Đề án môn học
Lời mở đầu
Tham nhũng là một căn bệnh phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới.
Vào những năm 50 cảnh sát Cam-pu-chia đã nói không úp mở rằng: làm
ruộng ăn lúa, làm làng ăn hối lộ. Mới đây chủ tịch Đảng cầm quyền Um
nô, Thủ tớng Malaixia Mahathir Mohamad đã khóc trớc đại hội đảng
về nạn tham nhũng Còn ở Việt Nam từ thời Hồng Đức và Gia Long đã
có các bộ luật để chống tham nhũng. Thời Minh Mạng có phép làm
liêm, thời Tự Đức có chính sách báo liêm của Nguyễn Trờng Tộ.
Ngày nay tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là 1 trong 4 nguy cơ đe dọa
sự tồn vong của chế độ. Có thể nói tham nhũng là căn bệnh hiểm nghèo
gắn liền với mọi Nhà nớc, bởi lẽ chừng nào còn Nhà nớc thì còn quyền
lực, mà còn quyền lực thì dễ xuất hiện những ngời dùng sai quyền lực.
Cuộc đấu tranh để loại bỏ những ngời sử dụng sai quyền lực ra khỏi bộ
máy nhà nớc các cấp là cuộc đấu tranh lâu dài, liên tục bền bỉ và kiên định
của mọi nhà nớc, chống mạnh thì thịnh, chống yếu thì suy, ngoài ra không
có con đờng nào khác.
ở nớc ta từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang
cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc XHCN là con đờng hoàn toàn
mới mẻ. Những năm qua Đảng và Nhà nớc đã ban hành nhiều chủ trơng,
chính sách cởi mở, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển. Tuy
nhiên hệ thống pháp luật vẫn thiếu đồng bộ, một số văn bản pháp quy vừa
mới ban hành đã sớm lạc hậu với thực tiễn, tạo nhiều sơ hở, dễ bị lợi dụng.
Mặt khác, bớc vào cơ chế mới, tâm lý nôn nóng làm giàu có mặt tích cực
là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, nhng cũng có mặt tiêu cực là làm
cho một số ngời bị tha hoá, đánh mất chính mình trong chủ nghĩa vị kỷ, h-
ởng lạc, trong khát vọng làm giàu bằng mọi giá, bất chấp pháp luật, đạo
lý. Bộ máy Nhà nớc của chúng ta trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau
cha đủ thời gian và kinh nghiệm để cải cách kịp thời, do đó khi bớc vào
thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng trên một số mặt đã bộc lộ không ít
để nhũng nhiễu dân và lấy của .
1
Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị thế xã hội
của viên chức Nhà nớc để làm trái pháp luật hoặc lợi dụng các sơ hở của
pháp luật kiếm lợi cho bản thân, gây hại cho xã hội, cho công dân. Pháp
lệnh chống tham nhũng ngày 26-2-1998 cũng ghi rõ trong điều 1: Tham
nhũng là hành vi của những ngời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ và quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật
vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản Nhà nớc, tập thể và cá nhân,
xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Tham nhũng
là vật cản lớn nhất của tiến trình phát triển xã hội, là nguy cơ trực tiếp
liên quan đến sự sống còn của các Nhà nớc .
2
Mặc dù đợc thể hiện theo những cách khác nhau song tham nhũng
đợc hiểu khá thống nhất trong văn hoá pháp lý ở các nớc trên thế giới, đó
là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm
1
Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội. 1998, tr 1523
2
Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội, Nxb Khoa Học và Kỹ thuật, Hà Nội. 2000, tr 457
3
Đề án môn học
trục lợi cá nhân hay nói một cách khác tham nhũng là việc sử dụng hoặc
chiếm đoạt bất hợp pháp công quyền hay nguồn lực tập thể.
II. hành vi và một số phơng thức thực hiện hành vi
tham nhũng
1. Khái niệm về hành vi tham nhũng
Hành vi tham nhũng là hành vi thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp
lý của một cấu thành tội tham nhũng đã đợc pháp luật qui định, đó là các
hành vi có ý thức, có chủ định.
3. Động cơ tham nhũng
Động cơ tham nhũng đợc hình thành từ các yếu tố cơ bản nh lòng
tham, ham muốn vật chất, lòng ham địa vị và quyền lực cao, muốn làm
giàu một cách nhanh chóng, muốn có cuộc sống và lối sống hơn ngời về
lợi ích hoặc còn do nhiều yếu tố nh thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí, dễ sa ngã
dẫn đến sự không chấp nhận sự mất cân đối giữa nhu cầu tiêu dùng với
khả năng thu nhập và địa vị công việc của mình. Từ đây có thể phác hoạ
một cách khái quát về tham nhũng và các yếu tố cấu thành của hành vi
tham nhũng theo công thức sau:
3
C(Tham nhũng) = M (Quyền lực) + D (Tuỳ ý định đoạt)
A(Trách nhiệm)
Hành vi tham nhũng = lợi ích của ngời có quyền + sự sơ hở, yếu
kém trong quản lý Nhà nớc (Sự lỏng lẻo không nghiêm của pháp luật )
4. Mục đích tham nhũng
Mục đích của hành vi tham nhũng là cái đích mà ngời phạm tội đặt
ra trong óc mình và mong muốn đạt đến bằng hành vi phạm tội và khi có
điều kiện khách quan cho phép thực hiện thì nó dễ trở thành hiện thực.
5. Một số phơng thức thực hiện hành vi tham nhũng ở Việt Nam
Các hình thức cơ bản của tham nhũng ở nớc ta hiện nay vẫn là tham
ô, hối lộ, dựa vào quyền lực để sách nhiễu, dùng quyền lực để mu lợi
riêng, dùng tiền để làm chuyện phi pháp và các thủ đoạn mà kẻ phạm tội
triệt để lợi dụng là những sơ hở của pháp luật, chính sách, trong các biện
pháp tổ chức, quản lý và điều hành. Thủ đoạn phạm tội rất đa dạng và
phức tạp nhng thờng tập trung ở các dạng sau :
- Có địa phơng, đơn vị ra những chỉ thị, nghị quyết không đúng với
chính sách, luật pháp của Nhà nớc để thu lợi bất chính, phổ biến là lấy đất
công để chia nhau, lấy đất của nông dân để bóc lột nông dân nh một kiểu
phát canh thu tô.
3
- Lập những dự án lừa trồng rừng trên giấy, thành lập các công
ty ma để hoàn thuế giá trị gia tăng để lấy tiền Nhà nớc.
- Thậm chí còn có tình trạng ăn cả tiền cứu trợ ngời đói nghèo, xã
khó khăn, ăn chặn tiền ủng hộ đồng bào lũ lụt
Ngoài các thủ đoạn trên, kẻ phạm tội tham nhũng còn lợi dụng triệt để sự
buông lỏng về thanh tra, kiểm tra, kiểm soát để phạm các tội tham ô, hối
lộ, sử dụng vốn vào hoạt động không đúng mục đích
6
Đề án môn học
Iii. Tác hại của tham nhũng.
1. Tham nhũng là kẻ thù của nhân dân.
Hồ Chủ Tịch đã từng nhận định: Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm
của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ vì nó không mang gơm mang
súng mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng ta. Nó làm hỏng
tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo
đức cách mạng ta là cần- kiệm - liêm - chính .
Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của công dân
đối với bộ máy và công chức, viên chức Nhà nớc, triệt tiêu động lực cơ
bản nhất của sự phát triển. Điều này đã đợc V.I. Lênin khuyến cáo: Nếu
có cái gì đó có thể triệt tiêu đợc chủ nghĩa xã hội thì đó chính là tham
nhũng, quan liêu. Đây cũng là bài học hàng đầu mà Đảng ta rút ra tại đại
hội lần thứ 6. Đó là bài học lấy dân làm gốc, dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra. Đây cũng là bài học mà ông cha ta đã truyền lại cho con
cháu. Trần Quốc Tuấn đã từng nói: Ng ời dân vốn không hài lòng, sợ ta
thì khinh địch, sợ địch thì khinh ta, để dân khinh là mất nớc.
2. Tham nhũng gây tổn hại to lớn về mặt kinh tế cho sự phát triển xã
hội
Tham nhũng gây tổn hại to lớn về mặt kinh tế cho sự phát triển xã
hội kéo lùi sự phát triển tuỳ theo quy mô và mức độ gây hại của nó. Tham
nhũng đã gây thiệt hại vật chất hàng ngàn tỷ đồng, hàng trăm triệu đô la
lợc. Nếu các nhà hành pháp mà tự mình phá hoại luật pháp thì làm sao có
thể duy trì đợc phép nớc. Những kẻ tham nhũng chính là những tên đầu
trò trong việc làm tê liệt hệ thống hành pháp là cho Nhà nớc trở thành đối
lập và gánh nặng cho công dân.
Tham nhũng tất yếu dẫn đến phá hoại đội ngũ cán bộ Nhà nớc bởi
vì những kẻ tham nhũng sẽ lừa dối và h hoá cấp trên làm cho bộ máy trở
thành quan liêu, chúng sẽ tăng cờng đa thêm kẻ xấu vào guồng máy và
triệt hại đội ngũ viên cha tốt. Những kẻ tham nhũng chính là những tên
phá hoại từ bên trong của hệ thống hành pháp quốc gia.Tham nhũng sẽ
làm cho quần chúng mất đi sự tin tuởng vào đờng lối lãnh đạo của Đảng
và Nhà nớc và đây cũng là nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến thất bại của
Đảng và Nhà nớc.
Chính với những tác hại to lớn kể trên cũng nh nhiều tác hại do
bệnh tham nhũng tạo ra, nhiều nớc đã coi tham nhũng là quốc nạn của đất
nớc, là giặc nội xâm nguy hiểm.Trong các văn kiện đại hội VIII, IX Đảng
ta khẳng định: Nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ đến
sự sống còn của hệ thống chính trị. Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã có
nhiều biện pháp khắc phục, song hiệu quả còn thấp. Phải tiến hành đấu
8
Đề án môn học
tranh kiên quyết, thờng xuyên và có hiệu quả chống tham nhũng trong bộ
máy Nhà nớc, trong tất cả các ngành, các cấp từ Trung ơng đến cơ sở. Kết
hợp những biện pháp cấp bách với những giải pháp có tầm chiến lợc nhằm
hoàn thiện cơ chế, chính sách, kiện toàn tổ chức, chấn chỉnh công tác
quản lý, khắc phục sơ hở, vừa xử lý nghiêm kịp thời mọi vi phạm, tội
phạm, huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lợng đấu tranh nhằm ngăn
chặn, đẩy lùi và loại trừ tham nhũng. Thủ trởng cơ quan đơn vị, cán bộ
chủ chốt các cấp phải gơng mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham
nhũng, trớc hết là đối với bản thân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn
liền với đấu tranh chống buôn lậu, lãng phí, quan liêu, tập trung vào các
sức cho những quy định quá đáng và tuỳ tiện. Đây là một cơ chế mà nhờ
đó tham nhũng tự nuôi sống chính bản thân nó.
Một biến thái kinh tế phức tạp của lập luận dầu bôi trơn là tích
cực là quan điểm cho rằng hối lộ cho phép cung cầu hoạt động. Quan
điểm này kiên định rằng trong cuộc đặt giá cạnh tranh để có đợc một hợp
đồng mua hàng cuả chính phủ, ngời hối lộ nhiều nhất sẽ giành phần thắng
và công ty có chi phí thấp nhất sẽ có khả năng chịu đựng số tiền hối lộ lớn
nhất. Điều đó chỉ hay về lý thuyết nhng lại không đúng.
Thứ nhất, bằng cách chỉ tập trung vào tệ hối lộ lập luận này không
tính đến tham nhũng là ăn cắp các nguồn lực công cộng, làm suy yếu tính
ổn định kinh tế vĩ mô. Không những thế những ngời nhận hối lộ có xu thế
chuyển những đồng tiền tham nhũng đợc vào các tài khoản ở nớc ngoài.
Ví dụ theo cách này Nigiênia đã tổn thất hàng tỷ tiền ngân sách trong
những thập kỷ vừa qua.
Thứ hai, việc giả định năng lực đấu thầu cao nhất bắt nguồn từ khía
cạnh hiệu quả - chi phí là không đúng, thay vào đó nó thờng gắn với chất
lợng dới mức tiêu chuẩn.
Thứ ba, các chính trị gia hiếm khi chịu làm đối tợng của một khoản
chi trả bất hợp pháp trong cuộc đấu thầu cạnh tranh, trái lại họ đòi tiền hối
lộ một cách kín đáo từ những đối tợng mà họ tin là sẽ đợc giữ bí mật.
Thứ t, việc nhìn nhận hối lộ nh một cơ chế làm cân bằng cung cầu
không tính đến thực tế là nhiều hàng hoá công cộng không nên đợc phân
phối cho những ngời đặt giá cao nhất,thay vào đó mục tiêu của các chơng
trình xoá đói giảm nghèo là phân bổ cac nguồn lực theo sự cần thiết của
những ngời nhận.
Cuối cùng quan điểm cung và cầu về tham nhũng cho rằng những
kẻ hối lộ nhận đợc những hàng hoá mà họ đã phải trả tiền cho chúng, điều
này không phải lúc nào cũng đúng vì không thể cỡng chế thi hành các
giao dịch tham nhũng bằng luật pháp. Một trờng phái biện hộ cho tham
nhũng lý luận rằng hối lộ có thể làm tăng hiệu quả bằng cách giảm đáng
về mặt công nghệ, việc ủng hộ những dự án không đạt tiêu chuẩn, phức
tạp, đòi hỏi vốn lớn song dễ hớt đợc những món tiền lớn hơn. Do đó một
hợp đồng lớn về quốc phòng hay cơ sở hạ tầng có thể đợc ủng hộ hơn việc
xây dựng hàng trăm trờng tiểu học và trạm y tế. Tai hại hơn các quan chức
cho phát triển nhiều dự án voi trắng (cồng kềnh, chi phí cao) không có
ích gì mà chỉ làm giầu cho một số quan chức và một số nhà cung cấp.
11
Đề án môn học
Tình trạng không hoạt động của bốn nhà đối tác mới đây ở Lagos,
Nigieria là một ví dụ. Không những thế các nhà thầu và các quan chức
dính líu vào các hoạt động tham nhũng gây ra những chi phí khổng lồ về
thời gian và năng suất bỏ ra. Việc thơng lợng những vụ làm ăn và những
khoản thanh toán bất hợp pháp, đảm bảo bí mật của chúng và đề phòng
những rủi ro luôn hiện hữu là sẽ không nhận đợc những chữ ký và giấy
phép đã đợc hứa hẹn đều là những công việc mất thời gian, cả sự cần thiết
phải đàm phán lại hay hối lộ thêm cho một quan chức khác nữa nh vẫn
từng xảy ra, cũng tốn thời gian không kém. Trên thực tế bằng chứng từ
nhiều quốc gia cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ hối lộ và l-
ợng thời gian mà một doanh nghiệp phải dành cho các quan chức Nhà n-
ớc. Một cuộc điều tra năm 1993 đối với hơn 1.500 doanh nghiệp ở 49
quốc gia cho thấy: chẳng hạn nh ở Ucraina các ông chủ công ty mất nhiều
tiền hối lộ phải dành thời gian cho các quan chức và chính trị gia nhiều
hơn gần một phần ba so với những ngời hối lộ ít. Những công ty hối lộ
nhiều cũng phải mất 75 tuần công lao động mỗi năm trong thời gian quản
lý cho việc thơng lợng với các quan chức so với con số trung bình hàng
năm là 22 tuần công lao động của các doanh nghiệp hối lộ ít. Thêm vào
đó các số liệu thu đợc từ hơn 3.600 doanh nghiệp ở 69 nớc chứng tỏ rằng
ở những nớc có tình trạng tham nhũng cao hơn các doanh nghiệp thờng
dành một phần lớn hơn trong thời gian quản lý cho các quan chức. Ngoài
ra cuộc điều tra cũng cung cấp bằng chứng cho thấy ở những nơi mà tệ
2.1. Hệ thống pháp luật
2.1.1. Trên phơng diện xây dựng pháp luật
Trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, pháp luật đợc coi là ph-
ơng tiện cứng rắn nhất và không thể thiếu đợc. Lịch sử đấu tranh chống
tham nhũng trên phạm vi toàn thế giới cho thấy, nếu thiếu phơng tiện
pháp luật thì cuộc đấu tranh này chỉ là cuộc chiến nửa vời dọa tham nhũng
chứ không diệt đợc tham nhũng. Vai trò của pháp luật trong đấu tranh
chống tham nhũng đợc thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau, từ việc xác
định thế nào là tham nhũng, các loại hành vi tham nhũng, các biện pháp
phòng ngừa, các loại chế tài cho tới hình thức và biện pháp xử lý tham
nhũng. ở một cách phân chia tơng đối, pháp luật liên quan đến tham
nhũng đợc sử dụng trên hai phơng diện: Phòng ngừa tham nhũng và xử lý
tham nhũng.
2.1.1.1. Pháp luật về phòng ngừa tham nhũng đợc thể hiện ở rất
nhiều ngành luật, nhiều văn bản khác nhau: từ các văn bản về tổ chức bộ
máy Nhà nớc, văn bản về các lĩnh vực kinh tế xã hội đến pháp luật đấu
tranh trực diện với tham nhũng. Nó có thể là ngành luật hiến pháp, luật đất
4
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, trang 494
13
Đề án môn học
đai, luật tài chính - ngân hàng, luật hành chính, luật dân sự, luật kinh tế
Một đòi hỏi đối với các văn bản pháp luật này là phải đồng bộ, thống nhất,
phải tạo đợc khuân mẫu pháp lý có khả năng loại trừ sự nảy sinh của các
hành vi tham nhũng. Tuy nhiên đánh giá một cách toàn diện hệ thống
pháp luật này, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự bất cập và còn nhiều kẽ hở,
là mảnh đất sinh sôi, phát triển của tham nhũng, đặc biệt là các quy định
trong lĩnh vực quản lý tài chính, xét duyệt các dự án đầu t, đấu thầu, duyệt
chi, cấp phát ngân sách, cho vay, pháp luật về xây dựng cơ bản và quản lý
tài chính trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, xuất nhập khẩu, quản lý đất đai,
sống. Pháp lệnh chống tham nhũng ban hành năm 1998 mặc dù đã sửa
đổi, bổ sung nhng đến nay đã tỏ ra lạc hậu, nhiều quy định không thực
hiện đợc trên thực tế, cần nâng cấp văn bản này thành Luật chống tham
nhũng với những quy định cứng rắn và cụ thể hơn, phù hợp với yêu cầu
của cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong tình hình mới.
2.1.2. Hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, hoạt động tuyên truyền,
giáo dục pháp luật đặc biệt là pháp luật liên quan đến phòng chống
tham nhũng cha đơc các cơ quan, các cấp, các ngành chú ý đúng mức.
Nhiều cán bộ, công chức không nắm đợc những quy định cơ bản
trong pháp Lệnh chống tham nhũng và những quy định của Bộ luật hình
sự về tội tham nhũng. ở nhiều cơ quan, lãnh đạo không muốn tổ chức
triển khai thực hiện pháp luật về chống tham nhũng trong đơn vị mình bởi
vì nó động chạm đến chính bản thân ngời lãnh đạo đó. Từ thực trạng đó
mà trên thực tế nhiều ngời có hành vi tham nhũng song không ý thức đợc
đầy đủ hành vi của mình. Một số ngời khác cũng do không hiểu biết pháp
luật mà cha thấy đợc trách nhiệm của mình trong việc phát hiện, tố cáo
hành vi tham nhũng.
2.1.3. Trong hoạt động áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng,
nhiều vấn đề bức xúc đã nảy sinh trong lĩnh vực này và đây là một trong
những nguyên nhân của tình trạng tham nhũng ngày càng phức tạp. Tình
trạng bao che xử lý nội bộ còn phổ biến. Không ít vụ án tham nhũng đang
bị điều tra bỗng nhiên bị đình chỉ. Nhiều vụ án đa ra xét xử song hình phạt
còn nhẹ, cha đủ tính răn đe, phòng ngừa. Đặc biệt trong thời gian qua đã
xuất hiện không ít trờng hợp chính những cán bộ đợc giao nhiệm vụ trực
tiếp đấu tranh xử lý tội phạm có hành vi tham nhũng lại là ngời có hành vi
tham nhũng. ở một số địa phơng đã nảy sinh tình trạng một số ngời có
chức vụ, quyền hạn can thiệp vào hoạt động đấu tranh chống tham nhũng
của cơ quan bảo vệ pháp luật. Rõ ràng, sự thiếu nghiêm minh công bằng
trong việc xử lý ngời có hành vi tham nhũng đã trở thành một trong những
nguyên nhân làm cho tình trạng tham nhũng cha có chiều hớng thuyên
Đảng cũng nh trong việc nâng cao chất lợng của các tổ chức đảng và của
đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cha ngăn chặn và đẩy lùi đợc tệ tham
nhũng, lãng phí
5
mà hội nghị lần thứ t Ban Chấp hành Trung ơng khoá IX
đã chỉ ra. Cụ thể là, ở không ít nơi, sự chỉ đạo của các cấp uỷ cha kiên
quyết, cha tập trung đúng mức, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp
cha tự giác phê bình và tự phê bình, cha làm gơng cho cán bộ, đảng viên
5
Kết luận 04-KL/TW của hội nghị lần thứ 4
Ban chấp hành Trung ơng khoá IX, ngày 19-11-2001
16
Đề án môn học
trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, việc xử lý một số vụ việc nổi
cộm cha nghiêm, vẫn còn có biểu hiện trên nhẹ, dới nặng , nhiều cấp
uỷ, tổ chức đảng cha thực sự dựa vào dân, cha coi trọng tiếp thu ý kiến
phê bình của dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, một số chủ trơng, biện
pháp, quy chế, chính sách nhằm ngăn ngừa, đấu tranh chống tệ tham
nhũng, lãng phí quy định cha hợp lý, chặt chẽ, có tính khả thi cha cao, còn
ít hiệu quả, thiếu sự phân công phối hợp chỉ đạo việc chống tham nhũng
một cách có hiệu lực, hiệu quả.
Công tác kiểm tra Đảng, thanh tra, kiểm sát của các cơ quan chức
năng của Nhà nớc cha đợc tiến hành thờng xuyên, liên tục, còn nhiều yếu
kém. ở nhiều nơi, công tác kiểm tra của Đảng cha chú ý kiểm tra, khắc
phục tệ quan liêu.
4. Những yếu kém trong công tác tổ chức cán bộ do sự buông lỏng,
yếu kém trong quản lý Nhà nớc.
Đây là nguyên nhân quan trọng làm phát sinh các tội có tính chất
tham nhũng. Đảng ta chỉ rõ: công tác cán bộ vừa bảo thủ, vừa trì trệ về
nhiều mặt, vi phạm các nguyên tắc đào tạo, bồi dỡng, sử dụng, đề bạt cán
dân chủ, song nhìn chung việc thực hiện còn nhiều hạn chế
7. Cuộc đấu tranh chống tệ tham nhũng động chạm đến những cán bộ
có chức có quyền, có khi động chạm đến cả một tập thể ngành, cơ quan
đơn vị, động chạm đến lợi ích thiết thực, đến thể diện, uy tín của cán bộ.
Hơn nữa, tệ tham nhũng vẫn còn cơ sở kinh tế, xã hội để tồn tại. Vì thế
cuộc đấu tranh chống tệ tham nhũng là một quá trình lâu dài, rất khó khăn
phức tạp.
18