Hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam đầu thế kỉ XX qua dòng báo chí kinh tế Hà Nội - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI CÔNG NGHIỆP HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA GIAI CẤP TƢ SẢN
VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX QUA DÕNG BÁO
CHÍ KINH TẾ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh
Hà Nội-2014
3 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung luận văn là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi, không sao chép ở bất cứ một công trình nào khác. Tất cả
những trích dẫn trong luận văn đều được chú thích nguồn tư liệu tham
khảo rõ ràng, đầy đủ.
4

5 CHƢƠNG 3. DÕNG BÁO CHÍ KINH TẾ HÀ NỘI TRONG VIỆC BẢO
VỆ QUYỀN LỢI CỦA GIỚI TƢ SẢN VIỆT NAM 64
3.1. Dòng báo kinh tế Hà Nội trong cuộc cạnh tranh giữa tư sản Việt
Nam với tư sản Hoa kiều 64
3.2. Dòng báo chí kinh tế Hà Nội trong việc bảo vệ quyền lợi chính trị
và văn hóa của giai cấp tư sản Việt Nam 70
3.2.1. Bảo vệ quyền lợi chính trị 71
3.2.2. Bảo vệ quyền lợi văn hóa 74
3.3. Dòng báo chí kinh tế Hà Nội trong việc vận động thành lập hội
đoàn và kêu gọi tinh thần đoàn kết trong giới công thương. 75
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHẦN PHỤ LỤC 96

6
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Báo chí là một sản phẩm của nền văn minh phương Tây, du nhập vào
Việt Nam cùng với quá trình xâm lược của thực dân Pháp và trở thành một
trong những công cụ đắc lực mà chúng sử dụng trong chính sách cai trị của
mình. Từ khi tờ báo tiếng Việt đầu tiên - tờ Gia Định báo ra đời năm 1865
đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, báo chí Việt Nam căn bản mang
tính cách thuộc địa. Thực dân Pháp tỏ rõ thái độ hai mặt đối với báo chí: một

mím đàm (1901 -1924) với chuyên mục thường kỳ “Thương cổ luận”, đến
những năm đầu của thập niên 20 của thế kỷ XX đã hình thành đã hình thành
cả một dòng báo chí kinh tế với những đại diện tiêu biểu là Thực nghiệp dân
báo (1920-1927) của Nguyễn Hữu Thu, Khai hóa nhật báo (1921-1927) của
Bạch Thái bưởi và Hữu thanh tạp chí (1921-1924) của Hội Bắc Kỳ công
thương đồng nghiệp.
Tìm hiểu, nghiên cứu về dòng báo chí kinh tế thời kỳ này chúng ta sẽ
làm rõ quá trình đổi mới tư duy nhận thức của giai cấp tư sản về thực trạng
nền kinh tế Việt Nam đương thời, về nghề nghiệp cũng như vai trò của họ
đối với sự phát triển chung của toàn xã hội. Đồng thời trên mặt báo chúng
ta sẽ thấy được hành động tích cực của giai cấp tư sản trong việc chấn hưng
nền kinh tế nước nhà từ việc cổ động thực nghiệp, thực học đến việc bày
cách buôn bán, cách góp vốn, lập hội buôn, cuộc cạnh tranh sinh tồn trên
thương giới…
Trên cõ sở những định hướng nghiên cứu đó, chúng tôi quyết định chọn
vấn đề: “Hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam đầu thế kỷ XX qua
dòng báo chí kinh tế Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ.
8 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói, báo chí thời kỳ cận đại là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước. Điều đó được chứng minh bởi một khối
lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí cũng như đi sâu vào
những tờ báo cụ thể và những vấn đề cụ thể được thể hiện trên báo chí.
Về lịch sử báo chí nói chung, công trình khảo cứu sớm nhất và có hệ
thống phải kể đến “Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến năm 1930”(Tri
Đăng, Sài Gòn, 1973) của Huỳnh Văn Tòng. Sau đó là “Tìm hiểu lịch sử báo
chí Việt Nam” (Sự thật, Hà Nội, 1985) của Hồng Chương và gần đây nhất
phải kể đến công trình “Lịch sử báo chí Việt Nam (1865-1945) (Đại học Quốc

từ năm 1936-1939 về các vấn đề: nông dân với ruộng đất, nông dân với chế
độ thuế, vay lãi; nông dân với chế độ thống trị làng xã và nông dân với cách
mạng. Gần đây nhất là Luận án Tiến sĩ “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt
trước cách mạng tháng Tám năm 1945” (Hà Nội, 2007) của Đặng Thị Vân
Chi. Thông qua báo chí, tác giả luận án đã đi sâu phân tích toàn diện các vấn
đề của phụ nữ trong xã hội Việt Nam như vai trò của người phụ nữ trong gia
đình, phụ nữ chức nghiệp, phụ nữ và quyền bầu cử, chống tệ nạn xã hội và
bạo hành gia đình, vấn đề bình đẳng giới
Không chỉ các nhà nghiên cứu trong nước mà các tác giả nước ngoài
cũng quan tâm đến báo chí Việt Nam thời cận đại trong đó có ba tác giả mà
chúng tôi đã có dịp khảo sát là Shawn Mc Hale với chuyên khảo “Printing and
power, and the transformation off Vietnamese culture 1920-1945” (Ấn phẩm
và quyền lực với sự biến đổi văn hoá Việt Nam 1920-1945), Daniel Hemery
với bài viết đã được dịch ra tiếng Việt và in trong sách “Từ Đông sang Tây”
(Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng Đà Nẵng, 2005) nhan đề : “ Sài Gòn thập
niên 1930: “La lutte” (1933-1937), tờ báo chiến đấu” khảo sát cụ thể về nội
10 dung và khuynh hướng cách mạng của tờ báo La lutte. Phân tích về xung đột
văn hoá Đông Tây qua hình tượng nhân vật Lý Toét trên báo Phong hoá, tác
giả George Dutton có bài viết “Ly Toet in the City, comming to Tems with the
morden in 1930, Vietnam (Jounal of Vietnams Study, insue 2, 2007).
Đặc điểm chung của các tác giả nước ngoài là đánh giá cao vai trò của báo
chí như một phương tiện truyền bá văn minh và cũng là một vũ khí sắc bén được
sử dụng trong phong trào yêu nước trước cách mạng tháng Tám năm 1945.
Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu nữa mà do giới hạn của đề
tài chúng tôi chưa thống kê hết. Trong tất cả những công trình đã khảo sát,
chýa có một nhà nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu đầy đủ về dòng báo chí kinh
tế, đặc biệt là ba tờ báo Thực nghiệp dân báo, Khai Hóa nhật báo và Hữu

tôi trình bày chỉ là những hoạt động kinh tế tiêu biểu được phản ánh và phân
tích trên báo chí chứ không bao quát toàn bộ quá trình hình thành, phát triển
của giai cấp tư sản Việt Nam.
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu trực
tiếp là ba tờ Thực nghiệp dân báo, Khai Hóa nhật báo và Hữu Thanh tạp chí
hiện còn lưu trữ tại Thư viện quốc gia Việt Nam với các ký hiệu lần lượt là
J8, J97 và C35. Một số số báo còn thiếu chúng tôi khai thác tại phòng tư liệu
của khoa Lịch sử, khoa Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Nội và Thư viện của Viện Sử học Việt Nam.
Nghiên cứu về một tờ báo thì yêu cầu là phải đọc toàn bộ các số báo
với tất cả các bài đã đăng trên các trang mới có thể hiểu đối tượng một cách
hệ thống, khách quan, toàn diện. Tuy nhiên trong quá trình khai thác tư liệu,
chúng tôi gặp khó khăn do điều kiện hạn chế của công tác lưu trữ. Tờ Thực
nghiệp dân báo ra đời từ năm 1920 và tồn tại đến năm 1933 với trên 3000 số
báo nhưng hiện nay những lưu trữ chỉ tương đối đầy đủ từ 1920 đến 1923.
Còn từ năm 1924, các số báo hoặc thiếu rất nhiều hoặc quá rách nát mà không
12 thể tiếp cận được. Riêng hai tờ Khai Hóa nhật báo và Hữu Thanh tạp chí còn
lưu trữ tương đối đầu đủ. Chính vì vậy mà trong luận văn của mình, chúng tôi
sử dụng tư liệu của Thực nghiệp dân báo chủ yếu từ năm 1920 đến năm 1923,
Khai Hóa nhật báo từ năm 1921 đến 1927 và Hữu Thanh tạp chí từ năm 1921
đến năm 1924. Với nguồn tư liệu như vậy thiết nghĩ cũng đà là đủ để nhìn
nhận một cách đầy đủ và hệ thống về những yêu cầu mà đề tài đặt ra.
Về phương pháp nghiên cứu, với đề tài luận văn này, chúng tôi coi
phương pháp lịch sử là phương pháp chủ đạo. Xuất phát từ việc nghiên cứu
giai đoạn theo những nhát cắt lịch sử, đặt đối tượng trong tổng thể lịch sử báo
chí và lịch sử dân tộc để đối chiếu, nhận xét, do vậy phương pháp so sánh
cũng được chúng tôi chú ý vận dụng. Phương pháp so sánh có ý nghĩa rất lớn

sản Hoa Kiều, bảo vệ quyền lợi chính trị, văn hóa, thành lập hội buôn, nêu
cao tinh thần đoàn kết trong giới công thương

**********

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, học viên nhận được rất nhiều
sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các thầy cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng
nghiệp; đặc biệt là các thầy cô ở bộ môn Lịch sử Việt Nam - Khoa Lịch sử.
Luận văn có thể hoàn thành trước hết người viết gửi lời tri ân chân thành đến
PGS.TS Phạm Xanh. Với tầm tri thức của mình, PGS.TS Phạm Xanh đã chỉ
dẫn cho học viên nhiều nguồn tư liệu quan trọng, gợi mở hướng tiếp cận; đặc
biệt còn dành nhiều thời gian để tôi có thể bộc bạch và trao đổi những vấn đề
khoa học về những nhận định còn nhiều chủ quan của mình.
Những tư liệu mà tôi có thể tiếp cận được không thể thiếu sự chỉ dẫn và
giúp đỡ của các cán bộ Thư viện Quốc gia, Thư viện Thông tin Khoa học Xã
hội, phòng tư liệu khoa Lịch sử, khoa Báo chí- Trường Đại học Khoa học Xã
14 hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong
quá trình tiếp cận và khai thác tư liệu.
**********
Đề tài “Hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam đầu thế kỷ XX
qua dòng báo chí kinh tế Hà Nội” là một đề tài tương đối phức tạp. Năng lực
nghiên cứu của học viên còn rất nhiều hạn chế, dù đã rất cẩn trọng, nghiêm túc,
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm. Chúng tôi chân thành
mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các nhà nghiên cứu.
Hà Nội tháng 1 năm 2014
Học viên


16 hành chính bên trong của các xã xung quanh Hà Nội, cũng như đến quyền hạn
của các thân hào hay các công chức người Việt” [6, tr.24]. Trước khi Hà Nội
trở thành “nhượng địa” vài tháng, Tổng thống Pháp đã ra sắc lệnh ngày 19-
07-1888 thành lập Thành phố Hà Nội với vị thế là một thành phố cấp I. Kể từ
sắc lệnh này, Hội đồng tư vấn thành phố chính thức đổi thành Hội đồng thành
phố và tồn tại cho đến năm 1945.
Song song với quá trình kiện toàn bộ máy quản lý, thực dân Pháp
còn thiết lập bộ máy cảnh sát, quân đội, nhà tù, tòa án để trấn áp các hoạt
động chống Pháp của nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Hà
Nội nói riêng.
Bộ máy cảnh sát của thành phố Hà Nội chính thức thành lập ngày 31-
12-1891 theo nghị định của quan toàn quyền. Sự ra đời của bộ máy cảnh sát
chính là nhằm mục đích bảo vệ nền an ninh trật tự của bọn xâm lược thống trị
và làm công cụ đắc lực cho chúng trong việc đàn áp bóc lột nhân dân Hà Nội.
Hoạt động của bộ máy cảnh sát Hà Nội được sự hỗ trợ tích cực của tổ chức
mật thám Bắc Kỳ, nhất là trong việc khủng bố và đàn áp cách mạng. Sự lợi
hại của Sở mật thám làm cho cuộc sống của nhân dân Hà Nội hồi đầu thế kỷ
XX không lấy gì làm dễ thở. Nó biến xứ sở này thành một nơi mà “nhà
trường dạy cho trẻ con Tuyên ngôn nhân quyền và sở mật thám bắt bỏ tù
những ai đã học kỹ bài học đó” [22, tr.132].
Tại Hà Nội, thực dân Pháp đã thành lập Hội đồng đề hình Hà Nội theo
sắc lệnh ngày 15-09-1896 của tổng thống Pháp để xét xử những người Việt
Nam yêu nước có hành động chống Pháp ở cả Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Mô hình
tòa Nam án đặt ở Hà Nội là tòa Thượng thẩm Hà Nội. Đây là một tòa án đặc
biệt do hai viên quan người Việt phụ trách xét xử. Tuy nhiên, hai viên quan
này được Chính phủ Nam triều chỉ định theo sự lựa chọn của Toàn quyền
Đông Dương.

khuyến khích người Pháp sang định cư, làm ăn lâu dài, thể hiện rõ ý đồ xâm
18 chiếm lâu dài Đông Dương”[6, tr.67]. Bên cạnh đó, người Pháp còn tiến hành
chỉnh trang khu vực 36 phố phường của Hà Nội. Họ đã phá bỏ các cổng ngăn
giữa các phường trong phố, phá những lều, quán trước nhà, mở rộng và nắn
thẳng, trải đá mặt đường, tạo ra vỉa hè cùng hệ thống thoát nước… Nhờ đó,
bộ mặt phố cổ đã rộng hơn, phường buôn bán thủ công mất đi tính khép kín
vốn có của nó. Đặc trưng của hệ thống các công trình hành chính thời kỳ này
mang tính chất thực dụng, dựa trên chủ nghĩa công năng đơn giản, nhấn mạnh
vào nguyên tắc đối xứng bố cục [14, tr.65].
Hệ thống đường sá đã được nâng cấp đáng kể trong quá trình quy
hoạch lại thành phố với những phố dài, rộng và sạch sẽ, nối tiếp nhau dạng ô
bàn cờ. Sự xuất hiện của người Pháp đã kéo theo sự xuất hiện các phương tiện
vận tải mới. Lúc đầu là sự xuất hiện của những chiếc xe kéo tay. Năm 1899,
công ty thổ địa Đông Dương của tư bản Pháp là công ty phát hiện ra hoạt
động kinh doanh về phương tiện giao thông vận tải có lời nhiều nên đã ký hợp
đồng với chính quyền thành phố về việc đặt một hệ thống đường xe điện ở Hà
Nội. Đường hàng không hoàn toàn là sản phẩm giao thông của thế giới hiện
đại cũng đã xuất hiện ở Hà Nội ngay từ đầu thế kỷ XX. Sân bay đầu tiên được
xây dựng ở Vị Thủy năm 1917 sau này trở thành sân bay Bạch Mai. Nhưng
ngành hàng không dân dụng chưa phát triển. Hoạt động của ngành này chủ
yếu phục vụ hoạt động đưa quân chuyển lính của thực dân Pháp. Bên cạnh đó,
những phương tiện mới như xe đạp, xe máy, xe ô-tô cũng xuất hiện trong
thành phố. Các phương tiện này chủ yếu do những nhà giàu và người Pháp sử
dụng. Hệ thống giao thông nội thành cũng như từ nội thành ra ngoại ô đã
được chính quyền thực dân đầu tư nhằm “phục vụ nhu cầu sinh hoạt của một
thành phố kiểu châu Âu”[5, tr.50] trong khi đó, hệ thống giao thông nối Hà
Nội với các vùng khác chủ yếu nhằm “phục vụ cho chương trình khai thác

máy sợi Hà Nội của Bouguer Mefferer được khánh thành với phí tổn xây
dựng và mua thiết bị máy móc là 1,5 triệu Francs. Năm 1898, Pháp lập nhà
20 máy rượu đầu tiên ở Hà Nội, nấu cất rượu theo phương pháp AMYLO, một
phương pháp được tổng hợp từ công trình nghiên cứu khoa học của giám đốc
viện Pasteur-Sài Gòn [26, tr 251]. Nguồn lợi nhuận do được độc quyền sản
xuất rượu còn thôi thúc người Pháp đặt một chi nhánh Công ty Pháp nấu cất
rượu ở Đông Dương tại Hà Nội. Người Pháp còn thiết lập tại Hà Nội các nhà
máy giày da Thụy Khuê, nhà máy thuốc lá…
Ngành tài chính ngân hàng cũng hoàn toàn mới mẻ trong hệ thống kinh
tế ở Việt Nam từ trước tới nay. Mặc dù hình thức cho vay đã tồn tại từ rất lâu
trong lịch sử nhưng việc thiết lập một hệ thống ngân hàng chuyên trách chưa
hề có. Nhận thấy rằng muốn đẩy mạnh đầu tư và để khai thác kinh tế thuộc
địa, tổng thống Pháp đã ký sắc lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương
(21/01/1875), trụ sở đặt tại Paris. Tại Hà Nội, Ngân hàng Đông Dương cũng
thiết lập chi nhánh của nó vào năm 1886. Ngoài phát hành giấy bạc, ngân
hàng Đông Dương còn trao đổi buôn bán và đầu tư tài chính. Nền kinh tế Việt
Nam phụ thuộc lớn vào các nhà tư bản ngân hàng này… Song song với hệ
thống Ngân hàng Đông Dương và các chi nhánh tại các địa phương, thực dân
Pháp còn thành lập các Nông phố ngân hàng và các quỹ tín dụng tương trợ để
cho nông dân vay vốn phát triển sản xuất. Nguồn vốn từ ngân hàng cùng với
vốn tư bản tư nhân góp phần đáng kể vào quá trình gây dựng bộ mặt kinh tế
mới ở Hà Nội. Thị trường Hà Nội thu hút phần lớn nguồn vốn đầu tư của
Pháp. Số vốn đầu tư vào thị trường Hà Nội chiếm tỉ lệ lớn nhất Bắc Kỳ: 95%
tổng số vốn lĩnh vực thương mại, 50% tổng số vốn trong lĩnh công nghiệp.
Ngành dịch vụ bưu chính - viễn thông cũng đã có mặt ở Hà Nội với sự
ra đời của mạng lưới điện thoại. Ngày 5-5-1903, Toàn quyền Đông Dương
ra nghị định thiết lập mạng lưới điện thoại trên địa bàn thành phố. Tuy

thời gian, trí thức tiến bộ Việt Nam nhận ra rằng học theo nền giáo dục
phương Tây sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam. Thêm vào đó, tính
đến năm 1907, tại Hà Nội đã có 8 trường Pháp – Việt với khoảng 1.800 học
sinh nhưng không đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Hà Nội. Trên
22 cơ sở đó, một số trường tư thục đã ra đời năm 1907 như trường học của Hội
trí tri, trường Mai Lâm nghĩa thục… và tiêu biểu là hoạt động của nhà trường
Đông Kinh nghĩa thục. Trường Đông Kinh nghĩa thục rất giống kiểu trường
Tây như là có cư xá, có thư viện. Nội dung học tập chú trọng đến những môn
khoa học tự nhiên như toán, vật lý, hóa, địa lý, kỹ thuật… Ngoại ngữ, nhất là
Pháp ngữ được đề cao, theo quan điểm của nhà trường, có học ngoại ngữ mới
có thể tiếp thu được những thành tựu văn minh từ bên ngoài. Trường học đã
thu hút được đông đảo mọi tầng lớp tham gia. Nhân dân Hà thành “ai cũng
mong ngày khai trường để xem Nghĩa thục đầu tiên của nước nhà ra sao”[21,
tr.53]. Tuy nhiên, do nội dung giảng dạy mang yếu tố kêu gọi tinh thần yêu
nước nên trường đã bị thực dân Pháp xóa bỏ năm 1908. Có thể thấy rằng, nền
giáo dục mà thực dân Pháp xây dựng ở Hà Nội nói riêng và Đông Dương nói
chung chủ yếu là nền giáo dục mị dân và nhằm phục vụ lợi ích cho chính
quyền thực dân. Hoạt động giáo dục yêu nước tiến bộ của Đông Kinh nghĩa
thục bị xóa bỏ đã thể hiện rất rõ mưu đồ ấy của thực dân Pháp.
Nhân dân Hà Nội thời kỳ này còn được “nêm vị” bởi rất nhiều loại hình
nghệ thuật mới. Nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam từ năm 1869 với công lao
gắn với tên tuổi của Đặng Huy Trứ (1825 – 1874). Ông đã mở hiệu ảnh tư
nhân đầu tiên Cảm Hiếu Đường vào ngày 14-03-1869 ở Hà Nội. Năm 1916,
người Pháp đã đưa một đơn vị chuyên quay phim, chụp ảnh đặt bên cạnh phủ
Toàn quyền Đông Dương để phục vụ mục đích tuyên truyền cũng như quảng
bá các hình ảnh về Đông Dương để thu hút nhà đầu tư. Nhiếp ảnh cũng đã
được sử dụng trong công tác nghiên cứu khoa học tại trường Viễn đông bác

Trong lĩnh vực âm nhạc và hội họa, Hà Nội cũng trở thành cái nôi của sự
giao lưu và tiếp biến văn hóa Đông – Tây. Âm nhạc phương Tây xuất hiện ở
Hà Nội đầu tiên là thông qua con đường giáo hội, sau đó mới tới một tổ chức
dạy nhạc do người Pháp mở - Nhạc viện Viễn Đông. Tuy nhiên, trường này
mãi năm 1927 mới được thành lập và cũng chủ yếu phục vụ cho người Âu.
Nghệ sĩ Hà Nội chủ yếu tiếp xúc với kỹ thuật âm nhạc phương Tây thông qua
24 đĩa hát, điện ảnh và các dàn nhạc tới Hà Nội biểu diễn. Hội họa kiểu phương
Tây cũng xuất hiện khá muộn. Người họa sĩ đầu tiên vẽ tranh kiểu phương
Tây là họa sĩ Lê Văn Miến với bức tranh sơn dầu Chân dung cụ Tú Mền và
Bình Văn. Năm 1924, với sự ra đời của trường Cao đẳng hội họa Đông
Dương, lớp nghệ sĩ kiểu mới đầu tiên đã thành hình. Trường Cao đẳng hội
họa Đông Dương cung cấp cho sinh viên Việt Nam những kiến thức về khoa
học hội họa phương Tây như luật xa gần, giải phẫu hình học…, hay nghệ
thuật vẽ tranh sơn dầu. Tuy nhiên, nền hội họa Hà Nội thời Pháp thuộc cũng
không có điều kiện phát triển do chính sách nô dịch về mỹ thuật của thực
Pháp [22, tr.150]
Quá trình đô thị hóa Hà Nội theo hướng hiện đại đã tạo nên một Hà Nội
mới với nhịp sống hối hả, khẩn trương hơn. Hệ thống giao thông vận tải nối
Hà Nội với các vùng khác tạo ra mối liên hệ văn hóa sâu sắc hơn giữa người
Hà Nội với cư dân các miền, ấy là chưa kể tới sự xuất hiện với mật độ ngày
càng dày đặc “cư dân người Âu”. Một nửa thành phố Hà Nội hồi đầu thế kỷ
XX là thành phố “Tây”, là nơi lối sống phương Tây thể hiện rất rõ rệt.

1.2. Sự ra đời và phát triển của báo chí ở Hà Nội và vai trò của báo chí
trong đời sống của nhân dân Thủ đô
1.2.1. Sự xuất hiện của báo chí ở Việt Nam
Báo chí sớm trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho việc tuyên truyền

Ngành báo phát triển nhờ công rất lớn bởi sự hoàn thiện chữ Quốc ngữ.
Chữ Quốc ngữ là “công trình tập thể” của nhiều giáo sĩ dòng Tên, các thầy
giảng người bản xứ… Trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, thứ chữ này chỉ
chủ yếu dùng trong Giáo hội và ở một phạm vi hẹp sau này được dùng trong
báo chí ở Nam Kỳ mà Trương Vĩnh Ký là người hoạt động tích cực nhất.
Giá trị của chữ Quốc ngữ đến thế kỷ XX mới thực sự được khẳng định.
Trong phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước Phan Châu Trinh,
Phan Bội Châu… hô hào học chữ Quốc ngữ. Chữ quốc ngữ theo hệ thống

Trích đoạn Trong nông nghiệp Trong công nghiệp Trong thương nghiệp Bảo vệ quyền lợi chính trị Bảo vệ quyền lợi văn hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status