Sinh thái học nông nghiệp : Sinh thái học và sự phát triển Nông nghiệp part 8 doc - Pdf 19

Lớp phủ sống là trồng một loại cây họ đậu thấp, có khả năng bò lan nhanh.
Ưu điểm là không cần phải thu gom nguyên liệu, bảo vệ đất lâu dài, cung cấp thêm
N cho đất. ở Việt nam có thể dùng đậu ván, đậu triều, cỏ ba lá
c) Tăng cờng sử dụng phân xanh
Dùng phân xanh là trồng cây phân xanh (cây họ đậu) một thời gian và trả lại
toàn bộ sinh khối cho đất. Cây phân xanh có u điểm là mọc nhanh, thu đợc sinh
khối lớn sau một thời gian ngắn, có thể cố định đợc N khí quyển nhờ cộng sinh với
vi khuẩn có khả năng cố định N ở hệ rễ. Có thể cắt cây phân xanh làm lớp phủ trên
mặt đất để rút ngắn thời gian phân huỷ, giảm công làm đất.
Phân xanh cải thiện độ phì nhiêu của đất: đất trở nên tơi xốp hơn, tăng khả năng
giữ nớc và dẫn nớc, tăng dinh dỡng cho đất, tăng số lợng và hoạt tính của các
vi sinh vật. Nhợc điểm là cần nhiều thời gian: chờ cây mọc 1,5-2 tháng và phân
huỷ trong 2-3 tuần (phụ thuộc vào nhiệt độ, loại cây phân xanh ). Thờng ngời ta
chỉ gieo phân xanh vào thời gian không thể trồng cây kinh tế.
d) Tích cực sử dụng phân trộn (phân rác)
Trộn phân (compốt) là cách làm phổ biến nhất để cải thiện độ phì của đất. Trộn
các nguyên liệu hữu cơ khác nhau (tỷ lệ C/N khác nhau, tơi và khô, cỏ, đất ) giúp
cho sự phân huỷ và sau khi phân huỷ hoàn toàn thì sử dụng làm phân bón. Mục đích
chính là biến đổi chất hữu cơ thô thành mùn.
So với phân xanh và lớp phủ, phân trộn đợc sử dụng nhanh hơn. Nguyên liệu
hữu cơ đã đợc phân huỷ trớc và ở dạng mùn hợp với cây. Phân trộn là loại phân
sạch nên đất cũng sạch. Ưu điểm nữa là dùng nguyên liệu sắn có ngay tại chỗ và
dùng cả rác thải. Nhợc điểm là cần nhiều chất hữu cơ trong khi không phải ở vùng
nông thôn nào cũng sẵn rác thải là chất hữu cơ. Trong quá trình trộn phân, một số
chất dinh dỡng bị mất do nắng nóng, ma và gió. Ngời ta thờng đặt hố trộn dới
tán cây hay có mái che và trộn đảo sao cho phân có thể dùng sau 3 tháng. Quá trình
xử lý phân trộn khá vất vả: thu nhặt, trộn, đảo
e) Trồng cây và cỏ dọc đờng ranh giới
Đờng ranh giới giữa các đơn vị sản xuất nông nghiệp là nguồn tài nguyên có
thể sinh lợi. Ưu điểm của biện pháp này là kiểm tra đ
ợc sự xói mòn của dất. Ma

Để thực hành NNBV chúng ta phải học từ thiên nhiên. Trong việc sản xuất sinh
khối, duy trì độ phì của đất, bảo vệ đất, phòng chống dịch hại, sử dụng năng lợng
đa từ ngoài vào thiên nhiên đã chỉ cho ta những giải pháp hữu hiệu nhất cho cả
hiện tại và tơng lai. Mô hình ấy là các cánh rừng tự nhiên. Rừng tự nhiên sản xuất
ra một sinh khối khổng lồ hàng năm mà không cần đầu vào nhân tạo, và cung cấp
thức ăn cho mọi loài động vật sống trong đó, kể cả cho con ngời. Sản xuất nông
nghiệp sản xuất ra một sinh khối ít hơn, lại không thể thiếu các đầu vào nhân tạo, và
luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trờng.
Cơ chế sản xuất của nông nghiệp và rừng tự nhiên là giống nhau. Chúng đều sản
xuất ra hydratcacbon (sinh khối) nhờ sử dụng các chất dinh dỡng và nớc từ đất,
CO
2
từ không khí, thông qua năng lợng ánh sáng mặt trời để tiến hành quang hợp.
Điều khác nhau cơ bản là: rừng là tự nhiên còn nông nghiệp là nhân tạo. Tính nhân
tạo này đã tạo ra nhiều vấn đề không có trong tự nhiên: làm suy thoái đất và tài
nguyên sinh học, phát sinh nhiều loại dịch hại
Nông nghiệp là nhân tạo nhng nó vẫn tồn tại trong thiên nhiên và chịu sự chi
phối của tự nhiên. Điều rất quan trọng mà mọi ngời cần phải ý thức đợc là cần và
phải tuân theo và thích ứng đợc với những quy luật của tự nhiên. Phần lớn những
vấn đề mà nền nông nghiệp hiện nay đang phải đối mặt là do ngời ta đã không
hiểu, không tuân theo và đôi khi làm ngợc lại các quy luật đó.
Hệ sinh thái rừng tự nhiên
Hệ sinh thái rừng tự nhiên là một hệ hoàn chỉnh, trong đó có một số lợng rất
lớn các loài động, thực vật và vi sinh vật khác nhau, giữa vật sống (sinh vật) và vật
không sống (phi sinh vật) đã tạo lập đợc mối quan hệ ở trạng thái cân bằng nào đó.
Điều quan trọng là phải hiểu đợc các mối quan hệ và tác động qua lại đó trong hệ
sinh thái rừng tự nhiên.
Vòng chu chuyển dinh dỡng
Về mặt sinh thái, mọi sinh vật trong tự nhiên đều thuộc vào một trong ba loại:
sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân huỷ. Muốn hiểu hệ sinh thái, cần

ăn. Dây chuyền này đợc cân bằng một cách mỏng manh, vì mọi mối quan hệ hữu
cơ đều là tạm thời và có mâu thuẫn; bất kỳ một sự đột biến của mắt xích nào cũng
có thể làm cho cân bằng bị phá vỡ. Ví dụ, nếu rắn hay mèo bị tiêu diệt nhiều thì
chuột sẽ tăng mạnh; hay nếu ếch bị bắt nhiều thì sâu hại sẽ tăng lên
Từ những hiện tợng về sinh thái nh trên, có thể rút ra một số chỉ dẫn cho
nông nghiệp sinh thái (NNBV):
Nguồn năng lợng chủ yếu để sản xuất carbonhydrat là mặt trời. Nâng cao hiệu
suất sử dụng năng lợng này cho quần thể thực vật là điều quan trọng nhất trong
nông nghiệp.
Chỉ có cây xanh mới có khả năng quang hợp. Mức độ sử dụng năng lợng mặt
trời phụ thuộc vào số lợng và cấu trúc của quần thể thực vật.
Nguồn độ phì (chất khoáng, mùn ) phụ thuộc vào lợng chất hữu cơ có chứa vi
sinh vật. Việc cung cấp chất hữu cơ là hết sức cần thiết để cải thiện đất thông
qua biện pháp bón phân hữu cơ.
Mọi sinh vật đều có tác động qua lại với nhau, và không có sinh vật nào là
không cần thiết hay có hại trong thiên nhiên.

Vòng chu chuyển nớc và lợng ma hữu hiệu:
Vòng chu chuyển nớc trên hành tinh thông qua lực của năng lợng mặt trời.
Nguồn nớc của nớc trong đất là ma. Tuy nhiên chỉ có một phần nhỏ nớc ma là
cây có thể sử dụng, phần còn lại bị mất đi bằng nhiều cách. Tổng lợng nớc ma
rơi xuống gọi là lợng ma hiện tại. Lợng ma hữu hiệu là tổng lợng nớc ma
đợc dự trữ trong đất, đợc sử dụng bởi cây cỏ và cho các nhu cầu khác, loại trừ
phần mất đi do chảy trôi và bốc hơi. Lợng ma hữu hiệu là nguồn lực cho cây cỏ,
động vật và nông nghiệp.
Lợng ma hữu hiệu tăng lên hay không tuỳ thuộc vào lợng ma, loại đất, mật
độ thảm thực vật, địa hình Những cách làm tăng lợng ma hữu hiệu trong nông
nghiệp là:
Cung cấp chất hữu cơ cho đất để tăng khả năng giữ nớc của đất;
Luôn giữ lớp phủ thực vật và chất hữu cơ;

là nhờ có cấu trúc nhiều tầng và vòng chu chuyển dinh dỡng không bị đảo lộn.
Trên đất nông nghiệp, cấu trúc của cây cỏ là theo chiều ngang nên không thể sử
dụng năng lợng tự nhiên với hiệu suất cao. Vòng chu chuyển dinh dỡng bị đảo
lộn do phần lớn sinh khối bị lấy ra khỏi đất. Do đó sản lợng của đất nông nghiệp
thấp hơn nhiều sản lợng của rừng tự nhiên mặc dù có nhiều đầu vào nhân tạo.
8.3. Đặc điểm của hệ sinh thái nhiệt đới
Mỗi vùng trên trái đất đều có những đặc điểm sinh thái riêng. Đáng tiếc là trong
quá trình phát triển, nhiều nớc nhiệt đới lại đi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong
nông nghiệp của các nớc ôn đới, nơi có các điều kiện sinh thái hoàn toàn khác với
nhiệt đới. Các hệ nông nghiệp cổ truyền tại các nớc nhiệt đới vốn đã duy trì đợc
bền vững qua nhiều thế hệ đã bị mất đi nhanh chóng, thay vào đó là các kiểu sản
xuất nông nghiệp hiện đại hay nông nghiệp hoá học, thực chất là nông nghiệp
thơng mại. Năng suất cây trồng của nhiều nớc nhiệt đới thua kém các nớc ôn
đới, trong khi rừng ma nhiệt đới là nơi sinh lợi lớn nhất trong tự nhiên, đứng về
mặt sản xuất sinh khối. Chúng ta hãy xem qua những đặc điểm của khí hậu nhiệt
đới ẩm.
a) Khí hậu nhiệt đới
Nhiệt độ cao, nắng gắt và thời gian có nắng kéo dài hơn nhiều so với vùng ôn
đới. Lợng ma rất lớn, lại ma tập trung theo mùa; nhng lợng ma hữu hiệu bị
giảm thấp, do nớc ma không kịp thấm, tạo thành dòng chảy mạnh trên mặt đất.
Nhiệt độ và độ ẩm cao ở đây đã tạo ra những điều kiện tối u cho sự phân huỷ diễn
ra nhanh chóng, nên lợng hữu cơ tồn tại trong đất luôn có nguy cơ bị tiêu hao.
b) Cấu trúc nhiều tầng của rừng tự nhiên
Khí hậu nhiệt đới rất cực đoan trong khi lợng hữu cơ trong đất không mấy dồi
dào. Để tồn tại và phát triển trong điều kiện nh vậy, thiên nhiên đã tạo ra ở đây
một cơ chế lý tởng, đó là những thảm thực vật nhiều tầng. Cấu trúc của rừng gồm
có: cây lớn với tán rộng, cây nhỡ dới tán của những cây lớn, cây nhỏ và
a bóng
dới tán của hững cây nhỡ, đất có cỏ và lớp thảm mục. ánh sáng gay gắt phần lớn
đợc lá cây sử dụng và không bao giờ rọi trực tiếp xuống mặt đất. Tác dụng tiêu cực

Những hậu quả tiêu cực chủ yếu của độc canh là:
Dịch bệnh dễ gây hại khi chỉ trồng trọt một loài cây.
Giảm sút tài nguyên di truyền. Nhiều ngời đã lãng quên các giống bản địa vốn
rất quan trọng trong duy trì tính đa dạng di truyền, và ngời ta chỉ còn biết đến
các giống lai năng suất cao.
Rủi ro kinh tế lớn. Chỉ trồng một loài cây, dễ bị thiên tai hay sâu bệnh làm cho
mất mùa hoàn toàn. Ngay cả khi đợc mùa thì giá cả của loại nông sản đó rất dễ
bị giảm thấp do vợt quá nhu cầu của thị trờng. Độc canh cha bao giờ làm
kinh tế nông hộ ổn định.
b) Canh tác liên tục
Canh tác liên tục có nghĩa là một số loài cây nhất định đợc gây trồng trên cùng
một mảnh đất hàng năm hoặc theo mùa liên tục. Những khó khăn thờng gặp là:
Làm mất cân bằng dinh dỡng đất, cụ thể là làm thiếu chất dinh dỡng, nhất là
các nguyên tố vi lợng, ví dụ ở nhiều ruộng lúa miền Bác thờng bị thiếu kẽm
và lu huỳnh. Nguyên nhân là việc canh tác liên tục cùng một loại cây đòi hỏi
những chất dinh dỡng nh nhau liên tục, trong khi việc sử dụng phân hoá học
chỉ cung cấp đ
ợc một số nguyên tố đa lợng hay vi lợng nào đó. Để khắc
phục, nhất thiết phải tiến hành luân canh và bón phân hữu cơ cho đất.

Dịch bệnh. Vùng quanh rễ cây rất đặc biệt và khác hẳn so với các nơi khác trong
đất về mặt hoạt động của vi sinh vật. Thờng các vi sinh vật hoạt động mạnh ở
vùng rễ do có nhiều chất tiết ra từ rễ. Mỗi vùng quanh rễ của một loài hay giống
cây đều có những điều kiện riêng biệt cho những vi sinh vật đặc biệt. Thí dụ,
vùng quanh rễ cây cà chua thờng thuận lợi cho việc phát triển giun tròn (tuyến
trùng) gây hại, còn của cây cốc nh cây ngô lại hầu nh không có. Do vậy, nếu
cứ canh tác liên tục thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho một số sinh vật gây hại
phát triển, và do đó rất dễ làm nảy sinh các bệnh đặc biệt.
8.5. Cải tiến hệ thống canh tác
Để giải quyết các khó khăn về dịch bệnh và mất cân đối dinh dỡng, cần áp

c) Canh tác kết hợp
Hệ thống canh tác kết hợp là một biến dạng của kiểu canh tác nhiều loài với
việc trồng nhiều loài cây khác nhau trên cùng một lô đất. Ví dụ trồng ngô xen đậu.
Ngô là loại cây rễ ăn sâu và cần nhiều dinh d
ỡng, đậu là cây rễ ăn nông và cần ít
dinh dỡng lại cung cấp đạm cho đất. Không có sự cạnh tranh đáng kể nào giữa ngô
và đậu: ngô dùng đạm do cây họ đậu cố định, đậu dùng thân ngô làm giá leo hay là
cây che bóng Tổng sản lợng của ngô và đậu cao hơn là sản phẩm riêng rẽ của
tong loài.

Thức ăn bổ sun
g

Chuồng l

n
Bán lợn
Nớc rửa
chuồng
Phế liệu

(Ao)
V
ịt
Bán cá
Bán vịt
Phế liệu
Rau
Thực vật
thuỷ sinh

cân nhắc khi định tiêu diệt một loài mà ta cho là có hại cho con ngời, trong khi nó
lại có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái
Dựa vào việc phân tích cấu trúc và chức năng của rừng tự nhiên, chúng ta có thể
thấy NNBV phải bảo đảm: năng suất cao hơn nông nghiệp hiện tại, không làm suy


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status