Phụ nữ tự sát – lỗi tại tiểu thuyết? Một góc nhìn về phụ nữ với văn chương- xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX - Pdf 19

Phụ nữ tự sát – lỗi tại tiểu
thuyết? Một góc nhìn về phụ nữ với
văn chương – xã hội Việt Nam đầu
thế kỷ XX (Lược trích)
Tự sát là một trong những "vấn nạn" của phụ nữ ở Việt Nam những năm cuối thập
niên 1920. Đáng chú ý là xã hội lại quy tội nguyên nhân của vấn nạn này cho tiểu thuyết.
Trong bản in năm 1932 của bản dịch quốc ngữ truyện Tuyết hồng lệ sử có một bài tựa của
nhà in Nam Ký, cho thấy công luận xã hội đã nối kết tiểu thuyết "ngôn tình" với "phong trào
tự tử" trong quan hệ nhân quả như thế nào: "Gần đây trong nước ta nhân có phong trào tự tử
của các cô “gái mới”, vài nhà “văn sĩ” bèn thừa dịp làm án mấy bộ tiểu thuyết ngôn tình, qui
tội cho các nhà viết tiểu thuyết ấy, cho rằng các cô gái chán đời phần nhiều là bởi nhiễm phải
cái độc trong những tiểu thuyết kia. Tuyết hồng lệ sử cũng bị liệt vào hạng sách bị kết án nói
trên"
(1)
.
Ba thập niên đầu thế kỷ XX là một giai đoạn chuyển tiếp trong lịch sử văn học Việt
Nam từ cận đại sang hiện đại. Giai đoạn này đã chứng kiến không chỉ sự phát triển của tiểu
thuyết Việt Nam qua giao thoa - tiếp xúc với văn chương thế giới (đặc biệt là Pháp và
Trung Quốc), mà còn thấy được sự hình thành của một cộng đồng độc giả nữ đối với tiểu
thuyết. Hồi ứng của bạn đọc nữ thời ấy đối với tiểu thuyết Việt Nam và nước ngoài (trực
tiếp với nguyên tác và thông qua bản dịch tiếng Việt) có thể được tìm hiểu qua nhiều kênh
thông tin khác nhau. Trong điều kiện khiếm khuyết những điều tra thống kê cụ thể, bài viết
sử dụng báo chí đương thời để kiểm nghiệm mối liên hệ giữa ảnh hưởng của tiểu thuyết ái
tình (đặc biệt qua trường hợp Tuyết hồng lệ sử của Từ Chẩm Á) và việc phụ nữ tự sát.
Từ Chẩm Á (1889-1937) và văn phái Uyên hồ

. Ngọc lê
hồn kể chuyện chàng thanh niên trí thức tài hoa Hà Mộng Hà do gia cảnh khó khăn nhận lời mời
của bạn về dạy ở trường tiểu học Thạch Hồ . Cũng nhân dịp này, Mộng Hà đồng ý dạy giúp
cho cậu bé Bằng Lang,cháu nội của một người họ hàng xa. Bằng Lang sớm mồ côi cha, ở với
ông nội và người mẹ goá trẻ 27 tuổi là Lê Nương. Tìnhthầy-trò khăng khít giữa Mộng Hà và
Bằng Lang khiến Lê Nương vô cùng cảm kích. Một hôm, Lê Nương đang ngoạn cảnh trong
vườn thì bắt gặp "Lê hoa hương trũng" (Mồ thơm hoa lê) do Mộng Hà vì thương hoa rụng mà
đem chôn, đắp nên phần mộ. Lê Nương trông mộ hoa mà thương phận mình, nhân đấy lại càng
cảm thông Mộng Hà. Thông qua trung gian bé Bằng Lang, Mộng Hà và Lê Nương trao đổi thư
từ, rồi phát sinh yêu thương. Không muốn vượt phạm lễ giáo "quả phụ thủ tiết", Lê Nương bộc
bạch ưu tư của nàng với Mộng Hà, ngỏ ý không muốn mối tình của hai người ảnh hưởng đến
tương lai của chàng. Để trả lời nàng, Mộng Hà thề sẽ không kết hôn với ai cho đến trọn đời. Cả
hai con người quyết liệt trong tình trường này đều ngã bệnh trước những quyết định của người
mình yêu. Thế nhưng sau đó Mộng Hà nhượng bộ, chiều theo ý Lê Nương mà kết hôn với Quân
Thiến, em chồng của Lê Nương, một cô học sinh trường nữ học đã "được kết giao cùng các hiền
nữ sĩ bốnphương, tầm mắt được mở rộng, học thuật nhân đó mà tấn tới"
(4)
. Mộng Hà miễn cưỡng
kết hôn với Quân Thiến nhưng vẫn thầm yêu Lê Nương. Tuy chấp nhận lời khuyên nhủ của chị
dâu mà kết hôn với Mộng Hà, Quân Thiến hoàn toàn không biết gì về mối tình thầm vụng giữa
hai người. Để giải phóng Mộng Hà khỏi những mối dây ràng buộc với mình, Lê Nương gửi trả
lại chàng tập "Hồng lâu ảnh sự thi" chàng viết và trao nàng khi trước, cùng với một mớ tóc mây
gói trong tấm khăn đầy ngấn nước mắt của nàng, làm dấu cho sự đoạn tình. Mộng Hà cắn đầu
ngón tay lấy máu viết thư phản đối quyết định của Lê Nương. Nhận được bức huyết thư, Lê
Nương quyết định phải chết để Mộng Hà quên hẳn nàng và dành tình cảm cho Quân Thiến.
Nhân khi Mộng Hà về thăm nhà, Lê Nương nằm liệt giường, và mặc cho Quân Thiến hết lòng
chăm sóc, nàng từ chối thang thuốc mà chết. Nhân đọc được bức di thư của Lê Nương mà Quân
Thiến biết được mối tình của hai người. Quân Thiến bị chấn động mạnh, ngã bệnh, rồi cũng
chọn cái chết như chị dâu. Theo như ước nguyện của Lê Nương, Mộng Hà sang Nhật lưu học để
về phục vụ đất nước. Khi khởi nghĩa Vũ Xương nổ ra

trình hưng kiến những đô thị lớn trong khoảng cuối Thanh - đầu Dân quốc. Đáng chú ý là Từ
Chẩm Á và văn phái uyên hồ đã thu hút sự chú ý của một thế hệ nghiên cứu trẻ đầu thế kỷ
XXI
(9)
. Với nhãn quan mới, họ xem các nhà văn thuộc văn phái này là những người tiên
phong (avant- garde) bị lãng quên"
(10)
. Triệu Hiếu Tuyên chỉ ra tính phức tạp của văn
phái uyên hồ, khởi sự từ định nghĩa, ấn phẩm (tạp chí, sách in), văn thể (ví như tản văn, tùy
bút, nhật ký, thi từ, tiểu thuyết), ngữ ngôn (ví như biền văn, bạch thoại theo lối khẩu ngữ, hay
bạch thoại chịu ảnh hưởng Âu Tây), cho đến nội dung đề tài mở rộng (ngôn tình, khoa huyễn,
trinh thám, lịch sử, hoạt kê, hay võ hiệp)
(11)
. Riêng đối với Ngọc lê hồn, các nghiên cứu cũng
đồng thời chỉ ra những đặc điểm kế thừa và sáng tân của nó. Kế thừa văn học truyền thống,
hòa phối tiểu thuyết cũ và mới và tạo ra đột phá văn chương, đây là bộ "kỳ tác" trường thiên
tiểu thuyết biền văn thứ ba trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc nhưng lại sử dụng thể nhật
ký mô phỏngTrà hoa nữ với nhân vật kể chuyện xưng "tôi"
(12)
.
Các nghiên cứu này cũng đặt văn phái uyên hồ chung với văn học Ngũ Tứ vì cả hai
đều là phương thức biểu ý của tính hiện đại, chỉ khác là văn học Ngũ Tứ tập trung vào trí
thức, quyết liệt giải quyết xung đột tân-cựu, trong khi văn phái uyên hồ lại hướng về thị
trường, thế tục, đi theo con đường tiệm tiến cải lương xã hội
(13)
. Truyện như nhóm lên vài
đóm lửa nhỏ vừa kịp phát sáng nhu cầu tự do hôn nhân - luyến ái thì đã vội tắt ngúm trước áp
lực của đạo đức truyền thống
(14)
. Mở rộng ra ngoài phạm vi văn học, các nghiên cứu cũng chú

Tiểu thuyết biền văn tràn ngập thi từ của Chẩm Á là bữa tiệc cao sang cho khách văn
chương có khả năng đọc trực tiếp nguyên tác, nhưng là thử thách lớn với văn tài người dịch
trong việc chuyển tải cả phần hồn (tinh thần, ý tưởng) và phần xác (hình thức, nghệ thuật
ngôn từ) của tác phẩm sang một ngôn ngữ khác.
Những dịch giả sinh vào nửa sau thế kỷ XIX trên đây là người đương thời với Từ
Chẩm Á, trưởng thành trong những hoàn cảnh lịch sử, xã hội tương cận với nhà tiểu
thuyết uyên hồ này, và cũng như Chẩm Á, họ đều có những đóng góp nhất định trong lĩnh
vực báo chí. Một số người dịch khác trẻ hơn, như Trúc Khê Ngô Văn Triện (1901-1947)
(17)
,
Nhượng Tống (1904-1949)
(18)
, Nguyễn Khắc Hanh (1893-1966)
(19)
, đều ít nhiều có khả năng
tham khảo thêm sách báo Pháp văn, có tinh thần dấn thân cách mạng, và từng bị giam cầm
trong nhà tù thực dân Pháp. Xét về mặt phiên dịch văn chương, họ thuộc về lớp dịch giả của
làn sóng phiên dịch tiểu thuyết Trung Quốc đợt 2 lan rộng chủ yếu ở Hà Nội từ sau khi chế
độ khoa cử Hán văn bị bãi bỏ hoàn toàn trong cả nước (1919).
Các dịch giả, hoặc là các văn sĩ Hán học có chính kiến, xuất thân danh gia, hay là
những thanh niên giàu lý tưởng, thụ hưởng cả tinh thần Hán-Pháp dịch Từ Chẩm Á sang
tiếng Việt không hẳn chỉ vì động cơ thương mại, hay vì vô công, túng quẫn. Xung đột cũ -
mới của các trào lưu tư tưởng, đạo đức Đông - Tây có mặt trong tiểu thuyết của ông cũng rất
gần với những vấn đề của xã hội Việt Nam đương thời. Nói cách khác, những người dịch
Chẩm Á có thể đã cảm thông với những vấn đề xã hội được đề cập trong tác phẩm của ông
đồng thời với cảm thụ văn chương tài hoa của họ Từ, vì thế họ đã ra sức chuyển tải những
điều tâm đắc, tạo ra hiệu ứng xã hội và khoái cảm thẩm mỹ đối với người đọc. Tám năm sau
khi bản dịch quốc ngữ Tuyết hồng lệ sử ra mắt bạn đọc trên tạp chí Nam phong, năm 1932,
trong bài Lược-khảo về sự tiến-hóa của quốc-văn trong lối viết tiểu-thuyết, Trúc Hà có nhận
định về bản dịch và bản thân bộ tiểu thuyết ấy như sau: “Kể trong các tiểu-thuyết dịch của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status