Ấn chương Việt Nam - Ấn, Đồ ký ở cấp phủ, phân phủ,
huyện, châu
Ngay từ thời Gia Long đến đầu Minh Mệnh đã phân cấp phủ, huyện, châu và đặt các
chức Tri phủ đứng đầu một phủ và Tri huyện quản lãnh một huyện. Thời kỳ này phủ đặt
hai viên Tri phủ, mỗi huyện đặt hai viên Tri huyện gọi là Đông đường và Tây đường.
Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua xuống chỉ chuẩn cho các phủ, huyện, châu đều được
sử dụng ấn bằng đồng. Tới năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) quy định về ấn triện cụ thể hơn:
“ … Phàm các phủ thuộc về Trực lệ[253] ấn bằng đồng, vuông một tấc 6 phân 7 ly, trong
khắc 4 chữ Triện Mỗ phủ ấn. Các huyện thuộc về Trực lệ, ấn bằng đồng vuông 1 tấc 5
phân 3 ly, trong khắc chữ Triện Mỗ huyện ấn. Các phủ thuộc các thành, trấn ấn bằng
đồng vuông 1 tấc 6 phân 2 ly, trong khắc 4 chữ Triện Mỗ phủ ấn. Các huyện, châu thuộc
các thành, trấn ấn bằng đồng vuông 1 tấc 4 phân, trong khắc 4 chữ Triện Mỗ huyện
ấn”[254].
Thời gian này nhà Nguyễn chú ý nhiều đến cấp phủ, huyện châu. Thống kê cả nước có 37
phủ và 127 huyện, châu. Tổng cộng 164 phủ, huyện, châu đều được ban cấp ấn bằng
đồng và kiềm gỗ, có quy định cả về mực đóng dấu và dây đeo ấn của mỗi loại. Đến năm
Minh Mệnh thứ 4 (1823) nhà vua xuống chỉ cho phủ huyện ở các thành, doanh, trấn giảm
một viên Tri phủ ở mỗi phủ và một viên Tri huyện ở mỗi huyện, nên việc sử dụng ấn
triện ở cấp phủ, huyện được ổn định hơn.
Công cuộc cải cách hành chính ở địa phương với việc bãi bỏ cấp thành và các trấn được
đổi làm tỉnh vào năm 1831 - 1832 đã làm thay đổi không ít đến cấp phủ, huyện, châu.
Cấp phân phủ với chức Đồng tri phủ ra đời và được ban cấp ấn Đồ ký. Sử cũ ghi: “Phủ
huyện các địa phương trong đó có phủ rất trọng yếu hay trọng yếu mà thiếu người làm
việc, nơi nào bốn huyện trở lên đặt một viên Đồng tri phủ cấp thêm một phân phủ Đồ ký
bằng đồng và một Kiềm bằng gỗ (Đồ ký dài 1 tấc 4 ly ngang 1 tấc 8 ly, núm vòng tròn,
trong khắc chữ Triện: Mỗ phân phủ đồ ký)”[255].
Đồ ký đồ dùng cho các quan nhỏ ở cấp dưới mới đặt, hoặc đã có nhưng để phân biệt với
Việc thay đổi cấp phủ, phân phủ, huyện, châu thời Nguyễn không chỉ diễn ra một lần, mà
lẻ tẻ qua nhiều đợt khác nhau. Những điểm này chính sử không ghi lại - nhưng trên thực
tế văn bản chữ Hán chúng tôi thấy được qua sự thay đổi khác biệt của dấu ấn. Trong cuốn
Công văn tập xuất hiện hình dấu Quốc Oai phân phủ đồ ký 國威分府圖記 (Đồ ký của
phân phủ Quốc Oai). Dấu hình chữ nhật có cỡ 4,2x6,2cm và đóng ở dòng ghi niên hiệu
ghi năm Minh Mệnh thứ 21 (1840). (H. 185) Như vậy ta gặp lại hình dấu của địa danh Quốc Oai, nhưng không phải là cấp phủ với dấu
ấn vuông như cũ nữa, mà là hình dấu Đồ ký có hình chữ nhật với tên gọi mới ở cấp phân
phủ do chức Đồng Tri phủ quản lãnh.
Theo thống kê đầu thời Minh Mệnh: Cả nước có 127 huyện, châu (sau này có thay đổi
điều chỉnh đôi chút), chắc chắn phải có ít nhất 254 quả ấn, kiềm cấp phát cho tất cả các
Tri huyện, Tri châu, nhưng cho đến nay, những hiện vật này hầu như đã bị chôn vùi. Viện
Bảo tàng Lịch sử Hà Nội may mắn còn giữ lại được 3 quả ấn (trong đó có một kiềm nhỏ)
của hai viên Tri huyện và một quả của chức Huyện thừa.
Quả ấn có ký hiệu LSb 2526 chất liệu bằng đồng cán chuôi vồ, trên to dưới thuôn, cao
6,5cm và dầy 1,5cm. Phần trên ấn khắc hai dòng chữ Hán ở hai bên Minh Mệnh tam niên
và Vũ khố phụng tạo. Mặt dấu hình vuông cỡ 6x6cm, bốn chữ Triện chia hai hàng là 4
chữ An lập huyện ấn 安立縣印 (Ấn của huyện An Lập). Đây là quả ấn của viên Tri
huyện huyện An Lập được xưởng Vũ khố đúc vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). (H. 186
a,b,c,d)
Quyển 1[258], dấu đóng ở đoạn dưới 2 dòng chữ Hán song song ở dưới trang giấy, phía
phải của dòng ghi niên đại Minh Mệnh nhị thập niên ngũ nguyệt nhị thập cửu nhật. Chỗ
giáp trang có dấu kiềm hình vuông cỡ 1,8x1,8cm mặt dấu hình hai chữ Triện Lạc An
樂安 (Huyện Lạc An). Đây là dấu ấn và kiềm của Tri huyện Lạc An đóng vào ngày 29
tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839). (H. 190)
Ở quyển 4[259], chúng tôi lại thấy xuất hiện dấu Lạc An huyện ấn có hình thức tự dạng
giống y như hình dấu trên, nhưng lại đóng ở đoạn chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Tự
Đức nguyên niên thập nguyệt thập ngũ nhật (Ngày 15 tháng 10 năm Tự Đức nguyên niên
[1847]). Bên trái có 2 hình dấu kiềm Lạc An樂安 (H. 191)
Như vậy cùng một con dấu của cùng một chức quan đóng trong cùng một dạng công văn
ở thời điểm gần nhau, lại có sự khác biệt về vị trí hình dấu. Hình dấu ở đời Tự Đức là
hình dấu đóng bình thường đúng theo quy định ở dòng ghi niên hiệu, còn hình dấu đóng
ở đời Minh Mệnh là dấu trong một bản sao từ nguyên bản chính của Tri huyện huyện Lạc
An. Dòng ghi niên đại không có dấu của cấp chủ quản hoặc dấu huyện Lạc An càng
chứng tỏ đây là một bản sao gốc, văn bản chính hoàn thiện đã được gửi đi không nằm
trong tập công văn này.
Công cuộc cải cách của vua Minh Mệnh năm 1827 cũng làm thay đổi bộ mặt ở các vùng
dân tộc thiểu số. Các chức Tuyên úy sứ, Chiêu thảo sứ, Phòng ngự sứ v.v… của thổ quan
miền núi bị xóa bỏ, thay vào đó là những chức quan nói trên, đồng thời với việc ban cấp
ấn triện cho họ. Các chức quan này được sử dụng Đồ ký bằng đồng và Kiềm bằng gỗ,
mặt dấu khắc 4 chữ (Mỗ) thổ huyện đồ ký, (Mỗ) thổ châu đồ ký dùng mực màu tía để
đóng dấu.
Những hiện vật và ngay cả hình dấu trên văn bản của loại Đồ ký này ngày nay không còn