1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh glụcụm là một bệnh nguy hiểm, thường xảy ra ở hai mắt, sẽ dẫn
đến mù lòa nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Đây là một
bệnh mắt thường gặp và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù
lòa ở nước ta cũng như trên thế giới. Theo tổ chức y tế thế giới, hiện có hơn
5,2 triệu người bị mù cả hai mắt do glụcụm, chiếm 12,3% tổng số người mù,
là nguyên nhân gõy mự đứng thứ hai, sau đục thể thuỷ tinh. Theo các nghiên
cứu mang tính dự báo ước tính sẽ có khoảng 80 triệu người mắc bệnh glụcụm
vào năm 2020, chiếm 2,86% số dân hơn 40 tuổi trên thế giới, trong đó có
khoảng 11,2 triệu người bị mù do bệnh. Tại nước ta, tuy chưa có một nghiên
cứu mang tính toàn quốc, nhưng theo báo cáo kết quả nghiên cứu của Đỗ Như
Hơn và cộng sự năm 2007 tại 16 tỉnh, thành trong cả nước, tỷ lệ mù do bệnh
glụcụm ở những người ≥ 50 tuổi là 6,5%, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân
gõy mự [2].
Chẩn đoán sớm bệnh glụcụm là một khâu quan trọng góp phần phòng
tránh mù lòa do bệnh này gây ra. Để chẩn đoán glụcụm các nhà nhãn khoa
dựa vào ba yếu tố chính là nhãn áp, tình trạng đầu thị thần kinh và thị trường.
Trong đó tổn thương thị trường đặc hiệu glụcụm là một trong ba dấu hiệu
quan trọng, ngoài việc giúp xác định chẩn đoán, nú cũn giỳp theo dõi, đánh
giá sự tiến triển và đề ra hướng xử trí của bệnh.
Từ thế kỉ thứ 3 trước công nguyên, Hippocrates là người đầu tiên tiến
hành đo thị trường và ụng đó ghi nhận được những tổn thương thị trường do
bán manh gây ra [6][31]. Sau ông, nhiều nhà khoa học khác cũng tìm cách
tiến hành đo thị trường bằng nhiều phương pháp khác nhau nhưng chung qui
chúng đều thuộc hai phương pháp chính, đó là phương pháp đo thị trường
2
động và phương pháp đo thị trường tĩnh. Cùn với các phương pháp đo trên là
1.1 . GIẢI PHẪU - SINH LÝ VÕNG MẠC, ĐẦU DÂY THẦN KINH THỊ
GIÁC VÀ BỆNH SINH CỦA TỔN THƯƠNG THỊ TRƯỜNG TRONG
BỆNH GLễCễM.
1.1.1 Giải phẫu - sinh lý võng mạc, đầu dây thần kinh thị giác.
Người ta chia võng mạc ra làm 2 phần: phần ngoài gồm lớp biểu mô sắc
tố (BMST) và lớp tế bào thần kinh cảm thụ gọi là võng mạc cảm thụ, được nuôi
dưỡng bởi mao mạch hắc mạc. Phần trong là võng mạc có chức năng dẫn
truyền, được nuôi dưỡng bởi hệ mạch máu của võng mạc [4], [6], [35].
* Phần ngoài:
- Lớp BMST: Chỉ có một lớp tế bào hình lục giác màu nâu nhạt. Mặt
ngoài tựa vào màng Bruch, mặt trong có những tua, tiếp xúc với lớp tế bào
cảm thụ. Mặt bên của tế bào cũng được gắn chặt với nhau.
- Lớp tế bào thần kinh cảm thụ: Gồm 2 loại tế bào: tế bào nón và tế bào
que. Tế bào que đáp ứng nhạy với ánh sáng yếu, tế bào nón có chức năng
phân biệt mầu sắc và thị lực tinh tế.
* Phần trong: là phần võng mạc dẫn truyền bao gồm 3 loại neuron: tế bào
lưỡng cực, tế bào liên hợp vào tế bào hạch
- Tế bào lưỡng cực: Các tín hiệu ánh sáng khi đến võng mạc sẽ được
các tế bào quang thụ chuyển đổi thành các tín hiệu điện và được dẫn truyền
qua các sợi trục của các tế bào này đi qua sinap và được tiếp nhận bởi các tế
bào lưỡng cực.
4
- Các tế bào liên hợp: gồm các tế bào liên kết ngang, tế bào Amarcrin.
Các tế bào liên kết ngang có tác dụng liên hợp và điều hoà các tín hiệu từ các
tế bào quang thụ, cũn cỏc tế bào Amacrin có tác dụng liên hợp hoạt động và
dẫn truyền tín hiệu (70% tổng số tín hiệu) cho các tế bào hạch đồng thời điều
hoà tín hiệu của các tế bào lưỡng cực.
Hình 1.1. Cấu tạo võng mạc[35]
năng của loại tế bào hạch lớn này để xác định tổn thương thị trường [35],[62].
+ Tế bào hạch nhỏ hay tế bào Midget: có kích thước nhỏ chiếm khoảng
80% tổng số tế bào hạch, chịu trách nhiệm dẫn truyền xung động đến lớp
Parvo của thể gối ngoài. Chỳng cú tốc độ dẫn truyền chậm, đáp ứng tốt với sự
thay đổi màu sắc, nhưng chúng đáp ứng kém với ánh sáng có độ tương phản
thấp, chỉ đáp ứng với ánh sáng có độ tương phản cao [35],[62].
+ Các loại tế bào hạch khác như Bistratified, tế bào hạch cảm
thụ,…chiếm khoảng 10% tổng số tế bào hạch [35],[62].
Đường dẫn truyền thị giác được bắt đầu từ những tế bào hai cực. Tế bào
hai cực có những sợi gai tiếp xúc với những tế bào cảm thụ thị giác (tế bào
que và tế bào nón) và các sợi trục tiếp xúc với những tế bào hạch của võng
mạc. Các sợi trục của tế bào hạch vượt qua bề mặt của võng mạc, tập trung ở
đĩa thị và tạo nên dây thần kinh thị giác. Các sợi thần kinh võng mạc được
phân bố như sau [59]:
6
Hình 1.2: Phân bố lớp sợi thần kinh võng mạc[59]
- Các sợi xuất phát từ vùng hoành điểm, xung quanh hố trung tâm hoàng
điểm hình thành nờn bú gai thị - hoàng điểm, tiến về phía thái dương của đầu
thị thần kinh. Bó này tương ứng với vùng thị trường 10 độ xung quang điểm
định thị.
- Các sợi từ vùng võng mạc phía mũi chia thành hai bó: Bó mũi trên và
bó mũi dưới được chia ra theo đường kinh tuyến ngang.
- Những sợi trục từ phần còn lại của võng mạc cong lên thành hình cung
xung quanh bó gai thị – hoàng điểm, ôm lấy bó này ở phía trên và phía dưới
tạo ra bó hình cung phía trên và bó hình cung ở phía dưới. Hai bó này chui
Thị thần kinh
Võng mạc
vậy, khi những lớp tế bào hình sao và lá sàng bị ép dẹp xuống do áp lực nội
nhãn, có thể gây biến dạng, phá vỡ hoặc chuyển hướng các mạch máu dẫn
đến tổn thương sợi trục thần kinh của đầu đĩa thị [14],[43].
Lớp trước lá sàng nhận các sợi thần kinh khi chúng quặt ra phía sau, từ
bình diện võng mạc đến bình diện hắc mạc. Cấp máu cho lớp này là nhánh
của động mạch mi ngắn sau [14],[43].
Lớp thứ 3 (lá sàng) là một mô liên kết có những lỗ thủng để cho các sợi
thần kinh đi ra khỏi mắt. Về mặt mô học, lá sàng gồm 10 tấm mô liên kết
thủng lỗ xếp chồng lên nhau. Cấp máu cho lá sàng là động mạch mi ngắn sau
[14],[43].
Phần lá sàng của thị thần kinh đi từ lá sàng ra phía sau. Cấp máu cho
phần này của thị thần kinh là cỏc nhỏnh của động mạch màng não và một số
nhánh quặt ngược của động mạch trung tâm võng mạc [14],[43].
Các sợi trục của tế bào hạch sau khi tập trung ở đĩa thị để tạo nên dây thần
kinh thị giác sẽ đi theo ống thị giác, qua giao thoa thị giác rồi tận cùng ở thể gối
ngoài, củ não sinh tư trên và một số trung tâm xác định ở não giữa. Từ đõy, cú
những sợi tỏa ra tạo thành tia thị giác đến tận cùng ở vỏ não thùy chẩm.
1.1.2. Cơ chế bệnh sinh của tổn thương thị thần kinh do glụcụm .
Tổn thương đầu thị thần kinh trong bệnh glụcụm do nhiều yếu tố nguy cơ
khác nhau gây nên. Ta có thể tóm tắt như sơ đồ hình 1.4: [56]
Khi sợi trục tế bào hạch bị tổn thương, gây ra hiện tượng mất hoặc giảm
xung động dẫn truyền từ võng mạc lờn nóo và vì vậy, bệnh nhân không cảm
nhận được ánh sáng khi ta chiếu kích thích vào mắt dẫn đến hình ảnh tổn
thương khi làm thị trường. 9
Rối loạn
oxy hoá
Hoạt hoá
NOS2
Giải
phóng
glutamat
Tăng
cường
hoạt hóa
yếu tố
αTNF
Thay đổi
lưới
ngoại
bào
Cơ chế gây chết tế bào hạch từ từ
theo chương trình
Tăng
cường
hoạt hóa
thụ thể
glutamat
Rối loạn
oxy hoá
Hoạt hoá
NOS2
Flocks (1955), Friendmann (1962), Khi đo thị trường bằng thị trường kế tĩnh
thế hệ ban đầu này, các công việc chủ yếu do người kỹ thuật viên làm bằng tay.
Do vậy, mỗi lần làm thị trường đòi hỏi mất nhiều thời gian, đồng thời kết quả
đo ít nhiều bị ảnh hưởng bởi kỹ thuật viên [6], [15], [34].
Để thay thế công việc của người kỹ thuật viên các thế hệ máy mới người
ta đó dựng một máy vi tính kết nối với máy đo thị trường tạo ra một máy đo
thị trường tĩnh, tự động hoàn toàn. Vì vậy, kết quả đo thị trường ít bị ảnh
hưởng ngoại trừ một số yếu tố khi hướng dẫn bệnh nhân cách tiến hành đo…
Đó là cỏc mỏy Competer của Heijl và Krakan (1975), Octopus (1976),
Perimetron (1981), Humphrey Field Analyzer. Cho đến nay, thị trường kế
chuẩn SAP là một khám nghiệm chức năng thường hay sử dụng nhất để đánh
giá tổn thương thị trường trong bệnh glụcụm. Tuy nhiên, theo nhiều nhóm tác
giả, máy thị trường kế SAP vẫn còn nhiều hạn chế như thời gian tiến hành đo
11
lâu, kết quả giữa các lần khám nghiệm chưa ổn định, khả năng phát hiện sớm
tổn thương chưa cao, chỉ phát hiện được tổn thương thị trường khi lớp sợi trục
tế bào hạch mất từ 30% đến 50% trở lên,[6],[22],[32],[41]. Do vậy, để khắc
phục các hạn chế trên đòi hỏi cần có một loại thị trường kế mới ra đời.
Năm 1997, hãng Welch Allyn đã cho ra đời loại thị trường kế Frequency
doubling technology perimetry (FDT perimetry) và được Kelly mô tả đầu
tiên. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, loại máy này có nhiều ưu điểm như dễ
ràng sử dụng, kết quả ít thay đổi giữa các lần khám nghiệm và có độ nhậy, độ
đặc hiệu cao trong việc phát hiện sớm tổn thương bệnh glụcụm
[22],[27],[28],[39], …Tuy nhiên ở thế hệ đầu tiên này có nhiều hạn chế như
kích thước vật tiêu lớn, số điểm làm test ớt,… nờn khó có thể phát hiện được
những tổn thương nhỏ vì vậy khó xác định tổn thương nhỏ trong tiến triển của
bệnh glụcụm. Để khắc phục hạn chế trên năm 2003, thị trường kế FDT
perimetry thế hệ thứ 2 ra đời mang tên Humphrey matrix. Thế hệ máy này có
nhiều ưu điểm hơn thế hệ trước như có màn hình theo dõi bệnh nhân định thị,
trường kế Humphrey Matrix với chiến lược ZEST và cho rằng máy
Humphrey Matrix có khả năng chẩn đoán glụcụm tương tự SAP.
Đến nay, ở Việt nam, chưa có công trình nào nghiên cứu về tính ưu việt
của máy Humphrey Matrix trong việc phát hiện tổn thương và theo dõi bệnh
glụcụm. Chớnh vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này.
1.3. GIỚI THIỆU MÁY VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỊ
TRƯỜNG KẾ TỰ ĐỘNG HUMPHREY MATRIX [10], [26],[40], [47], [52]
13
Đây là máy đo thị trường kỹ thuật tần số kép thuộc thế hệ thứ 2 do hãng
Welch Allyn - Mỹ sản xuất.
1.3.1. Cấu tạo máy: máy được cấu tạo gồm:
- Một thõn mỏy cú gắn luôn cả máy tính cùng một màn hình để theo
dõi bệnh nhân nhìn thẳng và định thị.
- Một bàn phím điều khiển và một nút bấm bằng tay của bệnh nhân để
trả lời kết quả khi bệnh nhân nhìn thấy tiờu sỏng. Hai bộ phận này
được kết nối với máy qua dây cáp.
1.3.2. Nguyên lý hoạt động máy
Tiêu kích thích là một ụ cú kích thước 5 độ vuông , bao gồm những cách
tử uốn lượn hình sin ở tần số không gian thấp (0,5 chu kỳ / độ). Cỏc cỏch tử
này được tạo thành hình ảnh cảm giác nhân đôi (tần số kép) khi con cách
được nháy đối pha ở tần số cao (18Hz). Đây là một hiện tượng ảo thị. Người
ta đã xác định rằng, nhóm tế bào hạch lớn chịu trách nhiệm dẫn truyền các
kích thích này đưa lên não và tạo ra hiện tượng ảo thị này. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng, nhóm tế bào hạch lớn bị tổn thương sớm trong bệnh glụcụm.
Khi tế bào hạch lớn bị tổn thương, làm cho sự dẫn truyền kích thích yếu đi
hoặc mất. Do vậy, khi tiêu kích thích xuất hiện, nóo khụng cảm nhận được
hình ảnh tần số kép này và vì vậy khi đo thị trường sẽ tạo ra hình ảnh tổn
thương trên thị trường. (hình 1.5, hình 1.6)
tâm 5 độ), các test này sử dụng chiến lược xác định ngưỡng tối ưu hóa mang
tên ZEST (Zyppy Estimate of Sequential Testing) nhằm cung cấp một kết quả
xác định ngưỡng chính xác và nhanh nhất. Chiến lược ZEST cũng giống như
chiến lược SITA được sử dụng trong máy phân tích thị trường Humphrey
nhưng nú khỏc ở các chi tiết thuật toán đặc biệt.
1.3.3.3. Test nửa thị trường (Glaucoma hemifield test:GHT):
Khám nghiệm nửa thị trường là khám nghiệm so sánh cường độ cảm
thụ tại 5 vùng đối xứng nhau giữa hai nửa thị trường để tìm ra sự không đồng
đều giữa hai nửa thị trường. Sự khác biệt giữa hai nửa thị trường trong khám
nghiệm này tương đối đặc trưng trong bệnh glụcụm.
Kết quả của khám nghiệm này sẽ đưa ra một trong ba kết quả sau:
- Outside normal limits: Ngoài giới hạn bình thường.
- Borderline: Ranh giới giới hạn.
- Within normal limits: Trong giới hạn bình thường.
1.3.4. Phương pháp xác định ngưỡng [61]:
Để xác định ngưỡng người ta dựa vào phương pháp tìm kiếm nhị phân.
Cách xác định ngưỡng được mô phỏng như sau (hình 1.7): Giả sử dãy ánh
sáng đầu tiên đi từ 0 đến 20dB, máy sẽ cho xuất hiện tiờu sỏng cú cường độ
10dB, bệnh nhân không nhìn thấy do vậy bệnh nhân trả lời không. Sau đó,
tiếp tục, máy lại coi dóy sỏng tiếp theo là đi từ 0 đến 10dB và máy sẽ cho
xuất hiện tiờu sỏng cú cường độ một nửa dãy số đó là 5dB. Khi đó, bệnh nhân
nhìn thấy và trả lời là có. Tiếp tục máy lại coi dóy sỏng tiếp theo là đi từ 5dB
đến 10dB và máy sẽ cho xuất hiện tiờu sỏng cú cường độ một nửa dãy số đó
là 7,5dB. Lúc này bệnh nhân không nhìn thấy và trả lời là không và như vậy
16
ngưỡng tại vị trớ đú được xác định là một nửa của dãy số đi từ 5dB đến 7,5dB
đó là 6,25dB.
2
1.3.7. Những chỉ số đánh giá độ tin cậy của kết quả đo thị trường
1.3.7.1. Mất định thị (Fixation Losses):
Chỉ số này nhằm theo dừi khả năng định thị của bệnh nhân. Chỉ số này
càng thấp thì độ tin cậy của test càng cao. Trong quá trình kiểm tra, thị trường
kế Humphrey matrix định kỳ đưa ra những kích thích tương ứng với vị trí
điểm mù nhằm kiểm tra khả năng định thị của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân đáp
ứng, máy sẽ ghi lại một giá trị mất định thị. [32]
1.3.7.2. Lỗi dương tính giả và âm tính giả (False Negative và False Positive errors)
Lỗi dương tính giả được xác định khi bệnh nhân có đáp ứng kích thích
mà thực tế không có một kích thích nào được đưa ra. Trong quá trình đo, cứ
khoảng 30 kích thích lại có một lần máy kiểm tra lỗi dương tính giả. [32].
18
Lỗi âm tính giả được máy xác định như sau: thỉnh thoảng, tại các vị trí đo
mà mỏy đó xác định được ngưỡng cảm thụ từ trước, máy đo cho xuất hiện
kích thích nhắc lại với độ chiếu sáng lớn hơn nhiều so với ngưỡng trước đó.
Nếu bệnh nhân không đáp ứng, máy ghi nhận một lần âm tính giả. Chỉ số này
cao chứng tỏ bệnh nhân không tập trung hoặc bệnh nhân quá mệt mỏi. Tuy
nhiên, nó cũng có thể xuất hiện trong trường hợp có tổn thương thực sự của
thị trường [6],[32]
1.4. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐO THỊ TRƯỜNG
1.4.1. Tuổi :
Bình thường, mức độ cảm thụ ánh sáng phân biệt giảm dần theo tuổi. Sự giảm
sút này bắt đầu xuất hiện từ năm 20 tuổi và cứ 10 năm lại giảm 0,6dB. [38]
1.4.2. Tật khúc xạ :
Tật khúc xạ ảnh hưởng rõ ràng đến kết quả đo thị trường. Loạn thị lớn hơn
một đi ốp có thể gây ra những ám điểm chu biờn phớa thái dương. Loạn thị có
thể gây ra một tổn hại tỏa lan…[36]
Giảm cảm thụ ánh sáng phân biệt toàn bộ không đặc hiệu trong glụcụm, nú có
thể gặp trong các trường hợp đục các môi trường trong suốt, đặc biệt là đục
thủy tinh thể và co đồng tử [25],[44]. Ngoài ra, ở một trừng mực nào đó, nó
cũng xuất hiện một cách sinh lý khi lão hóa. Chính vì vậy, tổn thương này
20
được nghĩ đến nguyên nhân do glụcụm khi có những triệu chứng đặc hiệu của
bệnh glụcụm đi kèm như: nhãn áp cao, teo lõm đĩa thị giỏc…
* Các tổn hại khu trú: Hình thể cũng như vị trí của các tổn hại khu trú
phụ thuộc chính xác vào bó sợi thần kinh nào bị tổn thương. Nói chung, các
tổn hại khu trú dễ nhận biết hơn so với tổn hại tỏa lan do có thể so sánh giữa
các điểm bất thường và các điểm bình thường xung quanh. Tổn hại khu trú
được thể hiện bởi các chỉ số về độ lệch khu trú PSD. Khi các ám điểm nhỏ,
chỉ có những chỉ số này mới bị rối loạn. Trường hợp ám điểm lớn thì ngoài
rối loạn của những chỉ số về độ lệch khu trú cũn cú sự tổn hại của độ lệch
trung bình MD.
MD
PSD
Bình thường
Bất thường
Bình thường
Thị trường bình thường
Có tổn hại tỏa lan
Bất thường
Có ám điểm nhỏ
Có ám điểm lớn và có thể
có tổn hại tỏa lan.
Các tổn hại khu trú bao gổm:
1. Tính chất không đồng đều của thị trường: Tính chất này thể hiện khi
có những điểm bình thường và bất bình thường ở cạnh nhau mà những điểm
7. Đảo thị trường trung tâm hoặc phía thái dương: Trong giai đoạn
muộn của glụcụm, phần lớn các sợi trục bị phá hủy trừ vùng hoàng điểm và
một vài sợi phía mũi là còn chức năng. Điều này giải thích cho sự tồn tại một
đảo thị giác nhỏ ở trung tâm xung quanh điểm định thị và một phần nhỏ ở
phía thái dương của thị trường.
22
1.5.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh glụcụm dựa vào tổn thương thị
trường: theo Anderson và Patella (1999) [11],[51] để chẩn đoán tổn
thương thị trường trong bệnh glụcụm cần dựa vào 3 tiêu chuẩn sau:
- Cụm 3 điểm cạnh nhau ≤ 5%, trong đó có 1 điểm ≤ 1% (không sát
rỡa trờn thang độ lệch hiệu chỉnh)
- PSD < 5%.
- GHT bất thường.
Nếu có 2/3 tiêu chuẩn thì được chẩn đoán là có tổn thương thị trường.
Nếu có 1 tiêu chuẩn thì cần theo dõi.
1.5.4. Phân loại tổn thương trên thị trường kế Humphrey theo Hodapp
E., Parrish R.K., Anderson D.R.(1993) [37],[51]
+ Giai đoạn 0: Không có tổn thương thị trường hoặc tổn thương
rất nhỏ trên đối tượng tăng nhãn áp.
Không gặp bất kỳ tiêu chuẩn nào của giai đoạn 1.
+ Giai đoạn 1: Giai đoạn sớm.
Chỉ số MD giảm không quá 6dB cùng với một trong ba tiêu chuẩn sau:
- Cụm 3 điểm cạnh nhau ≤ 5%, trong đó có 1 điểm ≤ 1% (không
sát rỡa trờn thang độ lệch khu trú)
- PSD < 5%.
- GHT ngoài giới hạn bình thường.
+ Giai đoạn 2: Giai đoạn trung bình.
Chỉ số MD giảm trên 6dB nhưng không quá 12dB cùng với một
trong ba tiêu chuẩn sau:
trường với những yếu tố lâm sàng như gai thị, nhãn áp, tiền sử gia đình, tổn
hại hắc võng mạc… để qui một tổn thương nào đó do glụcụm. Cỏc nguyên
nhân sau đây có thể gây ra một tổn hại khu trú giống tổn hại glụcụm:
- Các tổn hại của đầu thị thần kinh, võng mạc .
- Bệnh lý của thị thần kinh hoặc của giao thoa thị giác.
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Glụcụm bệnh viện mắt Trung Ương
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là mắt của bệnh nhân có đủ tiêu
chuẩn lựa chọn nghiên cứu dưới đây:
2.2.1.Tiêu chuẩn lựa chọn
Đối tượng được lựa chọn khi có đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
- Được chẩn đoán xác định hoặc nghi ngờ là glụcụm gúc mở nguyờn
phỏt
- Đã được làm thị trường chuẩn SAP trước đó để chẩn đoán bệnh glụcụm.
- Có thị lực lớn hơn hoặc bằng 5/10.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Kết quả đo thị trường phải đảm bảo cú cỏc chỉ số tin cậy như mất định
thị, lỗi dương tính giả, âm tính giả ≤ 20 %
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Người ốm yếu, có bệnh mãn tính lâu ngày không đủ điều kiện sức khỏe
để đo thị trường.
- Bệnh nhõn phối hợp không tốt (nhận thức kộm) vỡ có thể sẽ đem lại
những kết quả thiếu chính xác.
- Ở mắt nghiên cứu có một hoặc nhiều yếu tố sau: