Ấn chương Việt Nam - KẾT LUẬN doc - Pdf 19

Ấn chương Việt Nam - KẾT LUẬN 1.

Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX gắn bó mật thiết với
Hoàng đế và thiết chế tổ chức hành chính từ trung ương xuống địa phương của các triều
đại phong kiến Việt Nam từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn. Ấn chương biểu thị quyền lực
của Hoàng đế, của chính quyền các cấp, của mọi cơ quan và đơn vị quân đội và mang
tính pháp lệnh quốc gia.

Ngay khi lên ngôi từ Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông đến Gia Long, Minh Mệnh thời Nguyễn
song song với việc ban hành chiếu sắc chính sự là việc ra chỉ dụ chế tác và sử dụng Bảo
Tỷ cùng các loại ấn chương khác. Mỗi một Bảo, Tỷ, Ấn, Chương, Quan phòng, Đồ ký
v.v… đều có cách sử dụng riêng và dùng cho một loại văn thư chỉ định. Các Bảo ấn Chế
cáo chi bảo, Sắc mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo v.v… với chức năng riêng biệt được duy
trì từ đầu thời Lê sơ đến hết thời Nguyễn là điển hình của tính lịch sử kế thừa ấn chương
qua năm triều đại. Bảo ấn Tiên nhu chi bảo dùng đóng trên sắc phong thời Tây Sơn mang
nét đặc thù riêng của Bảo Tỷ Việt Nam. Ngọc Tỷ Đại Nam thiên tử chi tỷ đời Minh
Mệnh dùng đóng trên các văn kiện ban sắc thư cho người nước ngoài, đã vượt ra ngoài
tính chất nội trị mang ý nghĩa trên trường quốc tế. Quốc hiệu “Đại Nam” đã được khắc
trên mặt ấn ngọc biểu thị tư tưởng quốc gia độc lập và ý thức tự hào dân tộc.

Công cuộc cải cách hành chính triều Lê Thánh Tông và triều Minh Mệnh từ trung ương
xuống địa phương đều dẫn đến sự thay đổi về ấn chương. Những cơ quan mới thành lập,
chức năng mới được bổ nhiệm sẽ được ban cấp một loại ấn tín mới; hoặc việc thay đổi
chức vụ cấp bậc của một văn quan hay võ tướng cũng đều có sự thay đối ấn chương, ấn
mới với tên gọi mới sẽ thay thế cho ấn cũ.

Cải cách hành chính ở địa phương cũng là cuộc cải cách ấn chương tại địa phương. Đời
Lê Thánh Tông khi chia đất nước thành 12 đạo Thừa tuyên, đổi chức Lộ An phủ sứ làm

Mỗi hiện vật ấn chương sẽ cho ra đời văn bản Hán Nôm, đây được coi là một văn bản
hoàn thiện và trung thành nhất. Việc phiên chữ Triện ra chữ Chân của Hán tự trong dấu là
thao tác đầu tiên và tất yếu của người nghiên cứu ấn chương. Chữ ở ấn dấu từ thời Lê sơ
đến triều Gia Long thời Nguyễn có nét khắc vuông vức uốn nhiều nét, nên khó phiên giải.
Từ đời Minh Mệnh trở đi, chữ Triện trong dấu nét khắc mềm và ngắn hơn, ở nhiều hình
dấu tự dạng gần như chữ Lệ nên việc phiên giải có thuận lợi.

Việc phiên giải trước hết phải xác định ấn dấu đó thuộc loại hình nào (Bảo Tỷ, ấn hay
Quan phòng…), thuộc tổ chứcnào (lục Bộ, quân đội hay chính quyền địa phương…) và ở
thời kỳ nào (Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn hay Nguyễn). Có những chữ Triện với
nhiều kiểu viết khác nhau ở các loại hình ấn khác nhau, thậm chí cùng trong một loại
hình ấn thực sự đã gây khó khăn trong việc phiên giải. Đơn giản như một chữ ấn (印)
trong dấu cũng có tới vài chục kiểu viết khác nhau. Ở những hình dấu độc lập, công tác
văn bản phiên giải khó hơn dấu in trên văn bản Hán Nôm.

Qua hình dấu ấn có thể xác định ngay được loại hình văn bản là sắc phong, lệnh chỉ hay
văn bản hành chính nào. Dấu Sắc mệnh chi bảo, Tiên nhu chi bảo, Phong tặng chi bảo
khẳng định ngay văn bản đó là sắc phong. Dấu Bình An vương tỷ cùng dấu Ngọc Tỷ của
các chúa Trịnh khác hay dấu Hoàng thái tử thủ tín cho ta biết đó là các bản Lệnh chỉ.
Những dấu chính quyền các cấp thường là các văn bản hành chính thuộc dạng văn thư
ngoại gửi về Kinh hoặc chuyển ngang. Những dấu của Nội các hay lục Bộ thể hiện văn
bản hành chính thuộc dạng văn thư nội gửi xuống chính quyền các cấp hay trực Ty để
tuân nhận.

Nếu trên văn bản có hình dấu ấn, Chương hoặc Tín chương in ở dưới chữ “Nhật” hoặc
dưới bên phải dòng ghi niên hiệu, thì việc khẳng định đó là văn bản đời Gia Long đến
trước năm 1823 là chính xác. Tất cả những hình dấu ấn, Quan nhòng, Đồ ký đóng trên
mặt chữ “Nguyệt” của dòng niên đại thì chắc chắn là từ giữa đời Minh Mệnh trở về sau.

Qua hình dấu có thể xác định được chữ ghi niên hiệu bị mất, rách. Trường hợp dấu kiềm

3.

Nghiên cứu ấn chương từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX đã tái hiện một cách khái quát
toàn bộ lịch sử, xã hội, văn hóa và những nhân vật lịch sử đương thời.

Nhà Lê sơ bắt đầu sự nghiệp dựng nước từ đời Thái Tổ, Thái Tông và đỉnh cao là đời
Thánh Tông với công cuộc cải cách hành chính quy mô đồng bộ từ trung ương xuống địa
phương, từ lực lượng quân đội đến các cơ quan dân sự. Chế độ tam Sảnh bị bãi bỏ, hệ
thống lục Bộ được hoàn chỉnh và từ đây được nâng cao vai trò giá trị. Lịch sử mở mang
bờ cõi chinh phạt Chiêm Thành còn lưu tích trên sắc phong có dấu Kim Bảo Sắc mệnh
chi bảo. Thắng lợi này đi liền với tên tuổi Lê Thánh Tông cùng các quan tướng như
Trung quân Đô thống Phạm Như Tăng… Những ấn cổ Phụng mệnh tuần phủ đô tướng
quân ấn và Đề thống tướng quân chi ấn đã lưu lại chứng tích về tên chức Tướng quân của
giai đoạn Lê sơ.

Nghiên cứu ba quả ấn thời Mạc Khuông trì vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn, Hoành hải hậu
sở chi ấn và Thanh tái tả sở chi ấn gần như tái hiện phần nào bức tranh về lực lượng quân
đội nhà Mạc cũng như giai đoạn chiến tranh khốc liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Lê -
Mạc.

Từ các bản Lệnh chỉ có in dấu Tỷ ấn của các chúa Trịnh mà bắt đầu bằng Lệnh chỉ của
Bình An vương Trịnh Tùng năm 1599 đến Lệnh chỉ của Đoan Nam vương Trịnh Tông
năm 1785, lịch sử xã hội thời Lê - Trịnh cũng được phơi bày. Những tư liệu này rất có ý
nghĩa trong việc nghiên cứu, đánh giá về sự kiện và nhân vật lịch sử của một thời kỳ mới
trong thể chế phong kiến Việt Nam tồn tại cả Vua và Chúa. Giai đoạn này còn lưu lại đến
nay không ít hình ấn dấu trên các dạng tư liệu hiện vật khác nhau. Đó là hình những dấu
được khắc trên bia đá, ma nhai, biển gỗ, nó đi liền với bút tích của một số nhân vật lịch
sử đương thời.

Thời Tây Sơn tồn tại tuy không lâu nhưng ấn chương giai đoạn này khá phong phú và đa

chính trị của Minh Mệnh đối với các nước lân bang đương thời. Hai dấu Thống đốc tiễu
bộ quân vụ quan phòng của Nguyễn Tri Phương và Tham tán quân vụ quan phòng của
Phạm Thế Hiển, gắn liền với văn bản Hán Nôm ghi về cuộc kháng chiến chống Pháp của
triều đình Huế và nhân dân Nam Bộ thời Tự Đức. Cùng với hai dấu trên, hình dấu Đề đốc
tiễu bổ quân vụ quan phòng của Tôn Thất Hàn đã chứng tỏ trong chiến tranh (thời Tự
Đức) có những chức vụ, cấp bậc về việc binh được đặt ra thêm, hoặc gắn thêm chức cho
một chức đã có sẵn, mà vốn trong quy chế chức vụ, cấp bậc của bộ Binh thời Nguyễn
không thấy ghi.

Nghiên cứu ấn chương thời Nguyễn cũng thấy được việc lập phủ Tôn nhân của các vua
Nguyễn mang màu sắc chính trị rõ nét. Phủ Tôn nhân như một tổ chức riêng với chế độ
ưu đãi đặc biệt. Hàng trăm ấn quý được ban phong cùng cặp sách vàng, bạc cho Hoàng
thái tử, Hoàng tử, Hoàng thân v.v… chưa kể số lượng ấn vàng, bạc của Hoàng thái hậu,
Thái phi.

Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế là đỉnh cao của các loại hình ấn chương thời Nguyễn.
Con người của Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và các vua khác gần như hiện
ra bên cạnh các chỉ dụ và Bảo Tỷ của họ. Những sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam
thời Nguyễn lưu lại trên văn bản Hán Nôm gắn liền với các Bảo Tỷ: Quốc gia tín bảo thời
Gia Long như một khẩu hiệu giương cao tư tưởng quốc gia dân tộc. Hoàng đế chi bảo của
Minh Mệnh đã in trên các sắc thư, văn kiện quan trọng gửi đi nước ngoài. Đại Nam thụ
thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ là sự kiện chế tác có một không hai kéo dài nhiều tháng
trời cuối đời Thiệu Trị. Đại Nam hoàng đế chi tỷ đánh dấu quan điểm chính trị giữa hai
nước Pháp - Việt thời Tự Đức, còn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát được nhắc đến
nhiều lần trong chính sử…

Bức tranh xã hội đời thường thời Nguyễn được tái hiện qua ấn tín tư nhân ở một số lĩnh
vực. Dấu Danh gia tàng thư, Danh gia hội tuyển nhắc ta nhớ tới những dòng văn phái nổi
danh đương thời. Dấu trên đồ gốm, dấu ghi tên hiệu v.v… là bức tranh sinh động của ấn
tín văn hóa nghệ thuật. Ấn dấu của nhiều tiệm buôn ở Hội An, Sài Gòn chứng tỏ xã hội



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status