BÁO CÁO KHOA HỌC: "ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR KHẢO SÁT SƠ BỘ TẦN SUẤT PHÂN BỐ CÁC ALEN CỦA LOCUS D7S820 Ở NGƯỜI VIỆT NAM" pot - Pdf 19

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR KHẢO SÁT SƠ BỘ
TẦN SUẤT PHÂN BỐ CÁC ALEN CỦA LOCUS
D7S820 Ở NGƯỜI VIỆT NAM

Nghiêm Xuân Dũng, Trần Minh Đôn,Lương Thị Yến,
Lê thị Bích Trâm.
Cục Kỹ thuật Hóa-Sinh và Tài liệu nghiệp vụ, Tổng cục
KHKT & CN- Bộ Công an

Nhận dạng cá thể bằng kỹ thuật phân tích ADN trong công
tác hình sự là một phương pháp được quan tâm và đi sâu
nghiên cứu từ nhiều năm nay bởi các nhà khoa học ở nhiều
nước trên thế giới. So với các phương pháp trước đây,
phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi bật như khắc phục
được tình trạng số lượng mẫu quá ít, mẫu bị suy giảm
nghiêm trọng do tác động của môi trường và sự che dấu của
thủ phạm. Mặt khác, phương pháp phân tích ADN còn cho
kết quả với độ chính xác cao, nếu sử dụng từ 6 đến 9 đoạn
gen sẽ cho một kết quả gần như tuyệt đối [9].

Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về các locus gen đa
hình như D1S80 [1], TH01 [1,4], TPOX [3], D17S5 và
ApoB [1] Trên thế giới, khoảng 12 locus đã được sử dụng
rộng rãi trong y học hình sự như TH01, TPOX, D5S818,
D7S820 Các locus được lựa chọn này đều mang các alen
có trình tự lặp lại ngắn (kích thước cách nhau 4bp). So với
các đoạn ADN có trình tự lặp lại dài, đoạn lặp lại ngắn có
khả năng ít bị biến tính nên rất có ích lợi trong công tác
giám định.

Tại Phòng Thí nghiệm Sinh học phân tử - Cục Kỹ thuật

b. Kỹ thuật PCR:

Quá trình PCR với các giai đoạn cơ bản: biến tính, gắn mồi
và tổng hợp. Quá trình được thực hiện với các nhiệt độ gắn
mồi khác nhau được lựa chọn từ 50
o
C đến 58
o
C. Sản phẩm
PCR sau đó được kiểm tra trên gel agaroza 2%, nhuộm
ethidium bromide (25g/ml).

c. Kỹ thuật điện di:

Các mẫu sau khi thực hiện quá trình PCR đã được kiểm tra
trên gel agaroza 2% sau đó được điện di trên gel
polyacrylamide 6% sử dụng ure 7M. Băng ADN được phát
hiện bằng phương pháp nhuộm bạc của Bassam, 1991 [6].

d. Phương pháp chọn lọc và xây dựng thang alen

* Đánh số alen theo quy ước riêng: Dựa vào các alen
quan sát được của các mẫu khác nhau trên bản điện di,
chúng tôi chọn ra các mẫu mang các alen khác nhau và
đánh số alen theo thứ tự từ dưới lên trên (đánh số alen từ
băng ADN có trọng lượng phân tử thấp nhất đến băng
ADN có trọng lượng phân tử cao nhất). Việc đánh số ở đây
chỉ mang tính quy ước sao cho mỗi alen xác định được có
ký hiệu riêng, vì đây là quá trình khảo sát ban đầu chưa có
thang alen chuẩn để so sánh.

o
C, 52
o
C, 54
o
C
và 56
o
C băng ADN xuất hiện mờ hơn hẳn so với ở nhiệt độ
gắn mồi 58
o
C. Điều này chứng tỏ ở nhiệt độ gắn mồi 58
o
C,
quá trình PCR là tối ưu nhất (sản phẩm tạo ra nhiều nhất so
với các nhiệt độ gắn mồi còn lại). Vì vậy, điều kiện đã tối
ưu này được chúng tôi sử dụng để thực hiện quá trình PCR
đối với các mẫu nghiên cứu (hình 1).

Hình 1. Kết quả kiểm tra sản phẩm PCR ở một số mẫu trên
gel agaroza theo điều kiện nhiệt độ gắn mồi 58
o
C 2. Kết quả chọn lọc alen và tạo thang alen :

Sử dụng các phương pháp đã nêu chúng tôi đã tạo được
thang alen chuẩn cho locus D7S820. Thang alen này (ký
hiệu L) bao gồm 7 alen khác nhau (hình2) được ký hiệu từ


- Alen có tần suất thấp nhất là alen số 7 (0,8%).

- Chưa phát hiện thấy alen số 14. Số mẫu mà chúng tôi
khảo sát bước đầu còn ít nên có thể chưa phát hiện được
alen này.

Với tần số khảo sát alen số 7 là 0,8% và chưa phát hiện
thấy alen số 14 trong số 122 alen, có thể coi alen số 7 và 14
là các alen hiếm của locus D7S820 ở người Việt Nam.

III. Kết luận

1. Đã tối ưu được điều kiện PCR đối với locus D7S820 với
điều kiện nhiệt độ gắn mồi là 58
o
C.

2. Đã xây dựng được thang alen cho locus di truyền
D7S820 với 7 alen khác nhau.

4. Đã khảo sát sơ bộ tần suất alen của locus D7S820 ở 64
mẫu ADN người Việt Nam dựa vào thang alen tạo được.
Tần suất khảo sát thu được cao nhất ở alen số 11 và thấp
nhất ở alen số 7. Alen số 14 chưa thấy xuất hiện trong số
mẫu đã khảo sát.

Kết quả khảo sát tần suất của locus D7S820 sẽ góp phần
phục vụ công tác nhận dạng cá thể người và tiến tới làm
tàng thư ADN ở người Việt nam.

4. Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Trọng Toàn, Nghiêm Xuân
Dũng, 2003: “Tối ưu hóa điều kiện PCR và khảo sát sơ bộ
tần suất alen locus TH01. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản
trong khoa học sự sống. Báo cáo khoa học hội nghị toàn
quốc lần thứ hai nghiên cứu cơ bản trong sinh học, nông
nghiệp, y học. Huế, 25-26/7/2003.; trang 952-955.
5. Sambrook J., Fritsch E. F., Maniatis T. (1989),
Molecular cloning 1,2,3, Cold Spring Harbor Laboratory
Press, USA.
6. Shimada I., Brinkmann B., Nguyễn Q.T, Hohoff C.
Allele frequency date for 16 STR loci in the Vietnamese
population. International Journal of legal Medicine 2002.
Short Communication (in press).
7. Westermeier R. (1997), Electrophoresis in Practice,
VCH A Wiley company, Federal Republic of Germany.
8. Technical manual (1999), Geneprint fluorescent STR
systems, Promega.

THE APPLICATION OF PCR TECHNIQUE FOR
THE PRELIMINARY CALCULATION OF ALLELE
FREQUENCY OF LOCUS D7S820 IN VIETNAMESE
POPULATION.

Nghiêm Xuân Dũng, Trần Minh Đôn,
Lương Thị Yến, Lê thị Bích Trâm.

Summary

The genetic variation among inviduals in higher at the
DNA level than at the protein level. Identity testing by

the allele frequency was calculated. Among 64 different
DNA samples, 61 sample had alleles identified in which:

- A highest frequency of 32% was found at allele No 11;
and a lowest frequency was 0,8% found at allele No 7.

- The frequency of allele No 14 hasn’t been observed.

- The percent of heterozygotes and homozygotes are
73,8% and 26,2% respectively.

- In comparison with another distribution of allele
frequency on a group of South-East Asian, this result was
quite equivalent.

Người thẩm định nội dung khoa học: TS. Nguyễn Đức
Thành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status