Phụ nữ tự sát – lỗi tại tiểu
thuyết? Một góc nhìn về phụ nữ với
văn chương – xã hội Việt Nam đầu
thế kỷ XX (Lược trích) Dịch Từ Chẩm Á - Trường hợp Tuyết hồng lệ sử
Ngay khi khởi sự đăng trên Nam phong, do tính chất ngôn tình "nhạy cảm" của
nó, Tuyết hồng lệ sử đã phải có những che chắn cùng với lời mào đầu cẩn trọng để giúp nó
chào đời thuận lợi. Dẫu rằng trong lần in thành sách và các lần tái bản về sau, tên dịch giả đều
được ghi rõ là M.N. (Mai Nhạc) Đoàn Tư Thuật, ở bản dịch đăng thành nhiều kỳ trên Nam
phong người dịch được ghi nhận là khuyết danh. Chỉ cho đến khi bản dịch được công bố trọn
vẹn, Đoàn Mai Nhạc mới soạn "Bài tựa truyệnTuyết-hồng lệ-sử," ra mặt là dịch giả của bản
lược dịch này. Qua bài tựa, có thể thấy sự cảm thông được người dịch ưu ái dành cho
Mộng Hà; niềm thương xót đối với Lê Nương, Quân Thiến, tuy có nhưng vẫn dựa trên cơ sở
nam quyền. Tiếp theo Đoàn Mai Nhạc, ý kiến của Minh-Phượng Nguyễn Như-Cương trong
bài "Bàn về truyện Tuyết-Hồng lệ-sử" là một trong những hồiđáp sớm nhất của người đọc đối
với bộ tiểu thuyết này.
Trong bài tựa tự viết, Chẩm Á dự đoán sau khi Tuyết hồng lệ sử ra đời, những người
yêu mến ông sẽ bảo rằng đây là bức ảnh tả chân của Chẩm Á (Thử Chẩm Á chi tả chân ảnh
phiến). Niềm riêng của Chẩm Á ở đây hẳn là tự truyện ái tình của ông đã được mã hóa
thành Ngọc lê hồn và Tuyết hồng lệ sử. Thế nhưng, do hoàn cảnh khách quan, bài "Tựa 1" hư
cấu không biết được điều ấy. Vả lại, khi khuyến cáo Lệ sử không phải là "chuyện tình," bài
"Tựa 1" rõ ràng đã muốn dẫn dắt bạn đọc theo một hướng khác. Năm 1932, nhân tái
bản Tuyết hồng lệ sử, Nam Ký thư quán có lời mở đầu Cùng độc giả, dùng bài "Tựa 1" nhằm
phản bác những ý kiến phê phán tập sách này,
Bảo rằng đọc Tuyết hồng lệ sử có ích lợi gì, chúng tôi chưa dám bảo; nhưng nói
đọc Tuyết hồng lệ sử có hại thì chúng tôi quyết không nói được: cứ xem ở bài tựa của tác giả,
chị kia [gi]eo mình xuống hồ Tây, lại còn những cô tự tử bằng cách khác như uống thuốc phiện
dấm thanh cũng không phải là ít. Trong số những người muốn tự tử phần nhiều là các tiểu thư,
ăn vận rất lượt là hoa mỹ, hình như con nhà tử tế cả, mà thường thường xuân xanh chỉ độ trong
vòng mười tám đôi mươi có lẻ là cùng! Có một điều lạ là tuy các cô muốn mượn [gi]òng nước
hoặc chén dấm thanh mà rũ sạch nợ trần cho hả cơn hờn [gi]ận, cho khỏi phải đeo đẳng cái tấm
thân cơ khổ ở cái đời tẻ ngắt buồn tênh, nhưng tuy người muốn thác [tr]ời nào có cho; thực các
cô muốn chết mà chết cũng không thoát được vậy
(25)
.
Năm năm sau (1932), tạp chí Nam phong đăng song song nguyên văn tiếng Pháp với
bản dịch tiếng Việt tiểu luận về tự tử của tiểu thuyết gia Edmond Jaloux (1878-1949). Lời
giới thiệu in ở đầu hai bản song ngữ Pháp - Việt phân tích vắn tắt nguyên nhân căn bệnh tự tử
ở Việt Nam,
Trong xã hội Việt Nam ta hiện nay, thường thấy nói có cái dịch tự tử. Gái non trẫm
mình xuống sông xuống hồ, trai trẻ uống thuốc độc bằng nha phiến với dấm thanh, những
việc đó hằng thấy in trong mục thời sự các báo. Một cái xã hội có nền nếp thì người ta không
khi nào nghĩ đến quyên sinh. Sở dĩ có kẻ chán đời đến không muốn sống nữa, là vì cái hoàn
cảnh bực tức, khiến cho người ta đã không biết sống làm vui, thời sao có biết thiệt thòi làm
thương. Cái dịch tự tử trong xã hội ta, âu cũng là cái triệu chứng xã hội đương qua một hồi
khủng hoảng về tinh thần vậy
(26)
.
Diễn giải phân tích trên đây, Phạm Thị Ngoạn đi ngược về 9 năm trước đó, tìm trong
bài viết Thanh niên có nên buồn không?
(27)
của Phạm Quỳnh để hiểu xem cuộc khủng
hoảng tinh thần ấy là gì. Bà kết luận đó có thể là sự xung đột giữa một bên là trào lưu cá
nhân và hoài bão tự do với một bên là gia đình truyền thống như một chướng ngại cho sự
phát triển cá nhân, gây ra tâm lý "văn hóa mất rễ", mất phương hướng trong hoàn cảnh "Âu
hóa" gần như "đoạn tuyệt với Đông phương"
.
Dưới bút danh BOY, tác giả một bài báo có tựa là Thuốc phiện dấm thanh đăng
trên Phụ nữ thời đàm tháng 12/1932 đã lên tiếng phản bác cả phía bắt tội tính ảo mộng của một
số chị em phụ nữ như là căn nguyên của việc tự sát, lẫn phía lập luận cho rằng những án tự sát
nọ là điềm chứng của "phong hóa suy đồi" trong nữ giới. Khi một người phụ nữ quyên sinh,
người ấy đáng được xã hội thương xót hơn là bị kết tội hay lên án. Mặt khác, cũng không nên
xem chuyện phụ nữ tự sát như là điềm ứng cho phong hóa suy đồi. Phong hóa không phải là
bất biến, mà tiến triển theo thời, phụ thuộc vào những tiếp xúc lịch sử, xã hội, văn hóa, và nằm
ngoài nguyện vọng hay mong muốn chủ quan thủ cựu của cá nhân hay một tập thể người nào
đó. Bài viết trên là một tiếng nói điềm tĩnh nhận định hiện tình phụ nữ tự sát giữa những dư
luận trái chiều đối nghịch. Đây cũng là một trong những trường hợp hiếm hoi chỉ ra được vai
trò của báo chí trong việc định hướng, dẫn dắt công chúng trước một hiện tượng xã hội phức
tạp như phụ nữ tự sát.
Phụ nữ tự sát - Lỗi tại tiểu thuyết?
Cùng với "phong trào", "bệnh dịch" phụ nữ tự sát là sự ra đời của một loạt tiểu thuyết,
truyện ngắn, kịch nói phản ánh, phân tích, phê phán hiện tượng này. Năm 1928, nhà văn trẻ
Nguyễn Lan Khai, khi ấy mới vừa 22 tuổi, ra mắt tập tiểu thuyết đầu tayNước Hồ Gươm, một
tập "Bi tình tiểu thuyết" kể "truyện người thiếu phụ trẫm mình"
(34)
. Một loạt truyện ngắn,
truyện vui nhưGiấc mộng hồ Gươm, Một buổi xem xử án tự vẫn tại cung vua Diêm, Lệ Hồng
quyên sinh, Trên sông Thương, Chưa chết được, Cái chết hiếu danh
(35)
, lần lượt ra đời hoặc
đồng cảm, hoặc cười nhạo, phản ánh và tạo ra ấn tượng nạn tự sát đang tiếp tục lan rộng
trong phụ nữ trong khoảng 3, 4 năm đầu thập niên 1930.
Bắt đầu từ năm 1932, mỗi khi đả phá ảnh hưởng tiêu cực của tiểu thuyết, người ta
thường liệt ra vài tựa sách để minh họa. Tiểu thuyết của Từ Chẩm Á và Tố Tâm của Hoàng
Ngọc Phách thường được nhắc đến thành một đôi, bị phê phán như một loại bệnh chứng của
chủ nghĩa vị kỷ, thoát ly thực tế. Cũng trong khoảng thời gian hai năm đầu thập niên 1930,
động xã hội lên chủ thể ấy