TLGD VI HÓA SINH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG CHƯƠNG 4 VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ
Không khí mà con người chúng ta thở hàng ngày là một môi trường không khí
vô trùng. Tuy nhiên may sao môi trường này không thích hợp cho sự phát triển của vi
sinh vật. Nếu không khí tuyệt đối tỉnh, ta có thể thấy được các chất lơ lửng trong không
khí rơi xuống đất. Tuy nhiên do sự khuấy động của gió cho phép một khối lượng lớn
chất rắn lơ lửng tồn tại một thời gian dài trong không khí. Các chất rắn lơ lửng này là
giá mang vi sinh vật đi trong một khoảng đườ
ng dài.
Hình 4. 1
: Ô nhiễm không khí do công nghiệp
1. SỐ LƯỢNG VÀ CHỦNG LOẠI VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ
Vi khuẩn, nấm và virus là những vi sinh vật chiếm ưu thế trong không khí. Do
sự thiếu hụt chất dinh dưỡng trong không khí đã hạn chế sự tồn tại của các tế bào dinh
dưỡng trong một thời gian dài. Tuy nhiên một số loại vi khuẩn (vi khuẩn, nấm) có khả
năng tạo bào tử cho phép thời gian tồn tại của chúng trong không khí lâu hơn rất nhiều.
Để tồn tại, các tế bào dinh dưỡng đòi hỏi trong môi trường mộ
t độ ẩm nhất định. Độ ẩm
không khí do sự phân tán của các bụi nước. VD có thể là các hoạt động của con người
như khi anh ta hắt hơi, nói …các hạt bụi nước phân tán này bay hơi rất nhanh do đó các
tế bào dinh dưỡng không thể phân tán xa khỏi nguồn.
2. CÁC LOẠI BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN KHÔNG KHÍ
Các bệnh thường gặp liên quan đến không khí bao gồm:
-
Bệnh bạch hầu
-
Bệnh ban đỏ
toàn bộ các vi sinh vật trong không khí. Những người làm các công việc có cường độ
tiếp xúc với những người lân cận cao tại các thành phố lớn có nguy cơ lây nhiễm cao.
Những nạn dịch lây lan này rất phổ biến ở Châu Âu và Châu Á, chúng lan rộng từ thành
phố này đến thành phố khác trong mộ
t thời gian ngắn.
Hình 4. 2
: Ô nhiễm không khí do cháy rừng
Ánh sáng mặt trời là một vũ khí tiềm tàng tiêu diệt các mần bệnh trong không
khí. Tia cực tím trong ánh sáng mặt trời đã tiêu diệt nhiều loại vi sinh vật trước khi
chúng lây nhiễm vào các động vật máu nóng. Do tính sát trùng của tia UV nên nó đã
được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thới giới để khử trùng không khí. Tuy nhiên do
khả năng thâm nhập yếu nên tia UV chỉ sử dụng trong phạm vi hẹp. Với một cường độ
lớn, tia UV là một tia độc hại đối với con người, do đó nó được khuyến cáo sử dụng ở
một hàm lượng nhất định.
Các hóa chất như propylene glycol và triethylene glycol cũng được sử dụng để
phun vào không khí để khử trung vùng bị ô nhiễm. Trong các tòa nhà, ô nhiễm không
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 67
TLGD VI HÓA SINH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG khí chủ yếu do bụi khi mọi người đi bộ bay lên, do đó vệ sinh sàn nhà sẽ làm giảm mật
độ vi khuẩn trong không khí. Thường xuyên lau sàn nhà sẽ giữ cho nồng độ vi sinh vật
ở mức tối thiểu.
Biện pháp lọc giúp giảm thiểu vi sinh vật và bụi. Thiết bị lọc bụi là một ống
bằng thủy tinh, bên trong là vật liệu lọc vi sinh vật làm bằng cotton. Nhược điểm của hệ
thố
ng lọc này là vấn đề tắc lọc do các hạt bụi dính vào.
Thiết bị thiết kế lắng điện tử đã được thay thế và được xem như máy lọc không
5. ẢNH HƯỞNG CỦA MƯA ĐỐI VỚI VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ
C
ác hình thái hơi nước kết tủa như mưa, tuyết, mưa đá hoặc mưa tuyết giữ vai
trò quan trọng trong việc làm sạch ô nhiễm không khí. Ở giai đoạn đầu trận mưa, nước
mưa chứa hàm lượng vi khuẩn ô nhiễm cao, nhưng càng về sau nước mưa càng sạch. Ở
những nơi thu gom nước mưa từ mái nhà để sử dụng cần lưu ý xả bỏ lượng nướ
c thu
gom ở đầu trận mưa, chỉ thu lại nước mưa ở giai đoạn sau. Chất lượng nước thu gom
này phụ thuộc vào điều kiện môi trường khu vực.
Ở các đô thị lớn ngoài nồng độ bụi phát tán trong không khí do khí hậu và các
hoạt động sống của con người, trong không khí còn chứa một lượng không khí nhỏ khói
bụi từ các nhà máy và các phương tiện giao thông. Do đó chất lượng nước mưa bị
ảnh
hưởng rất nhiều bởi các hoạt động này.
Ở nông thôn với mật độ dân cư thưa, cây xanh nhiều, chất lượng nước mưa
tương đối tốt, chỉ bị ảnh hưởng nhỏ bởi phân bón nông nghiệp.
Tuy nhiên hiện nay, với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng cao, bầu
khí quyển bao quanh trái đất bị ảnh hưởng nghiêm trọng và không còn mang tích chất
cục bộ của từng khu v
ực. Các hiện tượng như mưa acid, thủng tầng ozon có tính chất
toàn cầu, tầm ảnh hưởng trên phạm vi rộng từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ châu
lục này sang châu lục khác. Do đó kiểm soát ô nhiễm không khí cần phải có sự kết hợp
chặt chẽ của toàn bộ các quốc gia trên thế giới.
1.1 Khái niệm về dịch tế bào học và các đường truyền bệnh
Có nhiều loại bệnh khác nhau, đó là bệnh đơn phát, bệnh dịch diễn ra trong từng
thời kỳ hoặc trong từng địa phương hay trong một vùng rộng lớn, thậm chí trong nhiều
nước trên thế giới. Bệnh đơn phát không có tính đơn truyền. Những bệnh dịch lan
truyền thường qua 3 khâu là: nguồn gây bệnh
Æ Đường truyền bệnh Æ người, vật bị
nhiễm bệnh.
Nguồn gây bệnh có thể là người, vật ốm đã bị mất bệnh hoặc người vật khỏe
nhưng có mang vi khuẩn gây bệnh.
Đường truyền bệnh có thể:
•
Qua nước: do ăn uống, tắm rửa giặt giũ, rửa thức ăn, rau cỏ, bát đĩa,…
•
Qua thức ăn hay thực phẩm nói chung. Vì trong nhiều loại thực phẩm có chứa
nhiều loại vi khuẩn gay bệnh.
•
Qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp giữa người bệnh với người khỏe. Tiếp xúc
trực tiếp là do bắt tay, hôn, Tiếp xúc gián tiếp là do dùng chung quần áo, bát
đĩa, đồ dùng sách vở,…
•
Qua không khí: là do hút thở không khí chứa hơi nước, bụi, vi sinh vật gây bệnh
kể cả đờm và nước bọt của người bệnh.
•
Qua côn trùng: ruồi muỗi, bọ nhặng,
Những người làm công tác vệ sinh phải tạo điều kiện sống sao cho vi sinh vật
gây bệnh không xâm nhập vào nước, thức ăn, không khí,…Ở những nơi chúng xâm
nhập được thì phải có biện pháp tẩy trùng môi trường (như với nước thải chẳng hạn).
Khi vi sinh vật gây bệnh xâm nhập được vào người, động vật chủ, thì tùy thuộc vào
nhiều yếu tố mà vật chủ
có thể bị hoặc không bị mắc bệnh. Như trên đã nói, đa số các vi
Để tiêu diệt bệnh, người ta phải triệ
t một trong những khâu truyền bệnh. Những
người làm công tác vệ sinh phải có trách nhiệm tiêu diệt vi trùng gây bệnh trên các
đường truyền bệnh sau này.
1.2 Những bệnh truyền nhiễm qua nước
Trong số những bệnh truyền nhiễm qua nước thì những bệnh đường ruột chiếm
nhiều nhất. Đa số các loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột giống nhau về hình thái, sinh
lý và thuộc họ Enterrobacteriaceae. Chúng có loại trực khuẩn kích thước 1 - 3 x 0,5 -
0,6 µm, gram âm, không tạo ra bào tử và không có giáp mạc. Các loài vi khuẩn của từng
bệnh khác nhau về hoạt tính men, khả năng vận động.
Những loài vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho người ta, gia súc, gia cầ
m là trực
khuẩn trục đường ruột (Eschericchia), vi khuẩn bệnh thương hàn và phó thương hàn -
Typhos và Paratyphos (Salmonella), vi khuẩn bệnh lỵ (Disenteria), vi khuẩn tả Cholera
(Vibrion),…
Đối với loại Escheria, ngoài trực khuẩn đường ruột E.coli, thường có các loại
trực khuẩn đường ruột gây bệnh Colenterit ở trẻ em và dạng Disenteria ở người lớn.
Loại trực khuẩn đường ruộ
t thường và loại vi khuẩn lên men là loại đối khoáng với vi
khuẩn thối rửa. trực khuẩn đường ruột thải ra các chất kháng sinh như Colicin làm chết
các vi khuẩn gây bệnh khác. Khi dùng chất kháng sinh để diệt vi khuẩn đường ruột thì
sẽ kích thích vi khuẩn thối rửa và những vi khuẩn gây bệnh khác.
Những trực khuẩn gây bệnh đường ruột đặc biệt rất nguy hiểm ở chỗ chúng rất
thích nghi với cơ thể
người, chúng bền vững với cả dịch vị của người. Trong điều kiện
tự nhiên như đất, nước, kể cả thực phẩm ở da, chúng có thể tồn tại hàng tuần hoặc thậm
chí mấy tháng. Tuy nhiên khi đun sôi có thể diệt chết ngay được. Các dung dịch chất
kháng sinh 3 - 5% (như dung dịch chloramin, phenol, formalin,…) trong vòng 10 -15
phút có thể tiêu diệt được chúng.
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 71
Nguồn bệnh là người đã mắc bệnh. Trực khuẩn lỵ Shigella có thể truyền do tiếp
xúc trực tiếp, qua thưc ăn, nước uống đặc biệt do ruồi nhặng,…
So với Salmonella thì Shigela không bền vững bằng. Nhưng nó có thể chịu đựng
được ở nhiệt độ thấp tới hàng tháng. Chúng có thể tồn tại ở nước sông tới 3 tháng, ở
n
ước cấp thành phố 1 tháng, ở nước thải 1 tuần.
Đối với dung dịch sát trùng acid cacbonic 1%, sau nữa giờ thì chúng bị tiêu diệt.
Khử trùng nước cấp đô thị bằng clorua hóa có thể tiêu diệt hoàn toàn trực khuẩn lỵ.
z Vi khuẩn Vibrion gây bệnh tả Cholera. Đây là điển hình của bệnh truyền nhiễm qua
nước. Dịch tả là bệnh rất khủng khiếp, lan truyền nhanh và tỉ lệ tử vong cao.
Vi khuẩn Vibrion là loại phẩy khuẩn dài 1,5 - 2µ, đôi khi dài giống trực khuẩn
hoặc có khi ngắn hơn cầu khuẩn. Nó bắt màu tốt, gram âm, không giáp mạc, không tạo
nha bào, nếu soi tươi thì rất di động. Là loại hiếu khí, dễ dàng nuôi cấy trong các môi
trường kiềm yếu; không bền vững đối với môi trường acid. Khi độ acid của dịch dạ dày
yếu đi thì rất dễ mắc bệnh này. Vi khuẩn Vibrion xâm nhập vào cơ thể bằng thực đạo,
phát triển ở niêm mạc tiểu trường, giải phóng nội độc tố gây ra một loạt chịu chứng điển
hình, lượng mước ngưng tụ rất lớn (tới 30l/ ngày, đ
êm) nôn mửa và đi ngoài lỏng. Cơ
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 72
TLGD VI HÓA SINH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG thể bị mất nước nghiêm trọng, cường độ các quá trình gây oxy hóa giảm và các sản
phẩm chưa kịp cháy hết (CO
2
) sẽ đọng lại ở các mô,… Tỉ lệ tử vong rất cao.
Phẩy khuẩn tả Vibrion rất nhạy với nhiệt độ cao. Đun nóng tới 52
0
C sau 30 phút
nhiệt độ thấp. Nhưng không chịu nổi nhiệt độ cao – đun tới 60
0
C là chết trong vòng 15
– 20 phút. Những chất sát trùng ở nồng độ thường dùng để tiêu diệt được virut bại liệt.
z Bệnh Tularê. Bệnh này biểu hiện ở bề ngoài có nhiều điểm giống bệnh dịch hạch.
Tuy nhiên đó chỉ là bề ngoài mà thôi. Bệnh này truyền bằng nhiều đường nhưng phần
lớn truyền qua nước là chính. Đặc trưng của bệnh này là huỷ hoại tuyến bạch huyết.
Tuyến này sưng lên. Vi khuẩn gây bệnh là loại hiếu khí nhưng không tạo bào tử, lúc
non ở dạng trực khu
ẩn, khi già ở dạng cầu khuẩn bất động. Nhiệt độ thích hợp nhất đối
với chúng là vào khoảng 37
0
C. Với nhiệt độ cao 56 – 58
0
C trong vòng 10 phút là chúng
bị chết. Chúng chịu đựng được ở nhiệt độ thấp. Ở nước sông chúng bảo tồn được 1
tháng, ở nước giếng 2 tháng, ở nước cấp đô thị 3 tháng. Ở dung dịch thuỷ ngân 1% chỉ
trong 3 giây là chúng chết hết. Khử trùng bằng clo cũng đủ tiêu diệt chúng.
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 73
TLGD VI HÓA SINH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG Nguồn truyền bệnh là chuột cống, chuột đồng và chuột nhà. Để phòng và chống
bệnh Tularê người ta diệt chuột và dùng vacxin.
z Bệnh viêm kết mạc – connunctive: trong các đô thị có nhiều bể tắm người tắm ở
những bể đó hay bị bệnh viêm kết mạc. Rõ ràng là người tắm làm cho nước nhiễm loại
vi khuẩn, trong đó có loại gây bệnh viêm kết mạc.
z Ngoài những bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn còn có những bệnh khác truyền qua
nước do virut. Điển hình nhất là bệnh poliomielit – bệnh bại liệt trẻ em hay còn gọi là
Huston và Klein trong 1ml nước thải sinh hoạt chứa khoảng 100000 - 800000 trực
khuẩn đường ruột; từ 1000 - 60000 cầu khuẩn và từ 100 - 2000 vi khuẩn yếm khí tạo
nha bào. Như vậy trong nước thải sinh hoạt trực khuẩn đường ruột chiếm nhiều nhất.
Tuy nhiên đây không phải là vấn đề chúng nhiều về số lượng, mà giá trị chủ yếu của
VSV chỉ thị về sự nhiễm phân và tốc độ chết của chúng phải xấp xỉ tốc độ chết của các
VSV khác. Chỉ có loại vi khuẩn nào có trong phân người và tuân theo điều kiện trên
mới có thể dùng làm chỉ tiêu về nhiễm bẩn đo phân được.
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 74
TLGD VI HÓA SINH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG Xét 3 loại vi khuẩn có trong phân ta thấy: vi khuẩn nhóm Bact.Perfingens bảo
tồn trong nước lâu hơn những vi sinh vật gây bệnh. Cầu khuẩn lại mau chết hơn. Còn
trực khuẩn đường ruột có thời gian bảo tồn trong nước gần giống với những VSV gây
bệnh khác. Do đó trực khuẩn đường ruột là chỉ tiêu về sự nhiễm bẩn nước.
Ngoài ra người ta còn kiến nghị hai loại là VSV ưa nóng và trực khuẩn th
ể làm
hai chỉ tiêu phụ. Tuy nhiên tất cả các chỉ tiêu vệ sinh trên đều gọi là chỉ tiêu gián tiếp vì
chúng cho biết một cách gián tiếp về sự nhiễm nước về VSVgây bệnh. Nếu khi có bệnh
dịch xảy ra, các nhà vi sinh vật phải xác định đích xác loại VSV nào gây ra dịch bệnh.
Khi đó gọi là chỉ tiêu vệ sinh trực tiếp về sự nhiễm bẩn nước.
Ý nghĩa của chỉ tiêu về trực khuẩn đường ruột
Trực khuẩn đường ruột là nguồn gốc đầu tiên gây bệnh thương hàn, phó thương
hàn và lị. Trong quá trình tiến hoá của mình, chúng có khả năng kí sinh vào cơ thể sống
đồng thời mất dần khả năng sử dụng trực tiếp các chất hoá học làm thức ăn. Từ đó hình
thành các loại trực khuẩn gây ra các bệnh trên đây. Nhóm trực khuẩn đường ruột
Escherichia Coli có rất nhiều trong ruột già của người t
ừ 100 triệu - 1 tỷ con trong 1g
phân người. Con người sau khi sinh ra không thể chứa trực khuẩn với 1 lượng khổng lồ
E.coli người ta phải phân tích xác định lượng vi khuẩn ưa nóng, nhưng phân súc vật
phân chuồng thì chứa rất nhiều. Như thế thì người ta sẽ xác định được nguyên nhân của
sự nhiễm bẩn đất và nước thải do phân bón laọi nào? Muốn vậy ngoài chỉ tiêu E.coli
người ta phải phân tích xác định lượng vi khuẩn ưa nóng, nhưng phân súc vật phân
chuồng thì chứa rất nhiều. Như thế thì người ta sẽ xác định đượ
c nguyên nhân của sự
nhiễm bẩn đất và nước thải do phân bón loại nào.
Ý nghĩa chỉ tiêu vệ sinh về thực khuẩn thể
Như đã biết, thực khuẩn thể (phage) sống kí sinh vào vi khuẩn. Khi vắng mặt vi
khuẩn tương ứng của thực khuẩn thể thì thực khuẩn thể vẫn tồn tại được khá lâu trong
nước. Chúng chỉ chết khi không nhận được thức ăn mà thôi. VÌ vậy, nếu phát hiện thực
khuẩn thể (ứng với loại sinh vật gây bệnh nào) trong nước thì chắc chắn có vi sinh vật
đã hay đang tồ
n tại.
Ý nghĩa chỉ tiêu vệ sinh về giun sán
Có hai loại giun sán là: giun sán địa chất và giun sán sinh học. Giun sán là loại
giun mà trong quá trình phát triển không nhờ vật chủ trung gian. Giun sán sinh học là
loại phải sống nhờ hai đến ba vật chủ trung gian.
Giun địa chất gồm: Giun đũa, giun kim, giun tóc… Giun sinh học gồm giun búi,
sán chỉ, sán xơ mít, giun xoắn…
Môi trường bên ngoài (đất, nước) bị nhiễm bẩn bởi giun sán là do nhiễm phân
chứa giun sán .
Con người bị nhiễm giun sán là do ăn phải trứng giun hoặc bọ ở trong nước, trái
cây, th
ức ăn tươi sống.
Trong nước thải sinh hoạt và do đó, nước sông hồ bị nhiễm bẩn bởi nước thải
nên cũng chứa nhiều loại giun như giun đũa, giun kim…Giun đũa có màu trắng, dài 15
cm. Trong ruột người, động vật chứa nhiều loại trứng giun, có khoảng 245 ngàn trứng
nước thấy ghê sợ, và chắc chắn cũng mang theo vi khuẩn.
Trong các nguồn nước mặt, nhất là hồ đầm thường có hiện tượng phú dưỡng nở
hoa (Eutrofication). Do đó trong nước sẽ chứa các sản phẩm trao đổi hoạc các sản phẩm
phân huỷ t
ế bào rêu làm cho nước có mùi vị khác thường: tanh, hôi, thối…
Chẳng những tảo mà cả xạ khuẩn cũng làm cho nước có mùi vị khó chịu
Đánh giá về vật lý
Nước dùng để ăn uống phải trong sạch, không màu, mùi, vị, pH và nhiệt độ phải
nằm trong giới hạn quy định theo quy phạm.
Đánh giá về hoá học
Trong thành phần nước thiên nhiên chứa nhiều tạp chất hoá học khác nhau kể cả
các chất phóng xạ. Các chất khoáng chứa rất nhiều trong nước thiên nhiên. Trong đó có
nhiều hợp chất cần cho cơ thể người. Tuy nhiên, những hợp chất đó (anion, cation)
được bổ sung chủ yếu từ thức ăn chứ không phải từ nước (trừ iod và fluor). Như vậy sự
có mặt của những ion đó làm cho nước có cả
m giác hợp khẩu vị là chính. Ngoài ra nếu
người ta uống nước cất thì sẽ làm cho giác mạc bị mất muối và sẽ gây hiện tượng
trương nguyên sinh của tế bào.
Đặc biệt, đối với iod và fluor thì rất cần đối với cơ thể người. Iod cần thiết cho
sự hoạt động bình thường của tuyến giáp – họng con người (mổi ngày con người cần
300µg iod). Nếu thiếu tuyến giáp thì cổ họng kém phát tri
ển, bề ngoài gọi là bệnh bướu
cổ, khả năng tư duy kém con người trở nên đần độn kém thông minh. Nguồn chính bổ
sung iod cho cơ thể người là nước, nhất là nước biển. Từ nước biển iod theo hơi nước
bay vào khí quyển rồi theo mưa bay vào đất liền, sông, hồ, đất. Càng ở những vùng cao
xa nước biển lượng iod trong khí quyển càng ít. Do đó nước ở vùng cao nguyên chứa ít
iod và bệnh bướu cổ phát sinh nhiều (ch
ẳng hạn ở vùng núi Hymalaya, Anpơ ) để
chống bệnh bướu cổ người ta phải iodua hoá nước, bổ sung muối ăn vào thức ăn.
Fluor cũng là một nguyên tố phổ biến trong thiên nhiên. Nước mặt chứa ít fluor
Sản phẩm trao đổi của các VSV sống lẫn vào nước
•
Các chất hữu cơ cùng với nước thải sinh hoạt, công nghiệp xã vào nguồn nước.
Theo mức độ phân huỷ người ta chia ra : các chất hữu cơ dễ phân huỷ, khó phân
huỷ, và chất độc.
Chỉ tiêu COD (nhu cầu oxy hoá học) định lượng tổng cộng tất cả các chất hữu cơ
trong nước nhưng không xác định được lượng các chất dễ hoặc khó phân huỷ. Khi đó
tốt nhất là xác định chỉ
tiêu BOD – là đại lượng phản ánh các chất hữu cơ có thể phân
huỷ bởi VSV hiếu khí. Đó chính là những chất hữu cơ dễ phân huỷ. Nước dùng để cấp
nước sinh hoạt có BOD =2 - 3mg/l, đôi khi hơn một chút nhưng không được quá 4mg/l.
Đánh giá theo giác quan
Đối với nước dùng để ăn uống, khi nồng độ các tạp chất rất thấp, đôi khi các
phương pháp phân tích hoá học không đủ chính xác thì người ta dùng giác quan để thử
nghiệm. Có thể dùng 3 trong 5 giác quan của con người (vị, khứu, thị giác) để đánh giá
chất lượng nước uống. Tất nhiên khi nước đục có màu, mùi, vị khác thường, thì con
người sẽ cảm thấy được. Đó là phản xạ tự vệ tự nhiên củ
a con người.
•
Màu: nếu nước trong sạch thì nước không màu. Nếu có màu chứng tỏ nước thiên
nhiên có các tạp chấp như humic, tamin, muối sắt…
•
Mùi: Nước dùng để ăn uống không được có mùi. Nếu có mùi chứng tỏ nước bị
nhiễm bẩn và nguyên nhân có thể là: do tạo thành H
2
S, sản phẩm của sự phân huỷ
các chất hữu cơ chứa S hoặc do có FeS, chất này tác dụng vói acid carbonic rồi tạo
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 78
hoạt, công nghiệp, nhà tắm, giặt công cộng, lược sử tình hình dịch bệnh vùng dân cư…
Nếu nguồn cấp nước là nước ngầm thì song song với mặt cắt địa chất phải xét trữ nguồn
nước, vị trí và biện pháp khai thác nước, tình hình mạng lưới thoát nước vùng dân c
ư
lân cận.
Biên soạn: Ths Nguyễn Trần Thiện Khánh 79