1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) là bệnh truyền nhiễm
cấp tính, gây dịch do vi rút Dengue gây nên. Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa
dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh có đặc điểm là sốt, xuất
huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối
loạn đụng mỏu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ
dẫn đến tử vong.
Bệnh sốt xuất huyết trở thành một bệnh dịch lưu hành ở Việt Nam . Hiện
nay đã phân lập được 4 týp vi rút Dengue gây bệnh : DEN 1 , DEN 2 , DEN
3 , DEN 4. Vi rút Dengue được truyền từ người bệnh sang người lành do
muỗi Aedes đốt. Ở nước ta, có hai loại muỗi Aedes gây bệnh chủ yếu là
Aedes aegypti và Aedes albopictus . Bệnh SD/SXHD phát trển theo mùa và
cũng có sự khác biệt giữa các miền: Miền Nam và miền Trung bệnh
SD/SXHD xuất hiện quanh năm, tần suất mắc nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng
10 . Miền Bắc bệnh thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 9, những thỏng khỏc
bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh không thích hợp cho sự sinh sản và phát triển
của muỗi Aedes.
Sự lan tràn về mặt địa lý của cả véc tơ truyền bệnh là muỗi và vi rút đã đưa
đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 năm qua. Theo Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) , bệnh SD/SXHD hiện đang lan truyền ở nhiều nước trên thế giới với
khoảng 50 – 100 triệu người mắc bệnh và khoảng 500.000 trường hợp sốt xuất
huyết Dengue phải nhập viện , trong đó chủ yếu là trẻ em. Tỷ lệ tử vong đến 5%,
thậm chí cao hơn nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Bất chấp những nỗ lực nghiên cứu không mệt mỏi của các nhà khoa học, y
học trên thế giới và của Việt Nam trong các lĩnh vực dịch tễ, cơ chế bệnh
2
sinh, vắc xin, thuốc điều trị …. Song sốt xuất huyết Dengue hiện nay vẫn
chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, hơn nữa muỗi
Aedes aegypti đó khỏng một số thuốc diệt côn trùng …. do đó càng làm cho
dịch lưu hành và phát triển. Vì vậy SD/SXHD vẫn đang là vấn đề thời sự,
nhân nhập viện và tử vong thường gặp của trẻ em vùng này. Tỷ lệ mắc bệnh trên
toàn thế giới đã gia tăng mạnh mẽtrong những năm gần đây và hiện đã trở thành
dịch tại trên 100 quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ, khu vực phía đông Địa Trung
Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Trong đó Đông Nam Á và Tây
Thái Bình Dương là khu vực chiu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Ở Việt Nam, vụ dịch đầu tiên được phát hiện ở miền Bắc vào năm 1958 và
năm 1960 ở miền Nam. Từ đó đến nay, dịch lưu hành ở hầu hết các tỉnh trong
cả nước. Ở nước ta, SD/SXHD chia thành 3 vùng:
-Vựng 1:Cú bệnh quanh năm, phát triển dịch mạnh vào mùa thu, gặp
chủ yếu ở trẻ em( Ở những vùng nhiệt độ >20
o
C: Đồng bằng song Cửu Long,
ven biển miền Trung…)
-Vùng 2: Không có bệnh vào những thỏng rột nhưng phát thành dịch
vào mựa mưa-núng, thường gặp ở cả trẻ em và người lớn( Khu Bốn, đồng
bằng Bắc bộ…)
-Vùng 3:Bệnh tản phát ở vài tháng mưa nóng, thường không thành
dịch( Tõy Nguyờn và miền núi phía Bắc…)
1.1.2.Vi rút gây bệnh:
Các vi rút Dengue thuộc giống Flavivirus và thuộc Flaviviridae. Những vi
rút này kích thước nhỏ(50nm) mang một chuỗi ARN.
4
1.1.3. Véc tơ:
Vi rút Dengue truyền từ người này sang người khác do muỗi Aedes đốt,
muỗi này thuộc phân giống Stegomyia. Muỗi Aedes agypti là véc tơ gây dịch
quan trọng nhất, nhưng các loài khác Aedes albopictus , Aedes polynesiensis
được xếp là véc tơ phụ.
1.1.4. Vật chủ
Vi rút Dengue gây nhiễm cho người và một số loài động vật linh trưởng.
Con người là vật chủ chính ở đô thị và đồng thời cũng mang ý nghĩa dịch tễ
vỡ chỳng đó sống nhiều năm trong vùng dịch lưu hành cao nên có thể bị
nhiều lần nhiễm Dengue nờn chỳng cú hiệu giá kháng thể cao và kéo dài,
cũng không phải là trẻ sơ sinh vì trẻ sơ sinh ở Thái Lan đều có hiệu giá kháng
thể IgG chống Dengue cao từ mẹ truyền sang.
Như vậy trẻ có nguy cơ mắc SXHD rõ ràng tương ứng với lứa tuổi ở trong
vùng dịch lưu hành đó cú kháng thể chống Dengue ở mức độ thấp, hoặc
kháng thể ở mẹ truyền sang nhưng kháng thể đã giảm, hoặc do kháng thể bị
nhiễm lần đầu nhưng đã bị giảm dần, nhưng sau đó lại bị nhiễm VR Dengue
lần hai.
1.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CÁC THỂ BỆNH SD/SXHD VÀ BIẾN
CHỨNG:
1.3.1. Sốt Dengue(Dengue cổ điển)
- Nung bệnh: từ 3-15 ngày.
- Khởi phát: những biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào lứa tuổi:
6
+ Trẻ còn bú mẹ và trẻ nhỏ có thể có triệu chứng sốt và phát ban không
đặc hiệu.
+Ở trẻ lớn và người lớn: sốt cao đột ngột kèm theo nhức đầu, đau nhức
hai bên hố mắt, đau khắp người, đau cơ, mệt mỏi, chán ăn.
- Toàn phát: Sốt cao 39-40
o
C, kèm theo các triệu chứng:
+ Xuất huyết ở củng mạc mắt, đau nhức quanh nhãn cầu.
+ Đau cơ, đau khớp, mệt mỏi, chán ăn.
+ Sưng hạch bạch huyết.
+ Phát ban ngoài da,ban dát sẩn hoặc ban kiếu sởi.
+ Đôi khi có xuất huyết ở dưới da,niờm mạc.
+ Số lượng bạch cầu bình thường hoặc hơi hạ.
+ Số lượng tiểu cầu bình thường đôi khi hơi hạ.
+ Hematocrit không tăng.
∗ Cận lâm sàng:
+ Tiểu cầu giảm ≤100.000 tế bào/mm
3
(trên thực tế thường hay thấy
tiểu cầu giảm từ ngày thứ hai trở đi).
+ Biểu hiện mỏu cụ: hematocrit tăng ≥20% so với giá trị bình thường
(bình thường 36% - 40%).
1.3.4. Sốt xuất huyết Dengue có sốc:
1.3.4.1. Dấu hiệu tiền sốc
+ Gồm một số triệu chứng như sau:
8
- Vật vã, lừ đừ, li bì.
- Đau bụng dữ dội.
- Da sung huyết đỏ.
- Tay chân lạnh.
- Tiểu ít.
+ Xét nghiệm:
- Hematocrit tăng cao.
- Tiểu cầu giảm nhanh chóng.
Ở những bệnh nhân có dấu hiệu tiền sốc cần chú ý theo dõi mạch,
huyết áp, nhiệt độ và làm xét nghiệm hematocrit, tiểu cầu thường xuyên để xử
trí kịp thời.
1.3.4.2. Hội chứng sốc Dengue
Bao gồm tất cả triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue kèm
theo các triệu chứng:
- Mạch nhanh, nhỏ, khó bắt.
- Tụt huyết áp (HATĐ < 90 mmHg) hoặc huyết áp kẹt (HATĐ – HATT
≤ 20 mmHg).
Triệu chứng sốc thường xảy ra vào ngày thứ hai đến ngày thứ sáu của
bệnh.
+ Thận: suy thận cấp.
10
+ Ngoài ra: tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng tinh hoàn (hay gặp ở trẻ
em), phù thiểu dưỡng, xảy thai- đẻ non (ở phụ nữ có thai)
1.4. PHÂN ĐỘ LÂM SÀNG:
Phân độ sốt xuất huyết Dengue dựa theo bảng phân độ của tổ chức y tế
thế giới 2004 :
- Độ I: Sốt, dấu hiệu dây thắt dương tính, không có xuất huyết tự nhiên,
tiểu cầu giảm, hematocrit tăng.
- Độ II: Như sốt xuất huyết Dengue độ I và có xuất huyết tự nhiên dưới
da, niêm mạc, phủ tạng.
- Độ III: Như sốt xuất huyết Dengue độ II và có mạch nhanh nhỏ, huyết
áp tụt (HATĐ< 90 mmHg) hoặc kẹt (HATĐ–HATT≤ 20 mmHg).
- Độ IV: Như độ II và mạch không bắt được (mạch = 0) + huyết áp
không đo được (HA= 0).
1.5. XÉT NGHIỆM
1.5.1. Xét nghiệm cơ bản:
- Hồng cầu
- Tiểu cầu
- Hematocrit
- Bạch cầu
1.5.2. Một số xét nghiệm khác:
- Men gan
- Các yếu tố đụng mỏu
- Protein huyết tương
- Điện giải đồ
1.5.3. Các xét nghiệm chẩn đoán xác định
11
1.5.3.1. Chẩn đoán huyết thanh để tìm hiệu giá kháng thể kháng vi rút
Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (Heamaglutination Inhibition - HI):
1.7.ĐIỀU TRỊ:
1.7.1. Nguyên tắc chung: Điều trị triệu chứng là chính
• Hạ nhiệt khi có sốt cao nhưng không hạ tích cực vì dễ biến chứng trụy
tim mạch, không dùng các thuốc như Aspirin,Salicylat vì dễ gây toan
huyết và làm xuất huyết, không cần dùng kháng sinh.
• Bồi phụ nước và điện giải theo đường uống.
• Khi có rối loạn tuần hoàn và sốc: bồi phụ nhanh chóng khối lượng tuần
hoàn bằng các chất điện giải và dung dịch keo.
• Khi có xuất huyết nặng dựa vào Hematocrit và số lượng tiểu cầu để có
thể truyền máu và khối tiểu cầu.
• Không di chuyển bệnh nhân khi đang sốc.
1.7.2. Điều trị SXHD không sốc (Độ I và độ II)
Phần lớn các trường hợp đều được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế
cơ sở, chủ yếu là điều trị triệu chứng và phải theo dõi chặt chẽ phát hiện sớm
sốc xảy ra để xử trí kịp thời.
a) Điều trị triệu chứng
13
- Nếu sốt cao ≥ 390C, cho thuốc hạ nhiệt, lau mát bằng nước ấm.
- Thuốc hạ nhiệt chỉ được dùng là paracetamol đơn chất, liều từ 10-
15 mg/kg cân nặng/lần, cách nhau mỗi 4-6 giờ.
- Chú ý: Tổng liều paracetamol không quá 60mg/kg cân nặng/24h.
- Cấm dùng aspirin (acetyl salicylic acid), analgin, ibuprofen để điều trị
vì có thể gây xuất huyết, toan máu.
b) Bù dịch sớm bằng đường uống:
Khuyến khích người bệnh uống nhiều nước oresol hoặc nước sôi để nguội,
nước trái cây (nước dừa, cam, chanh, …) hoặc nước cháo loãng với muối.
c) Truyền dịch:
- Nờn xem xét truyền dịch nếu người bệnh ở độ I và II mà không uống
đuợc, nôn nhiều, có dấu hiệu mất nước, lừ đừ, hematocrit tăng cao; mặc dù
huyết áp vẫn ổn định.
chứng tạng chính của ôn tà ở phần vệ.
1.8.3.2. Bệnh ở phần khí
Theo Nội kinh, khí là động lực của sinh mệnh có công năng làm cho
ngũ tạng, lục phủ, tứ chi, bách cốt hoạt động: nhờ có khí phế mới thở điều hoà
hô hấp, tâm mới đập, điều hoà mạch quản, tỳ vị mới tiêu hoá, tay chân mới cử
động, huyết mới lưu thông.v.v Nghĩa là nhờ có khí các tạng phủ và tứ chi
15
bách cốt mới làm tròn được công năng sinh lý của chúng. Nếu ôn tà vào khí
phận, mà chứng hậu của vệ phận hết thì không sợ lạnh nữa mà chỉ phát nóng,
rêu lưỡi chuyển từ sắc trắng sang sắc vàng, nước tiểu chuyển từ trong sang
vàng, đỏ. Ba chứng trạng: phát nóng, không sợ lạnh, nước tiểu đỏ, rêu lưỡi
vàng là những chứng trạng chính của ôn bệnh ở khí phận.
Nhưng phạm vi chứng trạng của khí phận rất rộng, tuỳ theo ôn tà phạm
vào tạng phủ nào là chính mà có những chứng trạng tiêu biểu cho tạng phủ
đó:
- Nếu ôn tà ở phế, phế khí không thông lợi thời hiện ra các chứng mình
nóng, miệng khát, rêu lưỡi vàng.v.v mà có thêm ho xuyễn.
- Nếu ôn tà ở cách khí phận không thông sướng sinh các chứng: mình
nóng, rêu lưỡi vàng mỏng, trong ngực phiền muộn không yên.v.v
- Nếu ôn tà ở Dương minh vị, nhiệt thịnh ở vị sinh ra các chứng trạng
nhiệt mồ hôi nhiều, thở mạnh, nước tiểu vàng đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch
hồng đại.v.v là hiện tượng nhiệt thịnh tân thương.
- Nếu ôn tà kết ở trường đạo sinh ra các chứng triều nhiệt, tiện bí hoặc
ỉa ra nước trong mà thối, bụng đầy, cứng đau, rêu lưỡi vàng dày, khô ráo,
hoặc đen như bị cháy và nổi gai, mạch trầm thực, hữu lực là chứng trạng của
hiện tượng nhiệt thịnh lý thực.
- Nếu ôn tà uất ở Thiếu dương đởm do các chứng nóng lạnh qua lại,
nóng nhiều lạnh Ýt, miệng đắng, sườn đau, đầy hơi, buồn nôn, rêu lưỡi vàng
hoặc nhớt, mạch huyền, sác là chứng trạng của ôn tà ở khí phận của Thiếu
dương đởm. Nếu ôn tà lưu trệ lâu ngày không khỏi phạm tới thiếu dương Tam
chứng nh phong nội động. Vì can thuộc mộc chủ cân mạch, chủ phong, nhờ
thận thuỷ hàm dưỡng, nếu nhiệt tà lưu trệ lâu ngày, chân âm bị hao tổn, cân
mạch không được nuôi dưỡng sinh ra co quắp, nặng thì chân tay run rẩy hoặc
co giật, tâm đập mạnh mà rung động…. Chứng động phong ở đây là do âm
tinh hư tổn mà sinh ra, khác với chứng động phong do thực nhiệt sinh ra.
Nh vậy, chứng hậu của huyết phận gồm các chứng trạng của nhiệt tà
bức huyết vong hành, nhiệt thương thận âm và của ôn tà phạm Quyết âm can
đã nói ở trên, nhưng các chứng trạng chính của ôn tà ở huyết phần là lưỡi đỏ
thẫm và tâm thần rối loạn.
1.8.4. Điều trị SXHD theo Y học Cổ truyền:
Điều trị SD/SXHD bằng y học cổ truyền theo biện chứng luận trị. Pháp
điều trị chung là: Thanh nhiệt , lương huyết, chỉ huyết, nâng cao thể trạng.
1.8.4.1. Chữa bệnh ở phần vệ
1.8.4.2. Chữa bệnh ở phần khí
1.8.4.3. Chữa bệnh ở phần dinh và phần huyết
1.8.4.4. Điều trị thời kỳ phục hồi
∗ Một số vị thuốc, bài thuốc đã được nghiên cứu để chữa SD/SXHD:
- Nguyễn Văn Toại nghiên cứu tác dụng hạ sốt của cây Cúc tần trong
điều trị Dengue xuất huyết, tác dụng hạ sốt diễn ra từ từ, không dẫn
dến tai biến do hạ nhiệt độ đột ngột gây nên. Viên Cúc tần có thể
dùng cho những trường hợp sốt xuất huyết độ I và II.
- Đỗ Trung Đàm, Nguyễn Thị Dung và cộng sự - Viện dược liệu
dã nghiên cứu tác dụng hạ sốt của cây Cỏ mật thấy rằng cỏ mật
có tác dụng hạ sốt vừa phải nhưng kéo dài
18
- Kiều Đình Khoan đã nghiên cứu tác dụng của nhóm thuốc thanh
nhiệt lương huyết điều trị sốt xuất huyết có tác dụng hạ sốt, cầm
máu, chống xuất huyết. Có tác dụng tốt trong điều trị sốt xuất
huyết độ I và II.
- Vũ Xuõn Bỡnh đó nghiên cứu tác dụng điều trị bệnh sốt xuất
(G.glandulifera Waldst et Kit ).
- Thành phần: glucoza, sacaroza, tinh bột, tinh dầu, asparagin, vitamin C,
gôm, nhựa, nhưng thành phần chính là glyxyridin: là muối canxi và kali
của axớt glyxyric ( là một Saponin tritecpenic).
- Tính vị quy kinh: vị ngọt, tớnh bỡnh; vào 12 đường kinh.
- Tác dụng: bổ tỳ vị, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc, điều hòa các vị
thuốc. Dùng sống có tác dụng thanh hỏa. Thường dùng trong các
trường hợp: Tỳ vị hư nhược, ho khan, đau họng, viêm họng, đinh nhọt
sưng đau, giải độc thuốc, thức ăn
1.10.3. Ngưu giác
Còn gọi là sừng trâu
- Tên khoa học: Cornu Bubali
- Tính vị quy kinh: vị đắng, tính hàn; vào kinh tâm, can, và vị.
- Tác dụng: thanh nhiệt, giải độc, lương huyết.Thường dùng dể điều trị:
Hôn mê do sốt cao, các trường hợp ban chẩn, nôn ra máu, chảy máu
cam, trẻ em sốt cao co giật, viêm hầu họng
20
CHƯƠNG 2
CHẤT LIỆU - ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. CHẤT LIỆU:
2.1.1. Công thức viên nang:
Xây dựng công thức của dựa vào thành phần của bài thuốc “Lục nhất
tỏn“ gia thêm bột thủy ngưu giác theo tỷ lệ hợp lý. Công thức của viên nang
0,5g gồm:
+ Bột ngưu giác 0,15g
+ Hoạt thạch 0,30g
+ Cam thảo 0,05g
2.1.2. Dạng thuốc:
- Trình bày: Viên nang cứng,
- Hàm lượng : 0,5g
• Xét nghiệm huyết thanh: tìm kháng thể kháng virus
Dengue.
Sốt xuất huyết Dengue:
Được chẩn đoán xác định sốt Dengue kèm theo các triệu chứng:
Hội chứng nhiễm trùng
22
Hội chứng thần kinh:
Hội chứng xuất huyết
Biểu hiện cô đặc máu do sự thoát huyết tương: hematocrit
≥
20%so với bình thường( bình thường từ 36-40%); hoặc protein
máu giảm, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng.
Số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000 tế bào/mm
3
.
Số lượng bạch cầu giảm.
2.2.2.2. Theo Y học cổ truyền:
Dụa vào các chứng trạng, theo mức độ nhiệt độc tà khí xâm phậm vào
cơ thể từ nhẹ đến nặng và thăm khám bệnh nhõn dựng tứ chẩn và bát cương
để chẩn đoán quy nạp tính chất, mức độ nụng sõu và xu thế chung nhất của
bệnh từ đó phân ra 4 giai đoạn bệnh:
Ôn tà ở phần vệ: Bệnh nhân phát sốt, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc
cú ỏnh vàng, rìa lưỡi đỏ, mạch phự sỏc.
Ôn tà ở phần khí: Bệnh nhân không còn sợ lạnh, phát sốt, khát nước,
đại tiện táo, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch sác.
Ôn tà ở phần dinh: phát sốt, phiền khát, tiểu tiện đỏ, ban chẩn mọc lờ
mờ, nếu bẹnh nhân sốt quá cao có thể nói lảm nhảm, chất luoix đỏ tươi,
rêu lưỡi vàng, mạch sác.
Ôn tà ở phần huyết: Bệnh nhõn mỡnh núng, mặt đỏ, miệng ráo, họng
khô, thần chí lờ đờ, ban chẩn mọc rõ ràng, có thể nục huyết, tiện huyết,
truyền máu tươi hoặc khối tiểu cầu.
• Oxy liệu pháp trong trường hợp hạ oxy máu, sốc.
24
• Theo dõi bệnh nhân chặt chẽ, nhất là trong giai đoạn bắt đầu hạ nhiệt
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu:
- Tất cả những bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu đều được khám kỹ, làm
bệnh án, được chẩn đoán theo YHHĐ và YHCT (Có mẫu bệnh án theo dõi riêng)
- Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng được đánh giá trước và sau điều trị
2.3.4. Nghiên cứu lâm sàng:
• Triệu chứng cơ năng: Sốt, đau đầu, đau nhức cơ, đau mỏi xương
khớp, đau vùng thượng vị, buồn nôn hoặc nôn
• Triệu chứng thực thể: khám gan, hạch ngoại vi, các biểu hiện
xuất huyết ngoài da, làm dấu hiệu dây thắt để đánh giá mức độ
bền vững của thành mạch.
• Cặp nhiệt kế thủy ngân ở nách theo dõi tỡnh trạng sốt,sau khi
uống thuốc 3 giờ đầu( mỗi giờ cặp nhiệt độ 1 lần)
2.3.5. Nghiên cứu cận lâm sàng:
- Lấy máu xét nghiệm ngay khi bệnh nhõn nhập viện. Theo dừi cỏc chỉ
số: số lượng hồng cầu, bạch cầu và công thức bạch cầu, số lượng tiểu
cầu, hematocrit
- Đối với số lượng tiểu cầu và hematocrit làm lại khi bệnh nhân hết sốt
hoặc khi bệnh nhân có diễn biến nặng, chuyển độ.
2.3.6. Cách dùng thuốc:
Viờn nang cứng “ Thạch cam ngưu giỏc“ 0,5g
Uống 4 viờn/lần x 5 lần/ngày (trung bình 3 giờ uống 1 lần) khi sốt trên
38
o
5C,uống đủ nước và theo dõi tại viện
2.3.7.Các chỉ tiêu quan sát trong quá trình nghiên cứu
2.3.7.1. Y học hiện đại:
C đến 39
o
C