Nghiên cứu tác dụng điều trị của kem hameselaphin tại chỗ vết bỏng nông - Pdf 19


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Bỏng là chấn thương song hành với sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài người. Bỏng gây tử vong cao và đặc biệt để lại nhiều hậu quả nặng nề về
chức năng, thẩm mỹ, tinh thần và kinh tế không chỉ với nạn nhân, gia đình mà
với toàn xã hội.
Tổn thương bỏng là nguồn gốc của tất cả các rối loạn bệnh lý xảy ra
của bệnh bỏng [6]. Điều trị tổn thương bỏng có vai trò quan trọng. Việc che
phủ sớm vết thương bỏng bằng thuốc đắp tại chỗ và các vật liệu sinh học thay
thế da tạm thời có tác dụng giảm đau cho bệnh nhân, hạn chế nhiễm khuẩn vết
thương, giảm sự mất máu, mất dịch thể qua vết bỏng, tạo thuận lợi cho quá
trình biểu mô hoá liền vết thương bỏng nông.
Trong những năm gần đây đã có nhiều thành tựu trong nghiên cứu về
sinh học, hoá sinh học, mô tế bào của vết thương bỏng . Những tiến bộ này đã
đem lại kết quả khả quan nh- nguyên bào sợi, tế bào sừng .
Hiện nay, chóng ta đang sử dụng nhiều thuốc đắp tại chỗ có hiệu quả
như Silver sulfadiasin, Flamazine, Hebermin, các vật liệu sử dụng công
nghệ na nô như Acticoat, Nano Ag, Aquacel Ag, một số vật liệu sinh học
như trung bì da lợn, da Õch, màng chitosan, Tuy nhiên, những vật liệu này
giá thành cao, không phù hợp với thu nhập của đại đa số người Việt Nam và
đã có biểu hiện kháng thuốc.Từ rất xưa con người đã biết đến việc điều trị tại
chỗ tổn thương bỏng bằng thảo mộc. Hiện nay, tại Viện Bỏng Quốc gia thuốc
nam đã và đang được ứng dụng điều trị nh- mì maduxin, kem berberin
Cùng với trào lưu sử dụng thuốc y học cổ truyền nghành y dược thế giới
nghiên cứu kết hợp kế thừa thành tựu của y học cổ truyền, sử dụng những cây

2
dược liệu sẵn có trong nước với công nghệ hiện đại, kết quả đã có nhiều bài
thuốc dân tộc được đưa vào sử dụng điều trị bỏng, cho kết quả khả quan.

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Cấu tạo và chức năng sinh học của da
Da là một màng mô dai, mềm dẻo che phủ toàn cơ thể người, một cơ
quan có diện tích rộng nhất cơ thể (ở trẻ sơ sinh khoảng 0,25m
2
, ở người lớn
khoảng 1,6 - 2,0 m
2
). Da so với trọng lượng cơ thể chiếm 4-6%, nếu kể cả lớp
mỡ dưới da thì chiếm 16-17,7%.
Da có cấu trúc khá phức tạp, một khối tổng hợp có 3 lớp: biểu bì, trung
bì, hạ bì kết hợp chặt chẽ với nhau thành các lớp mô bao phủ mang tính chun
dãn (về các phía)- nhớt – tạo hình. Da có các lớp biểu mô, mô liên kết, các
tuyến và gốc lông, thớ cơ, đầu tận các dây thần kinh, lưới mạch máu và bạch
mạch. Mặc dù các lớp hoạt động như một khối thống nhất, nhưng mỗi lớp có
những chức năng đặc trưng [20],[6],[22]. Vì thế, tiêu chuẩn để thiết kế vật
liệu sinh học thay thế da điều trị vết thương, vết bỏng cần phải đáp ứng được
một số chức năng: che phủ bảo vệ, tham gia liền vết thương
1.1.1. Lớp biểu bì (Epidermis)
Lớp mỏng (dầy 0,07- 1,8 mm), nằm ngoài cùng được gọi là lớp biểu bì .
Lớp này gồm chủ yếu là các tế bào biểu mô xếp dính chặt chẽ với nhau. Trong
lớp biểu bì có 4 loại tế bào là: tế bào sừng (keratinocyte), tế bào sắc tố
(melanocyte), tế bào Langerhans và tế bào Merkel, trong đó, tế bào sừng chiếm
tỷ lệ chủ yếu. Lớp biểu bì gồm 6 lớp: lớp mầm, lớp tế bào gai, lớp tế bào có hạt
keratohyalin, lớp tế bào trong suốt, lớp tế bào sừng, lớp vẩy sừng [6], [22].
- Lớp mầm (stratum germinatum): gồm các tế bào biểu mô to cao hình
lục lăng hoặc hình trụ. Những tế bào sừng của lớp mầm hay lớp đáy (basal


6
Chức năng của lớp biểu bì: ngăn chặn, bảo vệ không cho vi khuẩn, các
bức xạ cực tím xâm nhập vào sâu trong da; ngăn chặn không để da khô, cân
bằng dịch; thụ cảm thần kinh, giao tiếp xã hội
1.1.2. Líp trung bì (Dermis)
Líp trung bì dầy 0,7- 7mm, tuỳ vị trí trên cơ thể, chiều dầy lớp trung bì
thường lớn hơn chiều dầy lớp biểu bì 15- 40 lần. Trung bì là một lớp xơ rất
chắc được cấu tạo về mô học bởi chất nền mô liên kết, các tế bào mô liên kết,
sợi collagen và sợi chun, các tuyến ống và nang lông, cơ dựng lông, mạch
máu, thần kinh. Về tế bào, đặc trưng của trung bì là nguyên bào sợi
(Fibroblasts), được coi là “tế bào chủ” (master cell) của trung bì. Trung bì
gồm 2 lớp: lớp nông còn gọi lớp nhú (papillary region) và lớp sâu hay lớp
lưới (reticular region). Vùng tiếp giáp giữa trung bì và biẻu bì có màng nền
hay màng đáy (basement membrane) [6], [22].
Lớp nhú là một lớp mỏng nằm ngay sát dưới màng đáy và lớp tế bào
mầm của màng đáy hình thành nhiều gai nhú gồ lên hình làn sóng. Trong mỗi
nhú có cuộn mao mạch và vi thể Meissner là đầu cùng thần kinh xúc giác. Tại
lớp nhú, tập trung nhiều nguyên bào sợi (NBS), các tế bào này tăng trưởng
nhanh, có hoạt tính chuyển hoá cao và tổng hợp ra nhiều protein kết dính
quan trọng để gắn tế bào biểu mô vào màng đáy, giúp các tế bào biểu mô di
chuyển và tái tạo. Giữa các lớp biểu bì và lớp nhú có sự trao đổi về cytokine,
các yếu tố tăng trưởng qua thụ cảm xuyên màng (transmembrane receptors).
Lớp nhú trung bì được ví như một nhà máy lớn cung cấp các protein chỉ huy
sự tái tạo các tế bào biểu mô [6], [20].
Lớp lưới dầy 4-5 mm, có Ýt các yếu tố tế bào và mạch hơn so với lớp
nhú. Lớp lưới chứa các bó sợi liên kết gồm các sợi collagen, sợi chun.
Màng đáy hay màng nền (basement membrane) là cấu trúc mô liên kết
nằm ở đường gờ, dưới tế bào mầm của biểu bì, diện trên của nhú trung bì.


- Laminin là chất gắn tế bào với chất nền mô liên kết ở các màng nền
- Vitronectin là chất gắn phủ các sợi chun giãn (trừ sợi oxytalan)
- Tenastin là chất gắn phủ quanh cơ trơn của các mạch máu, cơ dựng
lông, các tuyến mồ hôi, lớp lá dưới biểu bì [6], [22].
Các tế bào ở trung bì: NBS, TB sợi (fibrocyte), đại thực bào (ĐTB),
dưỡng bào (mast cell). Các TB này thường trú tại trung bì, tập trung với tỷ
trọng cao ở vùng nhú, ở quanh các mạch máu của đám rối mạch máu dưới lớp
nhú. ở lớp lưới trung bì, khe giữa các bó sợi tạo keo, còn thấy các TB lympho,
TB quanh mao mạch (pericyte), TB quanh tĩnh mạch (veil cell) và TB
Schwann bao quanh các sợi thần kinh. Trong số các TB ở trung bì, NBS
chiếm thành phần chủ yếu. NBS là tế bào có vai trò quan trọng nhất, do nó
sản xuất chủ yếu các thành phần ở trung bì, đồng thời tham gia điều tiết quá
trình liền vết thương. Vì thế, NBS là tế bào được quan tâm nghiên cứu nhiều
và có nhiều ứng dụng trong liền vết thương.
Chức năng của trung bì: lớp trung bì có vai trò nuôi dưỡng và định hướng
quá trình tăng sinh, biệt hoá ở lớp biểu bì. Các thành phần mô liên kết trung bì
đảm bảo tính đàn hồi, mềm dẻo, phục hồi hình thể sau các cử động, phục hồi lại
cấu trúc mô khi da bị tổn thương. Các tế bào ở lớp trung bì sản xuất lượng lớn
các yếu tố tăng trưởng và cytokines tham gia đáp ứng miễn dịch và liền vết
thương. Ngoài ra, líp trung bì còn có các chức năng: điều chỉnh thân nhiệt, bài
tiết đào thải chất bã, chất độc, nhận cảm nóng, lạnh, áp lực [22].
1.1.3. Lớp hạ bì (hypodermis, subcutis):
Là lớp mô liên kết – mì (adipose connective tissue). Các phần phụ của
biểu bì như gốc lông, tuyến mồ hôi nằm cả ở hạ bì. Mạng lưới mạch- thần

9
kinh của da cũng xuất phát từ hạ bì Tại lớp hạ bì có một mạng lưới mạch
máu và bạch mạch phong phú. Các nhánh mạch đi từ lưới mạch ở hạ bì lên
trung bì [6], [22].


Chấn thương bỏng, chấn thương cơ học hoặc do phẫu thuật làm phá huỷ
cấu trúc mô, gây nên chảy máu. Khi máu chảy tại vết thương tiếp xúc với
collagen vết thương sẽ làm hoạt hoá, ngưng kết tiểu cầu và hoạt hoá các yếu tố
đông máu. Tiểu cầu bị hoạt hoá là tế bào chiếm ưu thế trong giai đoạn sớm ngay
sau khi tổn thương, tiết ra các cytokine tiền viêm và yếu tố tăng trưởng như
TGF-β, PDGF. Các yếu tố này hoá ứng động các tế bào: bạch cầu đa nhân trung
tính (BCĐNTT), ĐTB, NBS xâm nhập vết thương [22], [52], [57], [70], [53].
Giai đoạn viêm bao gồm: tạo cục máu đông và tăng tính thấm thành
mạch để cho các tế bào máu và các protein chủ chốt của quá trình liền vÕt
thương như, fibronectin và fibrin vào mô. Cục máu đông cùng với các protein
này tạo thành giá đỡ tạm thời để các tế bào xâm nhập vết thương. Dòng máu
tăng lên, sự xuyên mạch xảy ra, BCĐNTT tập trung tại vết thương trong vòng
vài phút để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn. Đối với những vết thương
sạch, không bị bội nhiễm, số lượng BCĐNTT sẽ giảm nhanh sau 3 ngày [64],
[72].
Tế bào tiếp theo xâm nhập vết thương là ĐTB, chúng có mặt tại vết
thương sau 48-96 giờ, đạt đỉnh điểm ở ngày thứ 3 sau tổn thương. ĐTB có
thời gian tồn tại lâu hơn so với BCĐNTT, chúng có thể có ở vết thương cho
đến khi vết thương khỏi. ĐTB có chức năng thực bào các vi khuẩn và các mô
chết tại vết thương, tiêu hoá chúng. ĐTB còn tiết ra bFGF ( yếu tố có tác dụng
hoá ứng động và kích thích phân chia NBS và tế bào nội mạch ),tiết IL-1 kích
thích nhiều tế bào tăng sinh, trong đó có các tế bào viêm và tế bào nội mạch.
Giảm số lượng ĐTB có thể gây ra rối loạn liền vết thương, do giảm khả năng
làm sạch vết thương và giảm tăng sinh NBS và giảm tân tạo mạch [66], [70],
[72].

12
1.2.2. Giai đoạn tăng sinh (proliferative phase): bắt đầu từ ngày thứ 2
Khi vết thương không có dấu hiệu nhiễm trùng, vết thương đã được
làm sạch, loại bỏ mô chết hoặc khi giai đoạn viêm ngắn thì giai đoạn tăng

(organized) thành các bó (bundles). Các bó này xếp song song dọc theo bề
mặt vết thương làm tăng độ bền vững của mô [66], [70], [102].
NBS còn sản xuất các thành phần khác của chất nền mô liên kết trung
bì nh-: fibronectin, hyaluronic acid và các glycosaminoglycans [77].
Các thành phần của chất nền mô liên kết trung bì có chức năng, là môi
trường giúp cho các cytokine và yÕu tố tăng trưởng hoạt động ; môi trường
tương tác, truyền đạt thông tin giữa chất nền mô liên kết và tÕ bào (cell-
matrix interaction); điều tiết các giai đoạn liền vết thương [40], [66], [74],
[83].
1.2.2.3. Tân tạo mạch
ĐTB tiết ra các yếu tố kích thích tân tạo mạch, thông qua hoá ứng động
NBS, và tế bào nội mạch . Các tế bào nội mô tăng sinh và tạo ra các mầm
mao mạch. Các mầm mao mạch tạo ra một mạng lưới các quai mao mạch đứt
quãng để tạo ra nền cho mao mạch mới. Nếu mép vết thương hẹp, mao mạch
có thể tạo cầu nối cho mép vết thương. Tái tạo mạch của da ghép cũng là kết
quả của quá trình này, khi các mao mạch mới trên bề mặt xuất hiện sẽ xâm
nhập vào lớp trung bì của mảnh ghép và thực sự liên kết với mao mạch trung
bì của da ghép [66], [85].
Biểu mô hoá sớm sẽ hạn chế mức độ ứ máu của vết thương và các tín
hiệu kích thích tân tạo mạch sẽ giảm và mất đi [70].
1.2.2.4. Tăng sinh biểu mô (biểu mô hoá).
Với bỏng nông, biểu mô hoá là quá trình then chốt của liền vết thương.
Khi đó, các tế bào ở lớp mầm biểu bì sẽ tăng sinh để biểu mô hoá. Lớp trung

14
bì của da tiếp tục tăng trưởng, làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, và định hướng quá
trình biểu mô hoá ở lớp biểu bì.
Nếu mÊt trung bì do bỏng sâu, quá trình tăng sinh biểu mô hoá nhờ vào
các tế bào biểu mô ở vùng xung quanh vết thương, hoặc nhờ phẫu thuật ghép
da. Để các tế bào biểu mô di cư vào vết thương và tăng sinh, quá trình này rất

trò chính trong co kéo vết thương, vì thế nếu kiểm soát được quá trình biệt
hoá thành NBS cơ sẽ hạn chế được sẹo co kéo vết thương. Việc điều trị sẹo co
kéo vẫn chủ yếu là phẫu thuật. Trứơc khi phẫu thuật phải khẳng định sẹo đã
ổn định chưa. Sẹo chưa ổn định, cứng (do vẫn còn các tế bào viêm và NBS
cơ) sẽ gây nên co kéo thứ phát sau phẫu thuật [22], [66], [70] ,[91].
Trong giai đoạn tăng sinh: các sợi fibrin ở cục máu đông và chất nền tạm
thời (provisional matrix) sẽ giáng hoá và được thay thế bằng mô hạt mới (cấu
trúc: collagen, chất nền mô liên kết ngoại bào, các mạch máu…). Mô hạt được
tiếp tục sản xuất đến khi tổn thương được che phủ. Khi lượng axit hyaluronic
trong chất nền tạm thời giảm và tăng nồng độ chondrotin sulfate, đó là dấu hiệu
NBS giảm di cư và tăng sinh. Sự tăng tỷ lệ glycosaminoglycan đã truyền đạt
thông tin làm giảm tăng sinh và kích thích làm tăng biệt hoá NBS. Đây là dấu
hiệu vết thương chuyển sang giai đoạn trưởng thành [66] , [70] .
1.2.3. Giai đoạn trưởng thành (maturation phase)
Quá trình tái tạo hình (remodelling) bắt đầu vào khoảng tuần thứ 3 sau
khi bị thương và kéo dài nhiều tháng tới hàng năm. Quá trình tái tạo hình là
kết quả của:
- Tái tổ chức colagen (reorganized structure) làm tăng độ bền vững vết
thương. Collagen típ III ở mô hạt được thay thế dẫn bằng collagen típ I cho
đến khi đạt tỉ lệ típ I/típ III bằng 4/1 [22], [53], [62], [66], [70].

16
- Hot ng ca collagenase bt u phõn ct s tớch t quỏ mc
collagen, to nờn s cõn bng gia tng hp v thoỏi bin collagen [62].
- Gim mng li cỏc mao mch khi nhu cu chuyn hoỏ gim [51].
- Gim proteoglycans, thay th bng thnh phn nc ca vt thng [66].
Trong quỏ trỡnh lin vt thng, NBS cú vai trũ quan trng trong giai
on tng sinh v giai on so trng thnh (tỏi to hỡnh mụ so). Cỏc
phng phỏp iu tr tỏc ng vo NBS cú th lm nhanh lin vt thng v
ci thin cht lng so.

khuẩn gram âm, vi khuẩn gram dương có bào tử, vi khuẩn đường ruột, trực
khuẩn mủ xanh… Khoảng 13 loại vi khuẩn ưa khí . Theo Whecler A.F (1973),
lượng vi khuẩn phân bố không đồng đều, nhiều nhất ở bàn tay :10
6
– 10
8
VK/cm
2
, bụng và ngực : 1,5x10
3
VK/cm
2
, cẳng tay : 10
2
- 10
4
VK/cm
2
…[4].
Khi bị tổn thương bỏng, vi khuẩn sẽ từ da lành, chất thải, quần áo của
người bệnh, từ người nhà, nhân viên y tế, từ trang thiết bị y tế và cả từ không
khí sẽ xâm nhập vào vết thương . Nhiễm khuẩn bỏng là nguyên nhân chính
gây tử vong ở bệnh bỏng chiếm 50-70% [18] . Bouchac C.(1996) khẳng định
việc theo dõi và kiểm soát đều đặn môi trường bệnh viện đã làm giảm tỷ lệ
nhiễm khuẩn bỏng
* Diễn biến quần thể vi khuẩn trên vết thương bỏng:
Theo Carsin H. (1994) đối với bỏng lửa ở những giờ đầu, vÕt bỏng còn
vô khuẩn, sự xâm nhập của vi khuẩn bắt đầu ở giờ thứ 6 sau bỏng . Nếu cấy
khuẩn ngay sau khi gây bỏng thực nghiệm thì 100% không thấy vi khuẩn
mọc, sau 12 giê: 61,7 % âm tính, sau1 ngày : 36% âm tính, sau 3 ngày chỉ còn

Số lượng vi khuẩn trên một cm
2
diện tích bỏng có vai trò quan trọng và
cho phép tiên lượng nhiễm khuẩn tại chỗ vết bỏng . Khi số lượng vi khuẩn
nhỏ hơn 10
4
- 10
6
/l gram mô ở nơi tổn thương bỏng thì nguy cơ nhiễm khuẩn
lan tràn hiếm gặp, nhưng nếu số lượng này tới 10
7
- 10
9
/1 gram mô thì sự lan
tràn của vi khuẩn nhất định xuất hiện và có nguy cơ nhiễm khuẩn huyết [22]

19
Nhìn chung các vi khuẩn thường gặp trong vết bỏng là trực khuẩn mủ
xanh và tụ cầu vàng, đặc biệt trực khuÈn mủ xanh ngày càng gia tăng, đây thực
sự là điều đáng lo ngại vì vi khuẩn này đã kháng nhiều loại kháng sinh [10].
1.4. Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng mới
1. 4.1. Các nhóm thuốc điều trị tổn thương bỏng
Điều trị tại chỗ nhằm mục đích loại bỏ nhanh mô hoại tử, dự phòng
các biến chứng nhiễm khuẩn tại chỗ, không để cho nhiễm khuẩn phát triển
rộng, tạo điều kiện tốt cho quá trình tái tạo phục hồi [22]… Căn cứ vào tác
dụng của thuốc có thể xếp các thuốc điều trị vết bỏng thành một số nhóm
chính sau:
1.4.1.1. Nhóm thuốc làm rụng hoại tử bỏng
Có các enzym tiêu huỷ protein từ nguồn gốc động vật trypsin,
pepsin…, từ các vi sinh vật nh- subtilain từ Bacillus, từ thảo mộc nh-:

Việc sử dụng tanin để điều trị bỏng có lẽ có từ ngày xưa do người
Neanderthal đã dùng chất. từ cây để điều trị bỏng, các thầy thuốc Trung Hoa
cổ đại đã tiếp tục dùng và hoàn thiện phương pháp này [88]. Có thể dùng các
chất tạo màng bằng polyvinyl, chất tạo keo đơn phân Một số thuốc tạo màng
có nguồn gốc từ thuốc nam nh- cao đặc lá sim cao kháo nhậm, củ nâu, cao
xoan trà [23], [43], [88]. Không dùng thuốc tạo màng với bỏng sâu (bỏng có
hoại tử) và vết bỏng đã nhiễm khuẩn.
1.4.2. Các thuốc y học dân tộc có tác dụng ức chế vi khuẩn, kháng vi
khuẩn dùng để điều trị vết bỏng
Tiêu chuẩn của một thuốc điều trị tại chỗ có tác dụng kháng khuẩn là [22] :
- Không gây đau hoặc Ýt đau khi sử dụng.
- Không gây dị ứng tại chỗ và toàn thân, không gây tác dụng không
mong muốn.
- Tác dụng với VK gây nhiễm khuẩn vết bỏng (tỷ lệ nhờn thuốc thấp).
- Thấm sâu vào vết bỏng.
- Không gây tổn thương tế bào sống- không ức chế sự tái tạo biểu mô.
Xu hướng hiện nay là nghiên cứu các thuốc kháng khuẩn có nguồn gốc
từ thảo mộc. Từ cổ xưa, người ta đã dùng các loại thuốc có nguồn gốc từ cây
cỏ, từ động vật để điều trị tại chỗ vết bỏng. Người Hy Lạp cổ dùng rau mùi
tây để đắp vết thương. Các dân tộc Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng nước sắc
mã đề hoặc lá tươi mã đề giã nát đắp lên vết thương. Y học dân gian Trung
Quốc dùng nước chè đặc rửa vết thương vết bỏng [23], [26], [19]. Hypocrate

22
(khoảng 430 năm trước công nguyên) đã dùng nước sắc vỏ cây sồi, nước dấm,
nhựa cây để chữa bỏng [19], [22]. Trong y học cổ truyền của Việt Nam,
danh y Tuệ Tĩnh đã dùng mật ong trứng gà để điều trị bỏng [26], [11]. Hải
Thượng Lãn ông đã đưa ra phương thuốc dùng dương quy, dầu vừng đúc
thành cao dán lên vết bóng đã nhiễm khuẩn [19]. Ngày nay, kế thừa vốn y học
cổ truyền, nhiều tác giả đã sưu tầm các bài thuốc chữa bỏng trong dân gian,

dùng nước sắc lá sòi điều trị vết bỏng nhiễm P.aeuginosa thấy sau vài lần
thay băng vết thương sạch mủ, hết P.aeruginosa, mô hạt phát triển tốt. Lưu
Đắc Trung thấy nước sắc lá sòi có tác dụng in vitro mạnh với P.aeuginosa và
S. Aureus [6], [19].
- Lá Diếp cá (Houttuynia cordata Thunb, họ Saurunraceae) cũng có tác
dụng với P.aeuginosa [11].
1.5. Những nghiên cứu về thuốc Maduxin
Cây sến có 4 loài: sến cát (Mimusops dengi L., họ Sapotaceae), sến đỏ
(Shorea roxburghii G.Don, họ Dipterocarpaceae), sến găng (Xantolis
cambodiana Van Royen, họ Sapotaceae) và cây sến mật (Madhuca pasquieri
H.J. Lam, họ Sapotaceae) [38]. Thuốc Maduxin được bào chế từ cây sến mật.
Cây sến mật là một loài thực vật cho gỗ tốt (là một trong bốn loài cây lấy gỗ
quí “từ thiết” là đinh, lim, sến, táu).
Cây sến mật được nghiên cứu để điều trị vết thương, vết bỏng từ 1987 .
Lá sến và hạt sến là hai thành phần quan trọng được sử dụng để bào chế thuốc .
Nghiên cứu về hoá thực vật cho thấy trong lá sến có các hoạt chất chủ yếu sau:
- Tanin: 10 + 0,15%, tanin trong lá sến thuộc loại tanin pyrocatechic.

24
- Saponin triterpenoid: 1,03 + 0,15%.
- Flavonoid: 4,78 + 0,15%. Nguyễn Văn Đậu 1997 đã sử dụng các
phương pháp sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng phân giải cao, sắc ký cột để phân
tích và phân lập các thành phần hoá học của lá sến, các hợp chất phân lập ra
được xác định cấu trúc nhờ phương pháp đo điểm nóng chảy, phân tích phổ
hồng ngoại; phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân; kết quả đã phân lập được
9 hợp chất flavonoid từ lá cây sến là: quercetin. myricetin, epicatechin,
catechin, acid gallic, gallocatechin, mearnsitrin, quercitrin, myricitrin. Công
trình được thực hiện tại Bộ môn Dược liệu, trường đại học Uppsala (Thuỵ
Điển) . Tính chống viêm kháng khuẩn của quercetin, myricetin, catechin
dẫn xuất của acid phenol-carboxylic (acid gallic) đã được chứng minh trong

284 gam lá sến tươi).
Nguyễn Khắc Viện nhận thấy dung dịch dầu Maduxin dùng đường
uống với liều 2,5 gam/kg chuột cống có tác dụng giảm viêm cấp tính rõ rệt
trên phản ứng viêm thực nghiệm gây bằng kaolin.
Nguyễn Đình Bảng nghiên cứu in vitro tác dụng của cao Maduxin với
VK, thấy nồng độ tối thiểu ức chế VK (MIC: minimum inhibitory
oncentration) của cao với 6 chủng VK quốc tế gây mủ là:
S. aureus ATCC 29123 1/20
P. aeruginos ATCC 27853 1/40
Proteus mirabilis 223 1/40
E. coli ATCC 25922 1/40


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status