sinh học, và về lâu về dài chính vùng sinh học mới tiếp cận và đảm bảo đợc tính
bền vững mà các cá nhân không thể làm đợc.
Mỗi vùng sinh học phát triển theo những đạo đức riêng của nó, ví dụ:
Bảo vệ và phát triển những đặc điểm tự nhiên và tăng cờng tính bền vững của
vùng sinh học.
Phát triển tài nguyên sinh học, đề cao tính nhân văn của vùng sinh học.
Tạo điều kiện cho mọi ngời có điều kiện sử dụng đất đai hợp lý trong vùng.
Những nguyên lý để thực hiện đạo đức ấy là:
Phát triển tính bền vững của vùng sinh học là u tiên số một.
Giữ vững sự lu thông và tạo những hệ thống truyền thông nhanh chóng trong
vùng.
Tất cả mọi ngời trong vùng phải gắn bó với tổ chức địa phơng.
Tính bền vững của một vùng sinh học có thể đợc đánh giá bằng việc giảm bớt
nhập khẩu và xuất khẩu vào-ra khỏi vùng. Của cải của vùng tính bằng sự tăng trởng
của các tài nguyên sinh học (ví dụ tăng tính đa dạng của thực vật và động vật, phát
triển các vờn hay các khu rừng cộng đồng, phát triển các vùng rừng ngoại ô ). Cùng
với sự tăng thêm của cải là sự phát triển tiềm năng của nhân dân, khả năng hợp tác có
hiệu quả với nhau
Sự thịnh vợng của một vùng sinh học trớc hết là do cách làm ăn hợp tác và
sau đó có thể là do cạnh tranh lành mạnh trong vùng.
Việc quản lý vùng sinh học thực hiện theo những quy ớc do toàn thể c dân
trong vùng xây dựng lên và tự giác chấp hành. Cơ quan quản lý vùng sinh học có ba
nhiệm vụ: (1) hớng dẫn cho c dân biết làm gì để đảm bảo tính bền vững của vùng;
(2) huấn luyện, đào tạo cho họ biết cách làm nh thế nào là thích hợp và có lợi nhất;
(3) khi sản xuất đã đi vào nề nếp phải chỉ ra hớng và cách phát triển để thoả mãn
đợc nhu cầu và mở rộng sản xuất. Việc quản lý này còn có thể chuyên theo từng
lĩnh vực (sản xuất lơng thực, giáo dục ).
Mỗi tổ chức, mỗi tài nguyên phải đợc bố trí theo những tiêu chuẩn phù hợp với
đạo đức của vùng. Ví dụ, thực phẩm phải tuân theo những tiêu chuẩn sau:
Tính địa phơng: thực phẩm sản xuất và chế biến ngay tại địa phơng.
ngời nhận đất công ở sát thị trấn để sản xuất, xây vờn trẻ, nơi nghỉ cuối tuần và
trả tiền thuê đất bằng lợi tức thu đợc; trang trại hợp tác: hợp tác giữa những ngời
sản xuất với những ngời tiêu thụ, một số ngời ở thành phố hợp tác với chủ trang
trại để họ cung cấp lơng thực-thực phẩm theo nhu cầu, và ngời thành phố dành
thời gian nghỉ cuối tuần để giúp chủ trang trại sản xuất, coi nh một đợt đi nghỉ
cuối tuần lành mạnh và bổ ích ngoài ra còn có các hình thức nh câu lạc bộ nông
trang hay câu lạc bộ vờn của ngời dân thành phố, hay hình thức trang trại tập thể
của vài chục gia đình cùng hoạt động sản xuất kinh doanh.
ở nhiều nơi đã tổ chức thí điểm các làng sinh thái (
ecovillage). Ví dụ, một số nhà
sinh thái học và nông học của trờng đại học Stockhom đã hợp tác xây dựng một làng
nh thế cho 50 hộ gia đình (200 ngời) trên khu đất rộng 40 ha (0,2 ha/ngời), các
nhà ở cách xa nhau 100-150 m, diện tích mặt nớc là 1 ha, đủ để xử lý nớc thải;
chăn nuôi 20 con bò, 100 con lợn và trên 200 con gà. Làng sinh thái này có khả năng
tự túc đợc phần lớn lơng thực-thực phẩm và phát triển bền vững. Viện Kinh tế-Sinh
thái ở nớc ta cũng đang cố gắng xây dựng một số làng sinh thái ở những vùng khó
khăn (đất cát Quảng Trị, đất dốc Ba Vì ).
Một vùng sinh học sẽ nghèo đi nếu c dân hành động theo cách làm giảm khả
năng tự giải quyết các nhu cầu của mình và cho của cải chỉ là sự tích luỹ tiền bạc và
sở hữu. Ngời ta cho rằng nhu cầu cơ bản của con ngời bao gồm: thức ăn, nớc
uống, sự bảo vệ (bao gồm cả chỗ ở), sự yêu mến, sự thông cảm, đợc làm việc, sự
sáng tạo, sự giải trí, sự phát triển cá tính, sự tự do. Của cải, theo quan niệm của
nhiều ngời, là: thu nhập, sức khoẻ, chất lợng và khối lợng công việc, chất lợng
môi trờng sống, an toàn về cá nhân và xã hội, thoải mái về tình cảm và tinh thần.
Lao động của con ngời là một tài nguyên quý giá, có thể tái sinh và rất phong
phú. Con ngời cần đề cao trách nhiệm đối với vùng sinh học của mình và chọn lựa
những công việc hợp với khả năng của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng.
càn
g
lớn. M
ộ
t số nơi trên thế
g
iới, năn
g
l
ợ
n
g
đầu t đã
vợt quá năng lợng lấy đi nhiều lần, điều này đã đóng góp tích cực vào n
ạ
n ô nhiễm môi trờn
g
.
Tu
y
nhiên, việc đầu t năn
g
l
ợ
n
g
hoá th
ạ
ch vào các HSTNN là điều khôn
g
g
bức chu
y
ển hoá quan tr
ọ
n
g
từ nền nôn
g
n
g
hiệp
thủ côn
g
tru
y
ền thốn
g
san
g
nền nôn
g
n
g
hiệp d
ự
a vào má
y
móc. Đâ
y
n con
n
g
ời có nhữn
g
hiểu biết hoàn thiện hơn về t
ự
nhiên, h
ọ
nh
ậ
n ra rằn
g
chún
g
ta khôn
g
thể ho
ạ
t đ
ộ
n
g
trái với các quy lu
ậ
t t
ự
nhiên. Tron
g
bối cảnh đó, các qu
g
tác điều khiển với m
ụ
c
đích tối u hóa sản xuất.
Trong điều khiển sản xuất NN, có 3 hớng điều khiển cơ bản là:
o Tăng vòng quay của các quá trình sinh học, tăng vòng quay của chu chu
y
ển v
ậ
t
chất, từ đó mà tăng đợc sản phẩm.
o
Đ
iều chỉnh các
g
iai đo
ạ
n của chu trình chu chu
y
ển v
ậ
t chất và làm cho các
g
iai
đoạn đó tạo ra nhiều sản phẩm.
o Tạo cơ cấu hợp lý cho sản lợng cao.
Nội dung của điều khiển trong sản xuất nông nghiệp gồm 3 vấn đề:
phần sinh v
ậ
t tron
g
hệ sinh thái man
g
tính tổn
g
h
ợ
p rất cao, tron
g
đó ta khôn
g
chỉ t
ậ
p trun
g
vào
các cây trồng v
ậ
t nuôi mà phải đ
ặ
t chún
g
tron
g
mối quan hệ thốn
g
nhất với môi trờn
h
ợ
p l
ý
các n
g
uồn l
ợ
i t
ự
nhiên của hệ sinh thái nh khí h
ậ
u, đất. Bản thân các v
ậ
t sốn
g
tron
g
hệ
sinh thái cũng là nguồn lợi tự nhiên, nhng khác các thành phần khác ở chỗ có thể tha
y
đổi
chún
g
m
ộ
t cách cơ bản. Các n
ộ
i dun
g
(
ii
)
Bố trí hệ thốn
g
câ
y
trồn
g
;
(
iii
)
Điều
khiển di truyền; (iv) Đấu tranh sinh học chống sâu bệnh.
M
ụ
c đích cuối cùn
g
của sản xuất NN là nhằm bồi dỡn
g
và hoàn thiện đời sốn
g
con n
g
ời. Tron
g
mãn các nhu cầu của thế hệ hiện t
ạ
i nhn
g
khôn
g
làm phơn
g
h
ạ
i đến nhu cầu của các thế hệ tơn
g
lai - đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Để phát triển nông nghiệp bền vững, các yêu cầu đặt ra là:
o Đáp ứng nhu cầu dinh dỡng cơ bản của thế hệ hiện tại và các thế hệ tơng lai.
o T
ạ
o việc làm bền vữn
g
, đủ thu nh
ậ
p và cải thiện điều kiện sốn
g
và làm việc của n
g
ời dân ở vùn
g
nông thôn.
o Duy trì khả năng sản xuất của các nguồn lực tự nhiên đồng thời với việc bảo vệ môi trờng.
g
hiệp lâu bền, chún
g
ta phải xem xét s
ự
phát triển ấ
y
trên cả
hai phơng diện: bền vững về mặt sinh thái và bền vững về mặt kinh tế-xã hội.
Mặc dù nông nghiệp là nhân tạo nhng nó vẫn ở trong thiên nhiên và vì vậy chịu những hạn ch
ế
của thiên nhiên. Nôn
g
n
g
hiệp sẽ khôn
g
tồn t
ạ
i ở bên n
g
oài các n
g
u
y
ên tắc của thiên nhiên. Để th
ự
c
suất tăn
g
cao và ổn đ
ị
nh. Trái l
ạ
i, lối canh tác phản t
ự
nhiên và chỉ n
g
h
ĩ
đến l
ợ
i nhu
ậ
n tức thời thì sẽ làm đất thoái hóa và mất cân bằn
g
sinh thái nhanh chón
g
, và về lâu về
dài là làm cho sản lợng giảm sút.
Nh v
ậy
, để có đ
ợ
c m
ộ
t nền nôn
chính là nền nôn
g
n
g
hiệp sinh
thái. Thực chất của nông nghiệp sinh thái là hệ luân canh, phỏn
g
theo hệ sinh thái của rừn
g
t
ự
nhiên
với những nguyên tắc:
(
1
)
đảm bảo tính đa d
ạ
n
g
,
(
2
)
coi đất là m
ộ
t v
ậ
t thể sốn
g
ian cho đến
quan hệ v
ậ
t chất và năn
g
l
ợ
n
g
g
iữa các phần tử của hệ thốn
g
đều tuân theo các n
g
u
y
ên l
ý
của
NNBV. Câu hỏi ôn tập
1. Có mấy giai đoạn phát triển sản xuất nông nghiệp? Đặc trng của từng giai đoạn
là gì?
2. Nêu những khuynh hớng chính trong phát triển sản xuất nông nghiệp? Phân
tích u nhợc điểm của các khuynh hớng này?
3. Nêu những nội dung của tối u hoá sản xuất nông nghiệp?
Tài liệu Đọc thêm
Cao Liêm -Trần Đức Viên, 1990
Sinh thái học nông nghiệp và Bảo vệ môi trờng (2 tập). Nhà xuất bản Đại học và Giáo
dục chuyên nghiệp. Hà Nội.
Joy Tivy, 1990.
Agricultural Ecology. Longman Group Publisinh House.
Lê Văn Khoa, 1999.
Nông nghiệp và Môi trờng. Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội.
Mollison B. và R. M. Slay, 1994.
Đại cơng về nông nghiệp bền vững (bản dịch của Hoàng Văn Đức). Nhà xuất bản NN.
Nguyễn Văn Mấn, 1996.
Phổ cập kiến thức về hệ sinh thái VAC. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
Thái phiên, Nguyễn Tử Siêm (chủ biên), 1998.
Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam (Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1990 -
1997). Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.