Sự xuất hiện của "Tam Quốc chí lục dịch" và vấn đề dịch giả - Pdf 19


Sự xuất hiện của "Tam quốc chí tục
dịch" và vấn đề dịch giả SỰ XUẤT HIỆN CỦA TAM QUỐC CHÍ TỤC DỊCH
Có thể nói, giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là đêm trở dạ, đêm giao
thừa của văn học Việt Nam. Nhu cầu cách tân, hiện đại hóa văn học đã đến thời điểm
chín muồi: nền văn học cũ suy tàn, thực dân Pháp xâm lược mang theo văn hoá phương
Tây, chữ Quốc ngữ thuần thục, báo chí ra đời, Tây học phát triển, v.v… Và Sài Gòn trở
thành cái nôi, trung tâm của những “cái đầu tiên” của nền văn học mới, nền văn học
Quốc ngữ: báo chí, tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ mới, kịch, ký… hình thành và phát triển
nhanh chóng.
Thông thường, các cuộc đổi mới văn học đều đi theo trình tự từ dịch thuật, mô
phỏng đến sáng tác, tức học hỏi, tiếp thu, chọn lọc, phóng tác đến cái riêng. Rất nhiều
khi, trình tự ấy diễn ra ngay trong một tác giả, hoặc tuần tự, hoặc song song, mà đại diện
tiêu biểu ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX là: Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng
Mưu, Phạm Minh Kiên, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản, Trần Phong Sắc… Trước
khi sáng tác (hay bên cạnh sáng tác), những người này đều là các dịch giả trứ danh, mà
họ cũng được xem là những nhà văn tiên phong trong nền văn học mới. Điều đó có
nghĩa rằng, dịch thuật (cả Tàu lẫn Tây) đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá
trình cách tân, hiện đại hóa văn học. Ở đây xin lấy trường hợp dịch Tam quốc diễn
nghĩa làm ví dụ minh họa.
Tại sao Tam quốc diễn nghĩa lại được chọn dịch đầu tiên chứ không phải một tác
phẩm nào khác? Điều này ngoài nguyên nhân bởi giá trị nổi bật của bản thân tác phẩm

xuất bản, chỉ biết rằng truyện Tàu tung ra thị trường thì chạy như tôm tươi”
(2)
.
Năm 1992, trong công trình biên khảo Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ, Bằng Giang
đã bác bỏ nghi ngờ của Bình Nguyên Lộc và khẳng định Canavaggio chính là dịch
giả Tam quốc bằng cách đưa ra trường hợp Aubaret viết Vocabulaire Francais-
Annamite et Annamite-Francais, Grammaire de la langue Annamite và dịch Gia Định
thành thông chí ra tiếng Pháp; rồi trường hợp Landes cũng từng dịch Nhị độ mai sang
tiếng Pháp. Từ đó, Bằng Giang đi đến kết luận, dù có ngậm ngùi: “Việc Canavaggio có
dịch Tam quốc chí ra Quốc ngữ cũng chẳng phải là một chuyện phi thường khó tin. Hơn
nữa, Canavaggio không phải là một người háo danh trong lãnh vực văn học, báo chí”
(3)
.
Đồng thời ông cũng bác bỏ luôn những nghi ngờ của người khác về khả năng Lương
Khắc Ninh (chủ bút Nông cổ mín đàm) chính là dịch giả của Tam quốc: “Còn ông Ninh,
nếu đã có nhúng tay vào việc dịch thuật truyện Tàu thì ít lâu sau khi việc dịch này nổi
lên thành một phong trào, tại sao ông lại không thừa cơ hội đó mà làm ăn lớn như Trần
Phong Sắc, Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắt chẳng hạn? Thực tế, ông không có
mặt trong thư tịch về mảng văn học dịch này”
(4)
.
Năm 2001, các tác giả Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc
trong công trình Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945 khi viết về tờ Nông cổ mín
đàm cũng khẳng định: “Bộ Tam quốc chí của Trung Quốc lần đầu tiên được dịch ra
tiếng Việt, do chính Canavaggio dịch, đăng tải liên tục trên báo này”
(5)
.
Năm 2003, trong chuyên luận Các công trình văn học Quốc ngữ miền Nam,
Huỳnh Ái Tông đã dựa theo ý kiến của Vương Hồng Sển đi đến kết luận Lương Khắc
Ninh mới là người đầu tiên dịch Tam quốc: “Sơn Nam viết trong quyển Cá tính miền

Tóm lại, có hai ý kiến về dịch giả của Tam quốc diễn nghĩa: Ý kiến thứ nhất
khẳng định người dịch là Canavaggio. Ý kiến thứ hai nghi ngờ do người khác dịch. Như
vậy, có năm đối tượng nghi vấn được đưa ra là: Canavaggio, Lương Khắc Ninh, Trần
Phong Sắc, Nguyễn An Khương và Nguyễn Chánh Sắt. Mà xu thế cho thấy, hiện nay ý
kiến thứ nhất đang được nhiều người tán đồng, thắng thế hơn so với ý kiến thứ hai.
Trong đó, ý kiến thứ nhất dựa trên căn cứ tên Canavaggio được ghi rõ ràng dưới bản
dịch Tam quốc trên các kỳ báo Nông cổ mín đàm, còn ý kiến nghi ngờ chủ yếu dựa trên
suy đoán chủ quan không có bằng chứng.
Ở đây, tôi sẽ dựa trên ba tiêu chí để loại trừ năm đối tượng được dẫn ra từ hai ý
kiến trên, từ đó đi đến xác định dịch giả thực sự của Tam quốc.
1. Tiêu chí thứ nhất, người dịch Tam quốc phải giỏi cả Hán văn lẫn Việt văn.
Theo tiêu chí này thì trong năm đối tượng kể trên, người bị loại ra đầu tiên lại chính là
Canavaggio. Vì sao? Bởi ông là người Pháp mà dù cho có “hai mươi năm chẵn ở miền
Nam thổ” đi nữa, thì nhiều lắm ông cũng chỉ giỏi tiếng Việt chứ không có bằng chứng
nào chắc chắn để khẳng định Canavaggio cũng là người giỏi Hán văn. Hơn nữa, tôi chỉ
nghe nói ông lo buôn bán, chăn nuôi làm ăn, chứ không thấy ông có công trình nào như
từ điển chữ Nôm của Taberd hay Schneider (mà nếu ai đã đọc các công trình này, cũng
có thể biết chúng được hoàn chỉnh với sự hợp tác của nhiều người Việt, và cũng khó
khẳng định hai ông này thực sự giỏi chữ Nôm hay tiếng Việt, trong khi đó việc dịch Tam
quốc còn khó hơn nhiều lần so với việc soạn tự vị). Một bằng chứng khác nữa là sau khi
tờ Nông cổ mín đàm ra đời được ít lâu, thì vì thua lỗ nên Canavaggio giao hết cho
Lương Khắc Ninh, bởi vậy trên số 56 ra ngày 18 Septembre 1901, phần Lời rao in ở
trang đầu mới viết: “Ai muốn mua nhựt trình, hay là in việc chi vào nhựt trình thì cứ do
Bổn quán chủ bút là Lương Khắc Ninh mà thương nghị, chớ có gởi cho ông Canavaggio
nữa”. Nghĩa là lúc này Canavaggio trên thực tế không còn làm việc và viết lách gì ở toà
soạn Nông cổ mín đàm nữa, như vậy việc tên ông vẫn tiếp tục để dưới các kỳ Tam quốc
chí tục dịch cũng chỉ là hữu danh vô thực.
2. Tiêu chí thứ hai, ngoài Tam quốc, người dịch còn dịch thêm các tiểu thuyết
Trung Quốc khác. Theo tiêu chí này, thì lần thứ hai Canavaggio lại bị loại, và người
tiếp theo phải rời khỏi danh sách này là Lương Khắc Ninh. Bởi, căn cứ vào bảng “Thư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status