của kinh tế quốc doanh ở miền Bắc đã gấp 5 lần so với năm
1960, một số khu công nghiệp lớn đã được hình thành.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài trước đổi mới ở Việt Nam, khi giải quyết
vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cách làm duy nhất và nhanh
chóng nhất là xóa bỏ các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, biến chúng thành quốc
doanh và công tư hợp doanh, nhưng thực chất là quốc doanh, sớm đưa các thành
phần tiểu sản xuất trong các ngành nghề vào các hợp tác xã để trong một thời gian
ngắn làm cho quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với hai thành phần kinh tế quốc
doanh và tập thể chiếm ưu thế tuyệt đối. Sau một thời gian, đến thời kỳ đổi mới, từ
sau đại hôi Đảng lần thứ VI năm 1986, cách làm không phù hợp ấy đã được thay
thế bằng cách làm khác, mô hình khác, mô hình phát triển một nền kinh tế nhiều
thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh
tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Đại hội Đảng lần thứ VI đánh dấu bước ngoặt mới trong đổi mới tư duy lý
luận. Đại hội khẳng định đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là nền
kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần, bao gồm: kinh tế quốc doanh; kinh tế tập thể,
kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình
thức; kinh tế sản xuất nhỏ của nông dân, thợ thủ công , người buôn bán nhỏ và kinh
Tới Đại hội Đảng lần thứ VIII, ngoài sự khẳng định rõ ràng mục tiêu vận hành nền
kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN
do Đại hội VII nêu ra, lần đầu tiên Đảng đưa ra khái niệm kinh tế nhà nước và vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: "Kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo và
cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng trong nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu
chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỷ trọng đáng kể. Kinh tế nhà nước dưới các hình
thức khác nhau tồn tại phổ biến”.
Nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là đặc trưng phổ biến của mọi nền kinh
tế thị trường. Khác nhau là ở chỗ trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, kinh tế
tư nhân nói đúng hơn là kinh tế tư bản tư nhân giữ vai trò thống trị; còn trong kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như ở nước ta, thì kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, và kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể được xây dựng và phát
triển để ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Do có sự nhầm lẫn giữa Nhà nước
và kinh tế Nhà nước nên có ý kiến cho rằng chỉ có Nhà nước mới làm chức năng
chủ đạo, chứ kinh tế Nhà nước thì không thể giữ vai trò chủ đạo được. Cũng do có
sự đồng nhất giữa doanh nghiệp Nhà nước và kinh tế Nhà nước nói chung, nên ý
kiến khác cho rằng doanh nghiệp Nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo được bởi
nó có hàng loạt những khuyết điểm và nhược điểm trong hoạt động. Thật ra, doanh
nghiệp Nhà nước là bộ phận trụ cột nhất của kinh tế Nhà nước chứ không phải là
toàn bộ kinh tế Nhà nước. Nói đến kinh tế Nhà nước thì phải nói đến tất cả các sở
hữu trong tay Nhà nước, kể cả tài nguyên, đất đai, ngân sách Nhà nước, dự trữ
quốc gia... Kinh tế Nhà nước không làm chức năng quản lý của Nhà nước nhưng
chính nó là công cụ quan trọng, là sức mạnh kinh tế mà Nhà nước nắm lấy và đưa
vào để làm chức năng quản lý của mình. Theo báo cáo Chính trị viết: "Kinh tế Nhà
nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và
là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, doanh nghiệp
Nhà nước giữ vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu
gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
Nói tóm lại, kinh tế nhà nước là công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng để định
hướng nền kinh tế lên chủ nghĩa xã hội. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, kinh tế nhà
tranh thủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành
phần kinh tế khác” đến Đại Hội Đảng lần thứ VII quan điểm về KTTT được Đảng
xác định rõ ràng hơn. Chính vì thế mà khái niệm KTNN được hình thành và sự
dụng rộng rãi. Từ đó cho thấy chắc chắn giữa hai khái niệm này có những sự khác
biệt thì mới dẫn đến quá trình hoàn thiện cho phù hợp với tiến trình phát triển. Sau
đây là một số sự khác biệt giữa KTNN và KTQD.
Kinh tế nhà nước Kinh tế quốc doanh
- Tách biệt được chức năng quản lý nhà
nước với chức năng quản lý sản xuất
kinh doanh: Nhà nước có vai trò đại diện
chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu
toàn dân, nhưng không trực tiếp kinh
doanh.
- Đồng nhất giữa chức năng quản lý và
sản xuất kinh doanh.
- Bao gồm không chỉ các doanh nghiệp
thuộc sở hữu nhà nước mà còn có cả một
số lĩnh vực khác như tài nguyên quốc
doanh (do doanh nghiệp nhà nước sử
dụng), ngân sách nhà nước và dự trữ
quốc gia…
- Chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà
nước.
- Đã tách biệt chức năng quản lý nhà nước với chức năng quản lý sản xuất –
kinh doanh của các đơn vị kinh tế, trên cơ sở có sự tách biệt tương đối giữa quyền
sở hữu và quyền quản lý kinh doanh (quyền sử dụng). Nhờ đó, đã mở đường cho
cải cách cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước và cơ chế đảm bảo thực hiện lợi
ích của chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước là Nhà nước. Xoá bao cấp, thực hiện chế
độ công ty, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động của doanh
nghiệp.
nổi; Chế tạo kết cấu dàn khoan; Thiết kế thi công công trình thuỷ, nhà máy đóng
tàu, phá dỡ tàu cũ;
- Sản xuất các loại vật liệu, thiết bị cơ khí, điện, điện lạnh, điện tử phục vụ công
nghiệp tàu thuỷ; Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị cơ khí, phụ tùng, phụ kiện tàu thuỷ
và các loại hàng hoá liên quan đến ngành công nghiệp tàu thuỷ;
- Lập dự án, chế thử, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Công nghiệp Tàu thuỷ; Tư vấn
đầu tư, chuyển giao công nghệ; Đào tạo, cung ứng xuất khẩu lao động trong ngành
công nghiệp tàu thuỷ;