Nghiên cứu tác dụng điều trị bệnh trĩ nội độ i II bằng bài thuốc TK - Pdf 19

1
Đặt vấn đề

Bệnh trĩ là tập hợp các biểu hiện bệnh lý liên quan đến những thay đổi mạng
mạch trĩ và của các mô tiếp xúc với mạng mạch này ở vùng hậu môn trực tràng.
Bệnh trĩ có tỷ lệ mắc khá cao trong các bệnh vùng hậu môn trực tràng.
Trên thế giới theo các tác giả Thomson, Parks, Denis… Tỷ lệ mắc bệnh trĩ là
50% dân số [73]. Ở Việt Nam theo Đinh Văn Lực và cộng sự từ năm 1970-
1979 phòng khám ngoại Viện Y học cổ truyền Việt Nam khám được 14.562
bệnh nhân trĩ [48].
Điều tra dịch tễ học của nhóm nghiên cứu Nguyễn Mạnh Nhâm thì tỷ lệ
mắc bệnh trĩ ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam và được báo cáo tại hội nghị toàn
quốc về hậu môn trực tràng lần thứ tư (11/2004) là 55%. Nh- vậy tỷ lệ mắc
bệnh trĩ chung trong cộng đồng từ khoảng 35 - 55% dân số [48], [54], [66].
Bệnh trĩ là một bệnh lành tính, tuy không nguy hiểm đến tính mạng
người bệnh, song ảnh hưởng nhiều tới chất lượng cuộc sống. Trĩ gây chảy
máu khi đại tiện, ở mức độ nhẹ chỉ có Ýt máu tươi dính vào phân, ở mức độ
nặng máu chảy thành tia, có trường hợp bệnh nhân chảy máu nặng kéo dài,
gây thiếu máu, trĩ còn gây đau đớn hoặc cảm giác khó chịu cho người bệnh ở
vùng hậu môn trực tràng do sự tồn tại của búi trĩ sa ra ngoài, hoặc những đợt
trĩ cấp tính, viêm loét, sa niêm mạc trực tràng, nhồi máu trĩ. Ảnh hưởng rất
nhiều đến sinh hoạt và lao động của người bệnh.
Với tính phổ biến của nó nên bệnh trĩ đã được nghiên cứu và điều trị từ
rất sớm. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra những phát hiện mới và quan trọng. Tuy
nhiên, người ta vẫn còn bàn cãi về căn nguyên của bệnh trĩ. Vì vậy hàng trăm
biện pháp xử trí vẫn còn đang được áp dụng. Từ các dược liệu cổ truyền cho
đến các loại thuốc tân dược, thủ thuật và phẫu thuật dựa trên những hiểu biết
khoa học mới. Các phương pháp điều trị bao gồm:

Với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá độc tính cấp (LD50) của bài thuốc "TK" trên thực nghiệm.
3
2. Đánh giá tác dụng điều trị của bài thuốc TK đối với bệnh trĩ nội
độ I - II trên lâm sàng.

Chương 1
Tổng quan về tài liệu

1.1. hậu môn - trực tràng cơ sở giải phẫu của bệnh trĩ
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu của vùng hậu môn - trực tràng
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều hiểu biết tiến bộ về giải phẫu
và tổ chức học vùng hậu môn - trực tràng. Các hiểu biết này góp phần quan
trọng trong điều trị bệnh trĩ. [36], [54], [55].
Trực tràng là phần cuối của đại tràng, đi từ đốt sống cùng thứ III tới lỗ
hậu môn, dài từ 12-15cm. Trực tràng gồm có 2 phần:
+ Phần trên hình bóng (bóng trực tràng) nằm trong chậu hông bé, bóng
trực tràng còn gọi là phần chậu của trực tràng. [36], [49], [55], [80].
+ Phần dưới hẹp gọi là ống hậu môn dài 2,5 - 3cm, ống hậu môn còn gọi
là trực tràng tầng sinh môn. [36], [54], [55].
Trực tràng có một hệ thống khép kín gồm các cơ thắt và một hệ thống
treo, tháo phân (cơ nâng hậu môn và hoành chậu môn). Trên thiết đồ đứng
dọc, trực tràng lúc đầu thì cong lâm ra trước dựa vào đường cong của xương
cùng cụt, nhưng khi tới đỉnh xương cùng thì bẻ gập 90
0
cong lâm ra sau, nó có
tác dụng giữ trực tràng khỏi tụt ra ngoài. Trên thiết đồ đứng ngang trực tràng

trong (một nhánh của động mạch chậu trong) cấp máu cho cơ thắt và 1/3 dưới
của ống hậu môn.
* Hệ thống tĩnh mạch của trực tràng - hậu môn.
Các tĩnh mạch của trực tràng hậu môn bắt nguồn từ hệ thống tĩnh mạch
đặc biệt, hệ thống tĩnh mạch này hợp thành các đám rối tĩnh mạch, ở trong
thành trực tràng, nhất là ở lớp dưới niêm mạc của trực tràng. Đây là một hệ
thống các xoang mạch to nhỏ không đều, nối chằng chịt với nhau, các xoang
tĩnh mạch này là nguồn gốc các tĩnh mạch luôn đi kèm các động mạch tương
ứng và có sự thông thương qua hệ tĩnh mạch cửa chủ. Những đám rối tĩnh
mạch trên sẽ đổ vào 3 tĩnh mạch của trực tràng. [35], [36], [67].
+ Tĩnh mạch trực tràng trên (tĩnh mạch trĩ trên):
Tĩnh mạch này nhận máu từ đám rối tĩnh mạch trên (đám rối tĩnh mạch
này phía trên cơ thắt hậu môn hay là ở phía trên đường lược). Khi tới đầu trên
của trực tràng thì tĩnh mạch này trở thành nguyên ủy của tĩnh mạch mạch treo
tràng dưới. [35], [36].
+ Tĩnh mạch trực tràng giữa (tĩnh mạch trĩ giữa)
Bắt nguồn từ đám rối tĩnh mạch của bóng trực tràng từ các tĩnh mạch của
túi tinh và tiền liệt tuyến (ở nam giới), từ âm đạo và tử cung (ở nữ giới). Tĩnh
mạch trực tràng giữa đi theo động mạch cùng tên rồi đổ vào tĩnh mạch thẹn
trong. [35], [36].
+ Tĩnh mạch trực tràng dưới (tĩnh mạch trĩ dưới):
Bắt nguồn từ đám rối tĩnh mạch trĩ dưới (đám rối tĩnh mạch trĩ dưới nằm
ở lớp niêm mạc của ống hậu môn, lớp cơ hậu môn, lớp da xung quanh hậu
môn). Tĩnh mạch này đổ vào tĩnh mạch thẹn trong.
Như vậy, máu tĩnh mạch ở trực tràng hậu môn đổ vào 2 hệ thống.
7
+ Hệ thống tĩnh mạch cửa bởi tĩnh mạch trực tràng trên.

đến mép hậu môn có chiều dài khoảng 1,5cm.
Theo các nhà phẫu thuật thì ống hậu môn được giới hạn phía ngoài là
mép hậu môn, nhưng phía trong là vòng hậu môn trực tràng cao hơn đường
lược 1,5cm. Như vậy ống hậu môn theo các nhà phẫu thuật học dài 3cm.
8
Đường kính ống hậu môn khoảng 3cm và thường xuyên khép dọc. ống hậu
môn có các cơ bọc xung quanh từ ngoài vào trong gồm: Cơ thắt ngoài, phức
hợp cơ dọc dải liên hợp, cơ thắt trong, cơ nâng hậu môn, các khoang tế bào và
lớp niêm mạc hậu môn. [36],[39],[54],[80],[83].
1.1.2.2. Các lớp cấu tạo ống hậu môn.
* Cơ thắt ngoài: Cấu tạo thuộc hệ cơ vân, là cơ riêng của vùng này có 3
phần: Phần dưới da, phần nông và phần sâu. [36], [39], [80].
+ Phần dưới da: ở nông nhất ngay lỗ hậu môn: Xuyên qua các phần này
có các dải xơ cơ của cơ dọc trực tràng chạy từ ngoài vào từ trên xuống bám
vào da tạo nên cơ nhíu da làm cho da có các nếp nhăn. Các nếp nhăn này xếp
theo hình nan quạt mà tâm điểm là lỗ hậu môn.
+ Phần nông: ở sâu hơn và ở phía ngoài hơn so với phần dưới da. Phần
nông là phần to nhất và mạnh nhất của cơ thắt ngoài. Phần này xuất phát từ
sau chạy ra trước vòng quanh 2 bên hậu môn có 1 số sợi bám vào trung tâm
cân đáy chậu.
+ Phần sâu: Nằm trên phần nông bao quanh phần trên ống hậu môn. Các
thớ cơ này hòa lẫn với các thớ cơ nâng hậu môn. Phía sau đan lẫn với các cơ
mu trực tràng. Phía trước có một số bám vào trung tâm gân đáy chậu. Do bó
sâu gắn vào với bó mu trực tràng của cơ nâng hậu môn do đó có chức năng
quan trọng đặc biệt trong cơ chế tự chủ của hậu môn.
Cơ thắt ngoài do nhánh đáy chậu của dây thần kinh cùng IV chi phối
chức năng co thắt ống hậu môn.

* Lớp cơ niêm: Lớp cơ niêm phát triển một phần từ cơ thắt trong và một
phần từ những sợi đi qua cơ thắt trong của lớp cơ dọc dài [39], [54].
Cơ niêm có chức năng bảo vệ lớp lót hậu môn ngăn sự sa lồi của tổ chức
lớp lót hậu môn khi đại tiện.
* Lớp niêm mạc hậu môn:
10
Lớp niêm mạc hậu môn có sự thay đổi từ trên xuống dưới đáy là lớp
niêm mạc chuyển tiếp giữa biểu mô tuyến với tế bào hình trụ ở trên đường
lược sau đó đến biểu mô lát tầng không sừng hoá ở đoạn trung gian và cuối
cùng đến biểu mô lát tầng sừng hoá ở giai đoạn da niêm mạc ống hậu môn,
vùng lát tầng không sừng hoá dưới đường lược có rất nhiều các tận cùng các
thần kinh rất nhạy cảm. Đặc biệt là cảm giác đau, nóng, lạnh. Nên nếu tiến
hành phẫu thuật thủ thuật vào vùng này bệnh nhân sẽ rất đau. Ngược lại lớp
niêm mạc phía trên đường lược có rất Ýt các tận cùng thần kinh, cảm giác đau
ở đây mơ hồ do vậy các thủ thuật, phẫu thuật ở đây bệnh nhân sẽ Ýt đau [36],
[39], [80].
1.1.2.3. Cấu tạo mô học của ống hậu môn
Nhiều công trình nghiên cứu mô học và mạch máu của ống hậu môn được
công bố trong thời gian gần đây đã cho phép hiểu rõ hơn về cấu tạo [36], [39].
* Niêm mạc của ống hậu môn trực tràng: Được chia ra 2 phần:
+ Phần trên van hậu môn: Niêm mạc màu đỏ xẫm, tế bào ở đây mang
tính chất giống tế bào niêm mạc ruột (tế bào tiểu mô tuyến).
* Phần dưới van hậu môn: gồm có 2 đoạn
+ Đoạn trên: Đoạn này cao độ 10 milimet, còn được gọi là vùng lược
(niêm mạc ở đoạn này có đặc điểm là niêm mạc màu xanh xám, nhẵn mỏng).
Đặc biệt rất Ýt di động do được cố định bởi dây chằng niêm mạc (dây Park).
Tế bào niêm mạc ở đây là dạng chuyển tiếp giữa tế bào biểu mô tuyến của

một hệ thần kinh thực vật phong phó.
Thomson W.H là người đã phát hiện ra chính xác các xoang máu trên,
hình thành ra những cái đệm có thể cương lên ở những mức độ khác nhau.
Các đệm này sắp xếp không cân đối ở ống hậu môn, chúng thường ở các vị trí
3 giê, 8 giê, 11 giờ (tư thế bệnh nhân nằm ngửa) [81], [83].
Theo Thomson sự sắp xếp này là một điều lý tưởng để chức năng của
lớp dưới niêm mạc thích ứng được với trạng thái thay đổi kích thước của ống
12
hậu môn. Vì một lý do nào đó mà tuần hoàn ở các xoang máu trên bị rối loạn
sẽ phát sinh ra các triệu chứng của bệnh trĩ.
1.1.2.4. Sinh lý ống hậu môn
Hậu môn bình thường có 2 chức năng: Chức năng thứ nhất quan trọng là
kiểm soát đại tiện theo ý muốn. Chức năng thứ hai là tránh thoát vị tầng sinh
môn. Chức năng thứ 2 giản đơn hơn do tất cả các cơ vùng chậu đảm nhiệm.
Ngoài ra do đặc điểm giải phẫu ống hậu môn gập góc với bóng trực tràng do
vậy tránh cho các tạng không thoát ra ngoài. Chức năng thứ nhất đặc biệt
quan trọng. Đại tiện, trung tiện là chức năng sinh lý đặc biệt quan trọng của
hậu môn. Chức năng tự chủ của hậu môn phụ thuộc vào lưu động đẩy phân
của đại tràng, sự co giãn của bóng trực tràng, vai trò của hoành chậu hông, bó
mu trực trạng của cơ nâng hậu môn khi co gây gập góc giữa trục hậu môn và
trực tràng, khi rặn làm thẳng trục giữa ống trực tràng và ống hậu môn, cuối
cùng là đáp ứng của hệ thống cơ thắt hậu môn với kích thích về áp lực [36],
[39], [54], [69], [80].
Hệ thống cơ thắt đáp ứng với kích thích muốn đại tiện qua đường dẫn
truyền cảm giác nhờ các thụ thể nhận cảm các vùng khác nhau. Từ niêm mạc
da ống hậu môn, đặc biệt là vùng lược. Các thụ thể này nhận cảm giác với các
tác nhân đau, nóng, lạnh, áp lực, phân biệt được bản chất của chất thải là rắn,

1.1.3.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân của bệnh trĩ còn nhiều điều chưa thật chắc chắn, những yếu
tố sau đây thường được nhắc tới trong khi nói về nguyên nhân bệnh:
+ Yếu tố nòi giống
+ Yếu tố gia đình và chửa đẻ
+ Hay gặp ở người mắc một số bệnh như béo phì, đái tháo đường…
+ Yếu tố nghề nghiệp (phải ngỗi tĩnh tại lâu, đứng nhiều)…
14
Những yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ: Trên thực tế thường gặp
những hoàn cảnh xem như là có vai trò thúc đẩy xuất hiện bệnh trĩ, mặc dù
không phải khi nào cũng có thể giải thích được cơ chế tác dụng.
+ Rối loạn lưu thông ruột: Hiện tượng táo bón, hay ỉa lỏng làm cho niêm
mạc hậu môn dễ trượt xuống.
+ Một số hiện tượng sinh lý: Hành kinh, thai nghén.
+ Một số động tác thể dục, thể thao: Phải dùng những động tác gắng sức,
có thể gây mất cân bằng tuần hoàn đột ngột.
+ Chế độ ăn quá mức, ăn nhiều ớt, uống rượu, cà phê quá nhiều.
+ Một số thuốc đặt tại ống hậu môn: Kháng sinh, giảm đau, thuốc ngủ
[36], [54].
1.1.4. Chẩn đoán và phân loại trĩ của YHHD
1.1.4.1. Chẩn đoán
* Lâm sàng:
+ Đại tiện ra máu: Đây là dấu hiệu sớm nhất và thường gặp nhất trong bệnh
trĩ, thường biểu hiện ở mức độ khác nhau như thành tia, nhỏ giọt, hoặc thấm vào
giấy vệ sinh. Máu tự ngừng chảy khi đi đại tiện xong, đúng lúc hậu môn khép
lại. Mất máu kéo dài, gây tình trạng thiếu máu mãn tính [3], [33], [80].
+ Sa lồi búi trĩ: Trĩ nội lúc đầu khu trú hoàn toàn bên trong hậu môn trực

các búi trĩ. Tuỳ theo tổn thương trên lâm sàng và giải phẫu bệnh, người ta
chia làm 4 độ sẽ trình bày sau.
+ Trĩ ngoại: Trĩ ngoại được hình thành do giãn qúa mức đám rối tĩnh
mạch trĩ dưới, nằm ở khoang cạnh hậu môn dưới da, chân các mũi trĩ bao giờ
cũng nằm ở dưới đường lược.
+ Trĩ hỗn hợp: Trĩ nội nằm ở trong ống hậu môn, trĩ ngoại nằm ở ngoài
ống hậu môn. Ở đây niêm mạc dính chặt vào mặt trong cơ thắt bởi dây chằng
Parks. Khi dây chằng này bị thoái hoá trùng xuống không đủ phân cách giữa
trĩ nội và trĩ ngoại, chúng hợp lại với nhau tạo thành trĩ hỗn hợp.
16
+ Trĩ vòng: Lúc đầu các búi trĩ nội cũng như các búi trĩ ngoại nằm phân
cách nhau ở ba vị trĩ: Phải trước, phải sau và trái ngang.Về sau các búi trĩ nội
và ngoại hợp với nhau thành trĩ hỗn hợp. Các búi trĩ này to dần lên và giữa
các búi trĩ chính lại xuất hiện những búi trĩ phụ, chúng liên kết với nhau tạo
thành vòng tròn trĩ gọi là trĩ vòng [68].
* Phân loại theo vị trí: Người bệnh ở tư thế nằm ngửa (tư thế sản khoa)
nếu coi ống HM như mặt kính đồng hồ thì sự phân bố thông thường nhất của
các búi trĩ là ở vị trí 3h, 8h, 11h, một số trường hợp có thể có các búi trĩ ở
những vị trí khác [24],[52].
Phân độ trĩ nội:
Tổn thương về lâm sàng và giải phẫu 'bệnh trĩ được nhiều tác giả phân
độ theo tiêu chuẩn của bệnh viện St Marks - London và hội hậu môn trực
tràng Việt Nam.
* Độ I: ở giai đoạn đầu, trĩ cương tụ nằm trong ống hậu môn, chưa xa ra
ngoài, lâm sàng chủ yếu là ỉa ra máu tươi 80-90% kèm theo tức rát hậu môn
[33], [35].
* Độ II: Triệu chứng chính ỉa ra máu tươi, búi trĩ lấp ló ở hậu môn khi rặn,

TrÜ néi
®é 3
TrÜ néi
®é 4
19
1.1.5. Điều trị bệnh trĩ bằng y học hiện đại.
1.1.5.1. Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh trĩ theo y học hiện đại
Bệnh trĩ đã được ghi lại trong các y văn của (Hypocrat (460-437) trước
công nguyên). Và từ xưa đến thế kỷ 19 điều trị trĩ chủ yếu dùng thuốc uống,
thủ thuật tiêm xơ và phẫu thuật theo nhiều phương pháp.
Trong vòng 3 thập kỷ trở lại đây có nhiều nghiên cứu về giải phẫu, mô
học, sinh bệnh học, đã làm sáng tỏ bản chất của bệnh trĩ [64]. Từ đó cho đến
nay kết quả điều trị bệnh trĩ rất khả quan.
* Chế độ sinh hoạt: Thực tiễn đã chứng minh dù điều trị trĩ bằng
phương pháp gì các tác giả rất chú trọng và khuyên bệnh nhân có chế độ sinh
hoạt hợp lý. Hạn chế công việc nặng, tránh các tác động mạnh làm cho áp lực
trong khoang bụng tăng cao. Nếu có thể thay đổi nghề nghiệp, tránh ngồi hoặc
đứng nhiều, tránh uống rượu, bia hoặc ăn các chất kích thích như ớt, hạt tiêu.
Giữ sạch vùng hậu môn, dùng giấy mềm, vệ sinh vùng hậu môn mỗi khi đi
đại tiện, mỗi ngày rửa hậu môn 1-2 lần, không nên rửa quá nhiều vì dễ gây
nên những tổn thương bề mặt búi trĩ. Đặc biệt khi có hiện tượng búi trĩ thắt
nghẹt thì ngâm hậu môn vào nước Êm và cho bệnh nhân nằm đầu thấp. Chế
độ sinh hoạt rất quan trọng, nó có thể áp dụng cho mọi bệnh nhân kể cả bệnh
nhân đã và đang dùng các phương pháp điều trị khác, chế độ sinh hoạt tốt sẽ
làm cho bệnh nhân Ýt bị biến chứng, Ýt bị tái phát.
Các phương pháp điều trị:
* Điều trị nội khoa:

vài ba tháng. Tuy nhiên phương pháp này có ba biến chứng sau: Rạn nứt vùng
rìa hậu môn, sa lồi niêm mạc ở một số bệnh nhân trĩ độ III, mất tự chủ hậu
môn. Một số tác giả đã cải tiến kỹ thuật của Lord P.H [69], [75], [80], [86],
[87] .
+ Tiêm xơ búi trĩ:
21
Lúc đầu người ta sử dụng persunfate sắt, sau này người ta đã dần dần
thay thế bằng các thuốc tiêm xơ khác như dầu ô liu, quininchlohydrat, Urê 5%
kép, cồn pha với Novocain 1%, Phenol, huyết thanh nóng [79], [87]… chất làm
xơ cứng được tiêm vào búi trĩ sẽ bao quanh và làm tắc nghẽn các mạch máu ở
dưới niêm mạc làm cho niêm mạc được gắn cố định vào lớp cơ bên dưới. Phương
pháp này được áp dụng cho trĩ độ I, độ II và một số độ III có chảy máu. Kết quả
của phương pháp này chỉ được coi là tạm thời vì tỷ lệ xuất hiện lại các triệu chứng
của trĩ và tái phát bệnh sau 5 năm từ 38% - 68% và có những biến chứng viêm
loét niêm mạc, áp xe dưới niêm mạc và thành trực tràng [20], [31], [33], [56],
[63], [75], [81], [84]
* Điều trị bằng các liệu pháp vật lý:
+ Liệu pháp lạnh:
Chất làm lạnh bằng nitơ lỏng hay Protoxyt nitơ, do nhiệt độ thấp làm kết
tinh nước ở khu vực trong và ngoài tế bào. Sự kết tinh nước làm cho mạch máu
bị tắc nghẽn gây hoại tử. Sau khoảng một tuần búi trĩ tự hoại tử. Sau 2 - 3 tuần
vết loét hoại tử khỏi dần, phương pháp đòi hỏi phải có hoá chất, kỹ thuật tiến
hành phức tạp, chỗ đốt lạnh có thể phù nề, rỉ nước kéo dài trong vài ngày sau đó
[33], [63], [75], [85].
+ Phương pháp quang đông:
Người ta dùng tia hồng ngoại hoặc tia laser chiếu vào búi trĩ, làm cho búi
trĩ đông lại. Thời gian chiếu 1 - 2 giây, mỗi chỗ sẽ được một diện quang đông

nhật, phía dưới của mỗi vạt là tổ chức trĩ, phía trên là niêm mạc trực tràng
bình thường. Đường cắt phía trên ở mức niêm mạc trực tràng bình thường.
[33], [54], [68], [86], [87].
Như vậy là cắt bỏ cả một đoạn ống da - niêm mạc của ống hậu môn cùng
với cuống của các búi trĩ, sau đó kéo niêm mạc trực tràng xuống đính vào
mép da rìa hậu môn. Phương pháp này có nhiều biến chứng, bục chỗ khâu
23
đính niêm mạc, sẹo xơ chít hẹp lòng ống hậu môn, ỉa không tự chủ. Hiện nay
phương pháp này không dùng nữa.
+ Phương pháp của Toupet: Điểm cơ bản của đường rạch ở trên cao bảo
tồn cùng niêm mạc da nhạy cảm của ống hậu môn, đây là một trong các kỹ
thuật cải tiến của phương pháp Whitehead [33], [39], [41] .
+ Phương pháp mổ trĩ của Longo: Đây là một phương pháp mổ trĩ được
báo cáo hội nghị tại Italia (1998): Nguyên lý của phương pháp này là dùng
một dụng cụ đặc biệt đưa vào trong ống hậu môn trực tràng để cắt bỏ đi một
vòng niêm mạc (vị trí trên đường lược 4 - 5cm). Như vậy sẽ ngăn chặn dòng
máu tới các búi trĩ và làm cho búi trĩ sẽ teo đi; đồng thời sau khi cắt vòng
niêm mạc, dụng cụ này sẽ tự khâu hai mép niêm mạc lại với nhau do đó búi
trĩ cũng sẽ được kéo lên và cũng giải quyết được tình trạng sa búi trĩ. Thời
gian mổ trĩ ngắn, hậu phẫu nhẹ nhàng, tuy nhiên bộ dụng cụ để mổ trĩ còn đắt,
nên không phổ biến rộng rãi ở những nước còn nghèo và phương pháp này chỉ áp
dụng điều trị trĩ nội [38].
1.1.5.2. Điều trị Trĩ bằng YHHĐ ở Việt Nam
Hội Hậu môn trực tràng Việt Nam được thành lập tháng 2 năm 2001. Đã
tập hợp được các giáo sư, bác sĩ giỏi, có tâm huyết với bệnh hậu môn trực
tràng cả Tây và Đông y. Hàng năm đều tổ chức sinh hoạt khoa học để trao
đổi, tổng kết, cập nhật về các bệnh hậu môn trực tràng và phổ biến các

nhân, an toàn, kết quả tốt 87,8% [53].
+ Nguyễn Văn Xuyên năm 1991 công bố luận án Tiến sĩ khoa học y
dược “Góp phần nghiên cứu cắt toàn bộ trĩ vòng với dụng cụ tự tạo” kết quả
tốt 87,3% [68].
25
+ Chu Bá Tám (2002) “Nghiên cứu kết quả phẫu thuật cắt toàn bộ trĩ vòng bằng
phương pháp Whitehead cải tiến” tại Viện 103. Luận văn Thạc sĩ HVQY kết quả
86,36% [67].
1.2. Quan điểm của y học cổ truyền về bệnh trĩ.

Trĩ hậu môn đã được các y văn cổ của y học cổ truyền mô tả từ rất sớm
trong các chứng "Tiện huyết", "Thấp nhiệt hạ trú", "Trung khí hạ hãm"
1.2.1. Bệnh sinh, nguyên nhân gây nên bệnh trĩ theo y học cổ truyền
Từ 2000 năm trước đây, trong Hoàng Đế Nội kinh đã ghi chép nguyên
nhân sinh ra bệnh trĩ là do cân mạch bị giãn rộng nên phát sinh ra bệnh trĩ,
không đơn giản cục bộ mà còn do cơ thể âm dương khí huyết không điều hoà.
Bên ngoài do lục dâm, bên trong do nội thương thất tình mà ra [57], [61],
[62].
+ Ngoại tà: Thấp nhiệt sinh kiết lỵ, lỵ lâu ngày rặn nhiều sinh trĩ.
+ Đại tràng tích nhiệt, đại tiện táo bón lâu ngày sinh trĩ.
+ Tà nhiệt lâu ngày sinh trĩ.
+ Tỳ vị mất điều hoà, thấp nhiệt dồn xuống, khí huyết hư hao, đại tiện
mót rặn nhiều thành trĩ.
+ Ăn uống không điều hoà, khi no quá, khi đói quá, uống rượu nhiều, ăn
thức ăn cay, nóng nhiều quá gây táo bón.
+ Lao động nặng nhọc, ngồi xổm, phụ nữ có thai, hay nín nhịn đại tiện
mót rặn nhiều thành trĩ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status