1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U sọ hầu là u biểu mô vảy phát triển dọc theo phần của tuyến hầu họng,
u có tớnh chất lành tính, ngoài trục và phát triển chậm, mà phần lớn vựng yờn
và trờn yờn. Chúng thường xuất hiện ở trẻ em hoặc ở người trưởng thành,
bệnh nhân có thể có các triệu chứng trầm trọng thường phải phẫu thuật và
hoặc tia xạ, u thường tái phát tại chỗ hoặc dọc theo đường phẫu thuật. Zenker
là người đầu tiên mô tả USH năm 1857. U chiếm khoảng 3-4 % các u trong
nội sọ; 15% khối u trên lều, khoảng 50% các khối u trên yên ở trẻ em [19, 39,
50, 64].
U thường có cấu tạo bởi cấu trúc đặc, có các mảnh calci và nang dịch,
hoặc có khi đầy dịch. Đôi khi, u sọ hầu hoàn toàn dịch, hoặc hiếm khi toàn
cấu trúc đặc. Các khối u thường có nhiều dịch nhày và dính chặt vào tổ chức
xung quanh do đó khó khăn trong việc phẫu thuật cắt bỏ, mà đôi khi làm tổn
thương tổ chức lành lân cận, đặc biệt ở vùng dưới đồi. Thậm chí có thể đã
phẫu thuật cắt bỏ, u sọ hầu có thể tái phát tại chỗ, vì thế sẽ cần phẫu thuật lần
sau.
Nội dung trong khối là dịch, màu xanh đậm, chứa tinh thể cholesterol.
U sọ hầu là một khối u hiếm gặp trong toàn bộ khối u nguyờn phỏt sọ nóo. Nú
được phát hiện ở trẻ em hoặc người trẻ và hiếm khi sau 60 tuổi. Khối u phát
triển chậm, biểu hiện suy tuyến yên với trẻ suy giảm thể trạng. Điều trị khối u
phẫu thuật ngoại khoa toàn bộ là cần thiết nhưng nó không thể cắt hết vỡ cú
sự dính khối u với sàn não thất III và đường vào khó khăn và nguy hiểm về
phương diện chức năng, cắt không hết dễ tái phát. Xạ trị là một điều trị cơ bản
hoặc phối hợp, mặc dù độ nhạy cảm khối u với xạ trị kém.
Chụp cắt lớp vi tính là một bước tiến dài để chẩn đoán u vùng tuyến
yên - trờn yờn và u sọ hầu nói riêng, cho phép thấy khối u và phần nào đánh
giá bản chất khối u, tuy nhiên đõy là kỹ thuật gây nhiễm xạ cho bệnh nhân và
2
- Hình ảnh lưng yên bị ăn mòn là một dấu hiệu bất thường có ý nghĩa
bệnh lý.
- Củ yên là chỗ lồi lên của thành trước trên hố yên, ngay dưới phần lồi
uốn lượn của bờ xương bướm.
- Rãnh thị giác nằm ngay trước củ yên, trong rãnh thị giác có giao thoa
thị giác. Nằm hai bên rãnh thị giác, ngay dưới và giữa mỏm yên trước
là hai ống thị giác cho động mạch mắt và thần kinh thị giác đi qua.
- Hố tuyến yên là mặt lõm chủ yếu của hố yên, trong chứa tuyến yên.
Trên film chụp sọ tư thế thẳng nghiêng, hố yên có hình đường cong
đậm nằm trên xoang bướm. Ở trẻ nhỏ, hố tuyến yên nông hơn và hơi dài
4
theo đường kính trước sau do sự hình thành cũng như sự cốt hoá chưa đầy
đủ của các cấu trúc lân cận của củ yên.
Khi sàn hố yên có hình hai bờ hoặc bị mỏng đi thỡ đú cũng là dấu hiệu
gợi ý bệnh lý.
Các mỏm yên trước là phần kéo dài ra giữa của bờ sau các cánh nhỏ
xương bướm. Giữa mỏm yên trước và củ yờn cú một khe là nơi kết thúc
của rãnh động mạch cảnh, rãnh này bắt đầu từ lỗ rách và kết thúc ở phần
giữa của mỏm yên trước, trong đó có động mạch cảnh trong và xoang tĩnh
mạch hang.
Khoảng cách ngang giữa hai mỏm yên trước lớn hơn đáng kể so với
khoảng cách ngang giữa hai mỏm yên sau, đôi khi các mỏm yên sau nhô ra
trước và nằm giữa hai mỏm yên trước.
- Các mỏm yên sau là góc trước của mảnh vuông xương bướm.
Kích thước bình thường của hố yên: Đường kính trước sau là khoảng cách
lớn nhất giữa thành trước và thành sau hố yên, là đường kẻ từ điểm dưới của
củ yên và bờ trước của lưng yên. Đường kính trước sau: nhỏ nhất là 5mm, lớn
nhất là 16mm, trung bình 10,5mm.
Chiều sâu của hố yên là khoảng cách lớn nhất giữa sàn của hố yên và một
nhánh mắt (V1), nhánh hàm trên (V2) của dây thần kinh V.
- Xoang bướm nằm ngay dưới hố yên. 6
Mặt cắt coronal vựng yờn và trờn yờn. A= thuỳ trước tuyến yên, B= thuỳ
sau tuyến yên, C= cuống tuyến yên, D=giao thoa thị giác, E= não thất ba,
F= động mạch cảnh trong đoạn chia nhánh, G=dõy vận nhón, H=dõy
ròng rọc, I=động mạch cảnh trong đoạn xoang hang, J= dây thần kinh
dạng, K = dây thần kinh mắt, L= dây hàm trên, N=xoang cảnh, M=thuỳ
thái dương, O=xoang bướm [28].
Giải phẫu và sinh lý học của tuyến yên.
Tuyến yên có kích thước ngang 10mm, chiều cao 8mm, trọng lượng
khoảng 1gram, bao gồm 2 thuỳ có chức năng sinh lý và giải phẫu khác nhau.
Thuỳ trước tuyến yên là phần tuyến thực sự, chiếm tới 3/4 toàn bộ thể
tích tuyến. Quan điểm phôi thai học trước đây cho rằng thuỳ trước có nguồn
gốc từ khoang miệng nguyên thuỷ. Những nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng
7
thuỳ trước tuyến yên có nguồn gốc từ ngoại bì thần kinh. Thuỳ trước gồm:
phần phễu, phần trung gian và phần xa.
Phần trung gian rất nhỏ còn phần xa chiếm hầu hết tuyến yên tuyến ở
trong yên và được cấu tạo bởi các tế bào biểu mô tuyến và mạch máu.
Thuỳ trước không có sự cấp máu động mạch trực tiếp, nó nhận máu
chủ yếu từ hệ thống cửa yên.
Thuỳ trước được cấu tạo bởi các tế bào chế tiết. Những tế bào này gồm
9
Phần trên là tam giác cuống. Tam giác này là cuống của tuyến tùng.
Tam giác có bờ ngoài là rãnh cuống xẻ bên cạnh đồi thị, bờ trong là cuống
trước của tuyến tùng và bờ sau liên tiếp với củ não sinh tư.
+ Thành dưới sau hay còn gọi là nền.
Nhỡn trên một thiết đồ đứng dọc từ sau ra trước gồm:
- Một rãnh chất trắng nối liền hai cuống đại não.
- Một mảnh chất xám tạo thành khoảng thủng sau hay hố liên cuống.
- Hai củ núm vú: củ này là một phần nhõn xỏm xung quanh có chất trắng
bao bọc, có liên quan đến đường khứu giác.
- Củ phễu: phía trong rỗng, hợp thành một ngách của não thất gọi là
ngách phễu, ở phía đầu có cuống của tuyến yên gọi là cánh khứu.
+ Cực sau ở giữa hai cuống đại não, ở cực dưới có lỗ thông não thất ba
với cống Sylvius.
+ Thành trước có ba phần:
- Phần giữa là mảnh cùng hay mảnh trên thị giác.
- Ở trên mảnh cùng là mép trắng trước.
- Ở dưới mảnh cựng cú giao thoa thị giác là một mảnh chất trắng nối liền
ở dưới với củ phễu. Ở hai góc sau có hai dải thị giác. Hai dải này phát sinh
bởi gai rễ từ thể gối trong và thể gối ngoài. Ở giữa giao thoa thị giác và mảnh
cựng cú một ngách của não thất ba. 10
Thiết đồ cắt đứng dọc qua vùng yên và trên yên:
A=Thuỳ trước tuyến yên, B= thuỳ sau tuyến yên, C= cuống tuyến yên,
D= giao thoa thị giác, E= củ xám, F= ngách thị giác, G= củ vú, H= bể gian
cuống, J= mặt dốc, K= xoang bướm [28].
kết hợp với nhau. Định luật Monro-Kellie cho rằng khi một trong các yếu tố
trong sọ có sự biến đổi thì hai yếu tố còn lại phải thay đổi theo chiều hướng
ngược lại để thích nghi vì hộp sọ không có tính chất đàn hồi để cho thể tích
chung trong sọ ổn định và áp lực trong hộp sọ không thay đổi.
Ở người trưởng thành thể tích trung bình trong sọ từ 1350-1500ml,
trong đó thể tích não chiếm 80%, máu 10% và DNT 10%. Áp lực nội sọ do
trong não thất dao động từ 10-15mmHg (~ 130-240mmH2O).
12
Để tham gia vào quá trình bù trừ thể tích, DNT có thể giảm bằng cách
di chuyển vào khoang dưới nhện của tuỷ sống, máu có thể di chuyển vào các
xoang tĩnh mạch để đi ra ngoài về tim. Như vậy, một khi có sự tăng thể tích
trong sọ nhờ những thay đổi trên mà áp lực nội sọ được giữ ổn định trong một
thời gian, khi khả năng bù trừ không còn nữa, áp lực nội sọ sẽ tăng lên và gây
nên hội chứng TALNS.
TALNS là một dấu hiệu lâm sàng và cũng là một biến chứng của các
khối u nội sọ. Tuy nhiên, nó có thể không rõ hoặc ngược lại bao trùm toàn bộ
các triệu chứng. Hội chứng TALNS có những biểu hiện rất khác nhau. Trong
mội vài ngày hoặc một vài tuần, các triệu chứng xuất hiện tăng dần và lặp đi
lặp lại càng thường xuyên hơn, có khi rất rầm rộ. Các dấu hiệu có thể diễn ra
trong nhiều tháng khiến cho chẩn đoán sớm rất khó khăn. Hiếm gặp hơn là
tình trạng hôn mê tức thì chứng tỏ bệnh rất nặng. Đôi khi sự tiến triển của
TALNS có tính chất dao động với những cơn buồn ngủ, nhức đầu và nôn, có
thể dài hoặc ngắn, tiếp theo là những quãng thời gian không có dấu hiệu lâm
sàng nào cả.
Dấu hiện hay gặp của TALNS là đau đầu, nôn và những thay đổi ở đáy
mắt.
Bệnh học vựng yờn và trờn yờn.
Có nhiều bệnh lý có thể xuất hiện tại vựng yờn và trờn yờn, việc phân
loại cụ thể giúp chẩn đoán được dễ dàng hơn. Sau đây chỳng tụi giới thiệu sơ
nhất [16, 25].
U tuyến yên nhỏ: kích thước u dưới 10mm, u thường xuất hiện trong hố
yờn, khụng lan rộng lên trên yên. Trên CHT, chuỗi xung T1W tín hiệu thay
đổi, thường thì đồng tín hiệu với nhu mô tuyến yên, có khi tăng tín hiệu nếu
có chảy mỏu hoặc hoại tử, trờn chuỗi xung T2W đồng tín hiệu với nhu mô
tuyến yên, u ngấm thuốc chậm hơn phần tổ chức tuyến yên bình thường, nền
thấy giảm tín hiệu sau khi tiêm thuốc đối quang từ, lưu ý khoảng 10-30% có
thể thấy trên chuỗi xung Dynamic [16] [57].
Một số khác là USH chiếm khoảng 5-10%. Hiếm gặp hơn là u biểu bì, u
bì, u màng não và di căn.
1.1.3.3 Các tổn thương viêm nhiễm hoặc tổn thương mạch
máu.
Hiếm gặp các tổn thương như áp xe, viêm tuyến yên. Nếu gặp thì thường
phối hợp cả trong yên và trờn yờn.
Hiếm gặp các tổn thương phình mạch, thông động tĩnh mạch, lạc chỗ
động mạch cảnh.
1.1.3.4 Bất thường bẩm sinh thật sự tuyến yên thì hiếm hặp.
Chủ yếu là tuyến yên nhỏ, hoặc không thấy tuyến yên. Biểu hiện giảm
năng nguyờn phỏt của tuyến yên, thân phễu thường nhỏ hoặc không có. Trên
CHT thấy hình chấm sáng ở vùng hạ đồi của tuyến yên thần kinh lạc chỗ, đôi
khi thấy hình ảnh yên bướm nhỏ và tuyến yên thần kinh lạc chỗ có hình đồng
tín hiệu với nhu mô não nhưng ngấm thuốc đối quang từ mạnh. Tuyến yên và
cuống yờn đụi là dị dạng hiếm gặp và thường có biểu hiện nhẹ của hội chứng
mặt khe giữa.
15
1.1.4 Các tổn thương vựng trờn yờn.
1.1.4.1 Các khối u tân sinh.
U tuyến yên: u từ tuyến yên lan rộng lên trên yên. U thường có hình số
8, trên CHT thì tín hiệu thay đổi tuỳ theo kích thước khối u nhưng thường
hoặc có hình lá, u không có thành phần đặc và ít gặp vụi hoỏ trờn thành nang.
Trên CHT u có tín hiệu ngang hoặc cao hơn một chút so với DNT, không
ngấm thuốc sau tiêm thuốc đối quang từ.
U bì: có các thuỳ và thường ở đường giữa hoặc gần đường giữa, hay gặp
ở hố sau, trờn yờn ớt gặp. U bì có thể tràn vào các khoang DNT và gây nên
viêm màng não hoá chất dữ dội. U thường cú vụi hoỏ, trờn CHT giảm tín hiệu
của dịch trên T1W, tăng trên T2W, và tăng tín hiệu của mỡ trên T1W.
U hạch bạch huyết thường hiếm gặp, có thể xảy ra ở cả vùng tuyến yên,
hạ đồi, thân phễu hoặc phối hợp ở cỏc vựng này. Gặp ở người lớn tuổi.
Di căn tới trục hạ đồi -tuyến yên: gặp khoảng 1%.
Ung thư nguyờn phỏt di căn tới tuyến yên thường gặp ở phụ nữ hay gặp
là ung thư vú, phổi, dạ dày, tử cung. Ở nam giới thường gặp là phổi, tiền liệt
tuyến, bàng quang, dạ dày, tuỵ. Chẩn đoán u nguyờn phỏt và thứ phát ở tuyến
yên khó, CĐHA ghi nhận thấy khối ở trên yên hoặc cả vựng yờn và trờn yờn,
hay gặp ở người trẻ. Di căn có đặc điểm là đồng tín hiệu trên T1W, tăng vừa
phải trên T2W, ngấm thuốc đối quang từ mức độ vừa.
1.1.4.2 Các tổn thương bẩm sinh
Nang màng nhện: chiếm khoảng 1% các choán chỗ nội sọ trong đó
khoảng 10% xảy ra vựng trờn yờn. Nang màng nhện trờn yờn có hình ảnh
17
một khối có bờ đều, trong có cấu trúc giống DNT, không có vụi hoỏ, khụng
ngấm thuốc, có thể đè đẩy não thất ba.
Nang khe Rathke: là nang lành tính được lót bởi biểu mô còn sót lại của
túi Rathke (Rathke pouch). Nang khe Rathke trong yên thường không có triệu
chứng, phát hiện khi sinh thiết hoặc CHT. Thường có triệu chứng khi xuất
hiện ở trong và trờn yờn, hiếm khi xuất hiện hoàn toàn trờn yờn (2/3 trong
yên, 1/3 trên yên). Kích thước thường từ 5-15mm, đôi khi có thể trở nên rất
lớn, hiếm khi ăn mũn nền sọ. Nang thường có thành rõ, dịch trong nang có thể
dạng huyết thanh, dịch nhày. Trên CHT chuỗi xung T1W thay đổi theo thành
kỳ thai nghén hoặc giai đoạn sau đẻ.
1.1.4.4 Các tổn thương do chấn thương.
Tổn thương do chấn thương của giao thoa thị giác, dây thần kinh thị giác
đoạn trong sọ, vùng hạ đồi và tuyến yên, có lâm sàng khác nhau. Mờ mắt, bán
manh thái dương hoặc không và có rối loạn chức năng nội tiết do tổn thương
hạ đồi. Trên CHT có thể thấy đụng dập hoặc đứt của giao thoa thị giác, hoặc
tổn thương rách não thất ba do chấn thương, tổn thương giật đứt dây thần kinh
số III. Đứt thân phễu gõy đỏi tháo nhạt, tớn hiờu cao vùng hạ đồi giống với
lạc chỗ tuyến yên thần kinh bẩm sinh.
1.1.4.5 Giãn mạch và phình động mạch cảnh trong đoạn trên
mỏm yờn.
Hay gặp ở người lớn, trên CHT có hình tròn trống tín hiệu, có tín hiệu
mạch sau tiêm thuốc, huyết khối bám thành có biểu hiện tăng tín hiệu trên
T1W và T2W [13, 15, 19, 28].
19
Sơ lược về USH
1.1.5 Các nghiên cứu ở nước ngoài.
Năm 1857 Zenker là người đầu tiên phát hiện khối u biểu mô vảy phát
triển ở phần yên và trên yên. Các nghiên cứu rộng rói của Luschka về các tế
bào biểu mô vảy ở thuỳ trước tuyến yên được thực hiện vào nằm 1860. Năm
1899 Mott và Barrett cho rằng USH có thể phát triển từ tuyến yên-hầu họng
hoặc túi Rathke. Năm 1902 Saxer cũng đã báo cáo một khối u gồm các tế bào
trên. 2 năm sau đó, Erdheim, sau khi nghiên cứu một cách hệ thống các tế bào
biểu mô vảy ở thuỳ trước tuyến yên, đã mô tả rằng chúng chỉ có các bệnh
nhõn lớn tuổi, và thấy được ở mặt trước của phễu và đồng thời gọi chúng là u
ống tuyến yên. Nhưng đến năm 1932 u tế bào biểu mô vảy này cùng được
phát hiện ở tuyến yên của trẻ em bởi Sasman. Thuật ngữ USH chính thức
được giới thiệu vào năm 1932 bởi Cushing và sau đó bệnh lý USH được
nghiên cứu nhiều hơn và ngày càng được hiểu biết hơn về đặc điểm của bệnh
Năm 1997 Tsuda M và cộng sự nghiên cứu đặc điểm hình ảnh của
CLVT và CHT trên 20 trường hợp được xác định là USH sau phẫu thuật, đưa
ra kết luận CLVT ưu thế hơn CHT trong nhận biết vụi hoỏ, CHT giá trị hơn
CLVT trong việc xác định sự lan rộng của khối u và cung cấp các thông tin
giá trị của khối u với các cấu trúc xung quanh. Vì thế CLVT và CHT có vai
trò hỗ trợ nhau trong chẩn đoán USH [45].
Năm 1997 Sartoretti – Schefer S và cộng sự khi phõn tích đặc điểm
hình ảnh cộng hưởng từ của 42 bệnh nhõn USH đã đưa ra gợi ý đặc điểm hình
ảnh trên chuỗi xung T1W, tổn thương nhiều thuỳ múi và tăng tín hiệu của
21
thành phần trong nang thì gợi ý u men răng; tổn thương giảm tín hiệu thành
phần trong nang và thành phần đặc chiếm đa số thì gợi ý u nhú [58].
Năm 2006 Fabrice Bonneville và cộng sự trên tạp trí Radiographics đã
đưa ra nhận định USH có hình tăng tín hiệu trên T1W là do độ tập trung cao
của protein, đôi khi tạo ra hình giả mức dịch - dịch là do phần tiếp giáp giữa
phần đặc trong u và phần nang dịch, cần phân biệt mức dịch - dịch tạo ra
trong trường hợp chảy máu trong u tuyến tuyến yên lớn.
1.1.6 Các nghiên cứu trong nước.
Theo Vũ Tự Huỳnh và cộng sự khi nghiên cứu các khối u vựng yờn và trờn
yờn tại Bệnh viện Việt Đức trong 5 năm từ 1991-1995 thì thấy USH gặp ở BN
dưới 20 tuổi chiếm 70%, BN từ 21-40 chiếm 25%, BN từ 41-60 chiếm 5% [6].
Theo Dương Minh Mẫn, khi tiến hành làm phẫu thuật Stereotaxy 30
bệnh nhân nhi có tổn thương nóo, cỏc bệnh nhân đều được làm CLVT và
CHT trước phẫu thuật, thỡ cú 3 bệnh nhân là USH, chiếm 10% [9].
Theo Lê Thanh Quỳnh khi nghiên cứu 32 Bn USH tại BV Việt Đức
(2004) thỡ cú đa số các USH có cấu trúc hỗn hợp gồm thành phần nang và
đặc chiếm 71,9% trong đó tất cả các u ở trẻ em đều có tổn thương nang, các u
có tổn thương vụi hoỏ chiếm 78,1%, trong đó ở trẻ em chiếm 91,6% [12].
1.1.7 Dịch tễ học.
USH có nguồn gốc phát triển từ các biểu mô còn sót lại của khe Rathke,
nơi mà sau này thuỳ trước tuyến yên và cuống tuyến yên tạo nên thành. Chính
vì thế mà dọc theo chiều dài của ống trong quá trình diễn biến phôi thai học
thì khối u có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào từ vùng hầu họng đến yên bướm và
23
não thất ba. Hai giả thuyết chớnh giúp lý giải nguồn gốc của USH là thuyết
phôi thai học và thuyết dị sản, chúng bổ xung lẫn nhau giúp giải thích bản
chất của USH.
+ Thuyết phôi thai học:
Thuyết này cho rằng sự phát triển của thuỳ trước tuyến yên và chuyển
dạng của di tích các tế bào lá phôi ngoài của ống sọ hầu và sự thoái triển của
túi kén Rathke. Cả túi Rathke và cuống tuyến yên phát triển trong tuần thứ 4
của thai kỳ và cùng với tuyến yên. Cả hai cùng dài ra và dớnh với nhau vào
tháng thứ hai. Cuống tuyến yên là phần kéo dài hướng xuống dưới của nóo
giữa, túi Rathke là phần kéo dài hướng lên trên của khoang miệng nguyên
thuỷ. Ống sọ hầu là cổ của túi, nối tiếp giữa khoang miệng nguyên thuỷ, chỗ
hẹp, dớnh liền và ngăn cách túi với khoang miệng nguyên thuỷ vào cuối tháng
thứ hai. Do vậy, túi trở thành khoang mỏng bao quanh mặt trước và mặt sau
của cuống tuyến yên. Thành của khoang có cấu tạo khác biệt với cấu trúc của
tuyến yên. Cuối cùng khoang thoái triển vào hố khe và có thể biến mất hoàn
toàn. Nang kén Rathke, cùng với di tích của ống sọ hầu, có thể là nguồn gốc
của u sọ hầu.
+ Thuyết dị sản:
Thuyết này cho rằng biểu mô vảy tồn dư (xuất phát từ khoang miệng
nguyên thuỷ và phần bình thường của tuyến yên trước) có thể dị sản.
+ Thuyết kép
Thuyết này lý giải bản chất USH, cho rằng dạng u men răng (chủ yếu ở
trẻ em) cũn di tích phôi thai và dạng u nhú vảy (chủ yếu ở người lớn) dị sản
và xuất phát từ các tế bào trưởng thành của thuỳ trước tuyến yên [32].
U men răng (HE.x10)[50]
U nhú (HE.20)[50]
+ Sinh bệnh học
USH là u loạn sản phôi có mô học lành tớnh và tớnh chất ác tớnh, vì
chúng có xu hướng xõm lấn cấu trúc xung quanh và tái phát ngay cả khi đã
lấy bỏ được toàn bộ khối u.
U xuất hiện dưới dạng một kén lớn hoặc nhiều kén chứa dịch không
trong, có thành phần protein có màu vàng nõu rực rỡ và lấp lánh vì chứa
nhiều tinh thể Cholesterol. Vì biểu hiện như vậy, nờn nó được so sánh như
dầu máy. U hay gặp nhất từ cuống tuyến yên và nhô ra về phớa đồi thị.
Nó mở rộng theo chiều ngang theo hướng ít bị ngăn cản nhất – phớa
trước vào bể giao thoa thị giác và khoang trán dưới; phớa sau vào bể trước
cầu và gian cuống đại nóo, góc cầu tiểu nóo, nóo thất ba, hố sau và lỗ chẩm;
phớa bên hướng về khoang trên thái dương. U thậm chí có thể lan tới khe
Sylvien.
Một vài vị trí hiếm gặp gồm ngoài màng cứng, ngoài sọ - hầu mũi hoặc
chỉ đơn thuần USH ở hố sau, hay USH lan xuống tuỷ cổ, vùng mũi hầu,
xoang bướm, xoang sàng, tuyến tùng, hoàn toàn trong nóo thất ba. USH hoàn
toàn trong nóo thất thường là u nhú (dị sản), thể này hiếm [32, 50]