MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
4
1.1 HİỆU QUẢ SẢN XUẤT KİNH DOANH 4
1.1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh 4
1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh 4
1.1.3. Đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh 8
1.1.4. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 10
1.2. CÁC CHỈ TİÊU ĐÁNH GİÁ HİỆU QUẢ SXKD CỦA DOANH NGHİỆP 12
1.2.1. Hệ thống các chỉ tiêu tổng quát 14
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu chi tiết đánh giá hiệu quả kinh doanh 15
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚİ HİỆU QUẢ SẢN XUẤT KİNH DOANH 22
1.3.1. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 24
1.3.2. Nhân tố bên trong doanh nghiệp 27
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TỔNG CÔNG TY ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC 30
2.1. GİỚİ THİỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRİỂN HẠ TẦNG ĐÔ
THỊ UDIC 30
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của Tổng công ty 31
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty 33
2.1.4. Máy móc thiết bị của Tổng Công ty 40
2.1.5. Tình hình lao động của Công ty 40
2.2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KİNH DOANH 44
2.2.1. Tình hình nguồn việc của Tổng Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
giai đoạn từ năm 2010 ÷ 2012 44
2.2.2. Tình hình sản xuất kinh doanh giai đoạn năm 2010 ÷ 2012 49
2.2.3. Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2010 ÷ 2012 51
2.3 PHÂN TÍCH HİỆU QUẢ SẢN XUẤT KİNH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ
PHÁT TRİỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC 55
ĐTTM Đầu tư thương mại
KTKH Kinh tế kế hoạch
QLTB-VT Quản lý thiết bị vật tư
QTKD Quản trị kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCHC Tổ chức hành chính
TCKT Tài chính kế toán
TCVN Tiêu chuẩn việt nam
VLĐ, VCĐ Vốn lưu động, vốn cố định
VLXD Vật liệu xây dựng
XDCB Xây dựng cơ bản
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lao động của Công ty theo trình độ năm 2010 ÷ 2012 41
Bảng 2.2: Báo cáo thống kê cán bộ theo chuyên ngành đào tạo năm 2012 42
Bảng 2.3: Thống kê chất lượng công nhân kỹ thuật năm 2012 43
Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn việc của Tổng Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
từ đấu thầu hay chỉ định thầu 45
Bảng 2.5 Cơ cấu lĩnh vực các gói thầu công ty thực hiện 45
Bảng 2.6 Tình hình đấu thầu của công ty theo số lượng các công trình tham gia đấu
thầu từ 2010 ÷ 2012 47
Bảng 2.7 Tình hình đấu thầu của công ty theo giá trị các công trình tham gia đấu thầu
từ 2010 ÷ 2012 47
Bảng 2.8: Bảng phân tích tình hình hoạt động SXKD của Tổng Công ty đầu tư phát
triển hạ tầng Đô thị UDIC từ năm 2010 - 2012 49
Bảng 2.9 Bảng phân tích cơ cấu tài sản của công ty từ năm 2010 ÷ 2012 51
Bảng 2.10 Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty từ năm 2010 ÷ 2012 52
Bảng 2.11: Hiệu quả sử dụng tổng tài sản 55
Bảng 2.12 Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn 57
Bảng 2.13: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn 59
Bảng 2.14: Các khoản phải thu ngắn hạn 61
lượng và toàn bộ công tác quản lý kinh tế. Bởi suy cho cùng, quản lý kinh tế là để đảm
bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất cho mọi quá trình, mọi giai đoạn của hoạt động
sản xuất kinh doanh. Tất cả những cải tiến, những đổi mới về nội dung, phương pháp
và biện pháp áp dụng trong quản lý chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng làm tăng được
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh không những là thước đo
chất lượng, phản ánh trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, mà còn là vấn đề sống còn
của các doanh nghiệp.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế thế giới của Việt
Nam hiện nay, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tham gia vào nền kinh tế, có cơ hội
giao lưu, mở mang và phát triển. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng đứng trước
nhiều thách thức khó khăn, đó là: sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang và sẽ
tham gia vào nền kinh tế này; khó khăn thách thức đó là các vấn đề từ nguồn nhân lực,
tài lực; khó khăn đó là những vấn đề xuất phát từ quan hệ cung – cầu v.v đặc biệt
trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành xây dựng nói riêng đang gặp
nhiều khó khăn. Vì vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh trong giai đoạn này đóng vai trò
cực kỳ quan trọng. Doanh nghiệp nào hoạt động hiệu quả thì tồn tại và phát triển,
doanh nghiệp nào không đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ nhanh chóng suy
yếu và phá sản.
2
Tổng công ty đầu tư phát triển Hạ Tầng đô thị UDIC là doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và xây lắp cũng không tránh khỏi những khó khăn
thách thức trên. Vì vậy, cần thiết phải tìm lời giải cho bài toán đó là: với năng lực của
doanh nghiệp và trong môi trường kinh doanh hiện nay thì doanh nghiệp sẽ sản xuất
cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Để tối đa hóa những nguồn lực từ bên
trong và ngoài doanh nghiệp, đồng thời hạn chế, khác phục các yếu điểm bên trong
doanh nghiệp và những tác động xấu từ môi trường bên ngoài, hướng tới hiệu quả cao
nhất mà doanh nghiệp có thể đạt được, để doanh nghiệp trụ vững trong bối cảnh nền
kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn và có những bước phát triển mới trong sự
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này, “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty đầu tư phát triển Hạ Tầng đô thị UDIC.
4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả hiểu theo nghĩa thông thường là sự so sánh giữa kết quả đạt được với
hao phí bỏ ra. Trong đó kết quả là đại lượng phản ánh kết cục một, một số hay tất cả
các hoạt động cụ thể diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định; Chi phí là các
nguồn lực, hay các phương tiện được sử dụng để đạt kết quả đó. Vậy, thực chất của
phạm trù hiệu quả là phản ánh mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện. Mục đích
gắn với kết quả cần đạt được, còn phương tiện gắn với chi phí, nguồn lực cần có để đạt
được mục đích.
Mỗi lĩnh vực khác nhau, xét trên các góc độ khác nhau và phạm vi khác nhau thì
vấn đề về hiệu quả cũng được nhìn nhận theo các cách khác nhau. Vì vậy ở mỗi lĩnh
vực cụ thể lại có khái niệm về hiệu quả riêng cho từng lĩnh vực cụ thể đó. Thông
thường, khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì người ta gắn tên của lĩnh vực
đó liền ngay sau từ “hiệu quả”, ví dụ hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh doanh, hiệu quả
sử dụng vốn
- Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng
và năng lực quản lý các nguồn lực để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được kết quả
cao nhất với chi phí thấp nhất có thể.
1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.2.1. Các quan điểm cơ bản về hiệu quả
Ngày nay, người ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về hiệu quả. Ở mỗi
góc độ, lĩnh vực khác nhau thì hiệu quả cũng được xem xét nhìn nhận khác nhau và
thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì chúng ta xem xét vấn
trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất
kinh doanh do điều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu không giống nhau. Cho đến
nay, có khá nhiều quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh:
- Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí
và mức tăng kết quả sản xuất.
Quan điểm này biểu hiện bản chất của hiệu quả chứ không phải là khái niệm về hiệu
quả kinh tế.
6
- Quan điểm thứ hai: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả sản
xuất và chi phí sản xuất hoặc là sự so sánh nghịch đảo giữa chi phí bỏ ra và kết quả
mang lại.
Quan điểm này đã phản ánh mối quan hệ bản chất của hiệu quả, tuy nhiên nó mới
chỉ phản ánh được về đo lường hiệu quả sản xuất kinh doanh mà chưa gắn với mục tiêu
quản lý. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo phản ánh được cả
định tính cũng như định lượng và ứng dụng được vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.
- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục
tiêu kinh doanh.
Đây là một khái niệm tổng quát, thể hiện được bản chất của hiệu quả sản xuất
kinh doanh và là một vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lao động tư liệu lao động, đối
tượng lao động, vốn
Vì vậy, khi phân tích hiệu quả phải kết hợp nhiều chỉ tiêu như: Chỉ tiêu hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh; chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng
chi phí
- Quan điểm thứ tư: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu
hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các
nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực
hiện mục tiêu kinh doanh.
là những đại lượng có thể cân, đo, đong đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại,
doanh thu, lợi nhuận… và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng
hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của hãng, chất lượng sản phẩm… Như thế
kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Trong khi đó trong khái niệm về
hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và
chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý
thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được
xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để
xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn là giữa "đầu vào" và "đầu
ra" không có cùng một đơn vị đo lường, còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa
các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là
hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trước tiên,
hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp đạt
được ở trình độ nào. Nhưng xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ dừng ở đó mà thông
8
qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho phép nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp ở mức độ
cao hơn với chi phí về nhân tài, vật lực và tiền vốn ít hơn. Như vậy, nhiều lúc người ta
sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác
người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt
là kết quả.
1.1.3. Đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một khái niệm phức tạp và khó đánh giá chính
xác. Sở dĩ phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phức tạp và khó đánh giá
chính xác là vì ngay ở khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy hiệu quả
sản xuất kinh doanh được xác định bởi mối tương quan giữa hai đại lượng là kết quả đạt
được từ hoạt động sản xuất (doanh nghiệp sản xuất) hoặc kinh doanh (doanh nghiệp
thương mại, dịch vụ…) và chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh
đó. Trong khi cả hai đại lượng kết quả và chi phí đều khó xác định chính xác.
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta thấy hầu như rất ít khi các
phí trực tiếp trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới đem lại kết quả cho doanh
nghiệp, mà còn rất nhiều chi phí cho hoạt động xã hội như: Giáo dục, cải tạo môi
trường, sức khoẻ… có tác động không nhỏ tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chi phí này rất khó tính toán được trong quá trình xem xét hiệu quả kinh tế. Mặt
khác, trong thực tế khi ra các quyết định sản xuất kinh doanh của mình, các doanh
nghiệp thường hướng vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên dẫn đến xu hướng chi phí
biên cá nhân (MPC) thấp hơn chi phí biên xã hội (MSC). Điều này dẫn đến sự tách biệt
giữa kết quả và hiệu quả cá biệt xã hội. Để rút ngắn sự tách biệt này, các biện pháp can
thiệp vĩ mô của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết. Cũng cần thấy rằng khi doanh nghiệp
ra quyết định sản xuất kinh doanh theo hướng giảm chi phí biên cá nhân so với chi phí
biên xã hội sẽ tạo ra ảnh hưởng ngoại ứng đối với các doanh nghiệp sản xuất khác cũng
như đối với người tiêu dùng và trong nhiều trường hợp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến
bản thân doanh nghiệp với tư cách là một thành viên trong đó. Nhiều doanh nghiệp cố
tình giảm thiểu chi phí cho việc xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường và sự ô nhiễm
ngày một tăng ảnh hưởng đến cả khu vực rộng lớn và cuối cùng dẫn đến việc đóng cửa
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng các biện pháp pháp luật. Như thế kết quả
và hiệu quả đạt được trước mắt của doanh nghiệp đã dẫn đến không có hiệu quả và thậm
chí phi hiệu quả kinh tế nếu xét trong thời gian dài.
10
1.1.4. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các nguồn tài nguyên trên trái đất là hữu hạn tuy nhiên nhu cầu tiêu dùng vật
phẩm của con người lại là phạm trù không có giới hạn: không có giới hạn ở sự phát
triển các loại cầu và ở từng loại cầu cũng không có giới hạn, nó luôn biến đổi theo xu
hướng càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao càng tốt. Vì vậy mà tài
nguyên ngày càng trở nên khan hiếm. Khan hiếm đòi hỏi và bắt buộc con người phải
nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế. Khan hiếm tăng dần dẫn đến vấn đề lựa chọn kinh tế
tối ưu. Các lựa chọn này dần tạo nên đặc tính cạnh tranh của thị trường.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại, phát triển doanh nghiệp cần
phải gắn mình vào thị trường.
Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa. Nó tồn tại một cách khách
buộc các doanh nghiệp phải tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Như vậy, hiệu quả sản
xuất kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong công việc đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo ra hàng
hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội đồng thời tạo ra
tích lũy cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanh nghiệp đều phải vươn
lên đảm bảo thu nhập, bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động kinh
doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Và như
vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh như là một tất yếu.
Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là một yêu cầu mang tính chất giản đơn còn sự phát
triển và mở rộng doanh nghiệp lại là một yếu tố quan trọng. Bởi vì sự phát triển, mở
rộng của doanh nghiệp không những đòi hỏi sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn đòi
hỏi sự tích lũy đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát
triển. Như vậy để phát triển và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn là
đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo
có tích lũy đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và một lần nữa nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh được nhấn mạnh.
- Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy cạnh
tranh và sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và kinh doanh.
Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Trong khi thị trường
ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt hơn. Sự
cạnh tranh lúc này không phải là các mặt hàng mà cạnh tranh cả chất lượng, giá cả…
Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu
12
tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể bóp chết doanh nghiệp trên thị
trường. Do vậy, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đều phải chiến thắng
trong cạnh tranh trên thị trường. Để được điều này thì các doanh nghiệp phải có hàng
hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả hợp lý.
Mặt khác hiệu quả sản xuất kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành,
tăng khối lượng hàng hóa bán, chất lượng không ngừng được hoàn thiện nâng cao, từ
quả sản xuất kinh doanh, thể hiện ở các yếu tố đầu vào, đầu ra và bản thân quá trình
sản xuất kinh doanh.
- Đảm bảo tính thống nhất trong phương pháp xác định mối quan hệ giữa các
chỉ tiêu
+ Các chỉ tiêu phải được xây dựng trên những cách xác lập nhất định:
• Phải được đánh giá trên quan điểm hệ thống và xác định trên cơ sở so
sánh giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh.
• Được đo bằng chỉ tiêu tương đối, cường độ quan hệ so sánh giữa đầu vào và
đầu ra.
+ Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh phải có sự liên hệ so sánh được với
nhau, có phương pháp tính toán cụ thể, thống nhất, có phạm vi áp dụng nhất định phục
vụ cho mục đích nhất định của công tác quản lý.
- Đảm bảo tính chính xác và khoa học
Khi xác định chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải đảm
bảo tính đúng đắn, chính xác, đầy đủ của kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra.
- Đảm bảo tính đơn giản và thực tế
Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đưa về
dạng tính toán đơn giản nhất, phải dựa trên cơ sở các dữ liệu thông tin thực tế, đơn
giản và dễ hiểu. Không nên sử dụng các phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ
các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác.
- Đảm bảo tính hệ thống
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một tập hợp
các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả từ góc độ và khía cạnh khác nhau của các yếu tố sản
xuất khác. Các chỉ tiêu cấu thành phải thể hiện được tính hệ thống, trong hệ thống phải
có cả chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu bộ phận
Đánh giá, phân tích hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi bức thiết đối với các bộ phận
cũng như toàn doanh nghiệp nhằm khai thác tiềm năng, nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh. Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tăng cường tích lũy để đầu tư tái kinh
14
doanh cả chiều sâu lẫn chiều rộng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh toàn bộ
(1.2)
Trong đó:
K: Kết quả đạt được theo hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh
15
C: Tổng chi phí bỏ ra để đạt được kêt quả đó
E: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Cách tính này khác phục được những tồn tại của cách tính trên, nó tạo điều kiện
nghiên cứu một cách có hiệu quả và toàn diện.
Tóm lại, cách xác lập này coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là đại lượng để so
sánh: Dạng hiệu số gọi là: “hiệu quả dạng tuyệt đối”.
Dạng phân số gọi là: “hiệu quả dạng tương đối”.
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu chi tiết đánh giá hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quan hệ so sánh giữa chi phí
đầu vào và kết quả đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh.
- Chi phí đầu vào
Chi phí đầu vào bao gồm chi phí các nguồn lực (nguồn lực tài chính, nguồn lực
lao động, nguồn lực vật chất )
- Kết quả đầu ra
Kết quả đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp thu
được sau một quá trình sản xuất kinh doanh hay một thời gian sản xuất kinh doanh nào
đó được phản ánh bằng các chỉ tiêu: Doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp rất đa dạng, do vậy để đánh
giá một cách chính xác, toàn diện hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
khồn thể sử dụng một chỉ tiêu nào đó mà phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu chung
phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh từ nhiều góc độ khác nhau theo vai trò của các
yếu tố sản xuất khác nhau, trong các phạm vi nghiên cứu khác nhau.
1.2.2.1. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là một trong các yếu tố chính của quá trình sản xuất kinh doanh. Lao
động tác động lên các yếu tố đầu vào khác và tạo ra sản phẩm, chính vì vậy mà
phương thức tổ chức lao động, trình độ lao động có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản
h
LD
: Sức sinh lời của một lao động
LN: Lợi nhuận sau thuế (trước thuế) trong kỳ
T: Số lao động bình quân sử dụng trong kỳ
1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng, có tác
dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý vốn, chất lượng công tác sản xuất kinh
doanh, từ đó làm cơ sở để đề ra biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
sử dụng vốn, góp phần tăng thêm kết quả sản xuất kinh doanh. Như vậy, việc nghiên
cứu hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa là tiền đề lý luận cho các nghiên cứu hiệu quả về
sau. Khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn người ta thường so sánh doanh thu, lợi nhuận
đạt được so với số vốn, tài sản bỏ ra để đạt được kết quả đó.
- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh cho biết doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn
tao ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định theo
công thức (1.5)
17
H
VKD
=
V
KD
D
(1.5)
Trong đó:
H
VKD
: Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
D : Doanh thu thuần
dụng tài sản cố định:
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh trong một kỳ sản xuất kinh doanh của
một đồng tài sản cố định của doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng doanh thu, và
được tính theo cơng thức (1.7)
18
H
TSCD
=
TS
CD
D
(1.7)
Trong đó:
H
TSCD
: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
D : Doanh thu thuần trong kỳ
TS
CD
: Tài sản cố định bình quân sử dụng trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cố định
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cố định cho biết một đồng tài sản cố định bình quân
sử dụng trong kỳ kinh doanh mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận và
được xác định theo công thức (1.8)
h
TSCD
=
TS
CD
TS
NHBQ
: Tài sản ngắn hạn bình quân sử dụng trong kỳ
Để biết khả năng quay vòng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, người ta sử
dụng chỉ tiêu thời gian của một vòng luân chuyển tài sản ngắn hạn. Thời gian của một
19
vòng luân chuyển là số ngày cần thiết cho tài sản ngắn hạn quay được một vòng, và
được xác định theo công thức:
T
LC
=
D
NH
TS
x 360 (1.10)
Trong đó:
T
LC
: Thời gian một vòng luân chuyển tài sản ngắn hạn
TS
NH
: Tài sản ngắn hạn bình quân sử dụng trong kỳ
D : Doanh thu thuần trong kỳ
Tuy chỉ tiêu này không phản ánh trực tiếp hiệu quả sản xuất kinh doanh của việc
sử dụng tài sản ngắn hạn trên phương diện lý luận, nhưng trên thực tế cho thấy: Số
vòng quay tài sản ngắn hạn tăng, số ngày luân chuyển tài sản ngắn hạn giảm, tốc độ tài
sản ngắn hạn chuyển nhanh có thể giảm được tổng số tài sản ngắn hạn cần có trong
một kỳ kinh doanh, trong khi các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận không đổi, dẫn đến hiệu
quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao.
- Vòng quay các khoản phải thu
SV
KPT
: Vòng quay các khoản phải thu
20
- Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay
hàng tồn kho là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. + Vòng quay
hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho.
SV
HTK
=
HT
GV
(1.13)
Trong đó:
SV
HTK
: Vòng quay hàng tồn kho
GV : Giá vốn hàng bán
HT : Hàng tồn kho bình quân
+ Thời gian của một vòng quay hàng tồn kho là số ngày trung bình hàng tồn kho
lưu giữ, được tinh bằng công thức:
T
HTK
=
GV
HT
x 360 (1.14)
- Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn phản ánh một đồng tài sản ngắn hạn bình
CKD
: Hiệu suất sử dụng chi phí kinh doanh