TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Ở bài nghiên cứu này tác giả cho rằng CBFS thường bị bỏ qua trong quá khứ mà đặc
biệt là trong giai đoạn ổn định về tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu lý thuyết và thực
nghiệm gần đây tranh luận rằng các NHTW cần duy trì một mức độ vừa đủ về sức mạnh
tài chính để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và để đạt được các mục tiêu
chính sách tiền tệ cho nên trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung kiểm định mối quan
hệ thực nghiệm giữa CBFS và lạm phát ở các quốc gia mới nổi và các quốc gia phát triển
bằng cách sử dụng dữ liệu bảng không cân đối cho chọn mẫu thử. Và từ đó, họ thấy rằng
có một mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa CBFS và lạm phát. Ngoài ra,
tác giả nhấn mạnh rằng kết quả mà họ đề suất rằng việc tránh tổn thất kéo dài và việc duy
trì sự lành mạnh trong bảng cân đối kế toán của NHTW sẽ trở thành một điều kiện quan
trọng trước tiên cho các kết quả mong muốn từ chính sách của NHTW.
Mục lục
Tóm tắt 1
Giới thiệu 2
1.Tổng quan nghiên cứu trước đây. 5
1.1. Lý thuyết về CBFS. 5
1.2 Mối quan hệ lạm phát và CBFS. 7
1.3 Tổng quan các nghiên cứu 11
1.4 Lựa chọn mẫu. 17
1.5 Các biến và mô hình. 21
1.6 Phương pháp ước lượng 27
2.Các kết quả thực nghiệm và nghiên cứu 36
2.1. Thống kê mô tả và bằng chứng sơ bộ 36
2.2. Mô hình ước lượng 37
3.1. Lựa chọn mẫu 48
3.2. Các biến quan sát 50
3.3. Mô hình 53
3.4. Các kết quả thực nghiệm và thảo luận: 57
3.4.1. Thống kê mô tả và bằng chứng sơ bộ: 57
3.4.2. Mô hình ước lượng 59
o NHTW không quan trọng với nền kinh tế vĩ mô, nó có yếu kém hay không
cũng không ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, trong vòng vài thập niên vừa qua, hệ thống NHTW đã trải qua nhiều thay
đổi quan trọng (Sweidan, 2011). Một mặt, do ngày càng độc lập, NHTW đã có nhiều
quyền lực hơn trong việc ban hành các chính sách. Hơn thế nữa, vai trò của NHTW ngày
nay tập trung nhiều vào các chính sách ổn định vĩ mô, đặc biệt là các mục tiêu ổn định tài
chính (Goodhart,2011). Mặt khác, cũng trong vài thập niên ấy, rất nhiều NHTW đã phải
trải qua những khó khăn tài chính do thất bại nặng nề trong việc điều hành hoạt động và
định giá. Cụ thể, NHTW của các nước mới nổi đã thể hiện sự suy giảm trầm trọng này lên
các bảng cân đối kế toán của họ
2
. Những khó khăn tài chính này đã làm gia tăng các vấn
đề nghiêm trọng liên quan đến việc tiến hành chính sách tiền tệ của NHTW và hiệu quả
của các chính sách này. Đặc biệt, các nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù những thay đổi nhỏ
hay những chuyển biến nhất thời ở trong các điều kiện tài chính của NHTW là không đáng
kể, tuy nhiên những vấn đề tài chính quan trọng khi bị thay đổi sẽ làm suy giảm khả năng
thực hiện chính sách cũng như hạn chế sự chọn lựa các chính sách sẵn có của một NHTW.
2
Ở châu Mỹ Latinh, châu Á, châu Phi, Đông Âu và Trung Âu, NHTW đã phải đối mặt với sự khủng hoảng tài
chính nghiêm trọng (Stella và Lonnberg, 2008). Ngoài ra, nhìn chung thì các nước mới nổi phải đối mặt với những
thiệt hại lớn(Sweidan và Maghyereh, 2006).
3
Quan trọng hơn là điều kiện tài chính yếu kém sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả của các
chính sách mà NHTW đưa ra
3
. (Cukierman, 2008; Stella, 1997,2008)
dụng tại chính quốc gia đó
4
.
Chính vì vậy mà bài nghiên cứu này sẽ tập trung giải quyết 4 câu hỏi sau:
- Có mối quan hệ nào giữa CBFS và việc kiểm soát lạm phát hay không?
-Liệu CBFS có tác động đến toàn bộ việc kiểm soát lạm phát hay không?
-Có gì khác nhau giữa các nước phát triển và các nước mới nổi về mức độ độc
lập của NHTW hay không?
-Chế độ tỷ giá và chính sách tiền tệ khác nhau giữa các quốc gia có ảnh hưởng gì
đến mối quan hệ này hay không?
Nói tóm lại, thông qua 4 câu hỏi này, tác giả sẽ trình bày kết quả thực nghiệm và cho
thấy rằng có một mối quan hệ nghịch biến mạnh mẽ giữa CBFS và lạm phát. Mối liên hệ
giữa CBFS và lạm phát không phải do phát sinh từ nội lực hay từ những đặc điểm không
ai chú ý của một quốc gia. Điều này đã được thể hiện rõ khi tác giả tiến hành sử dụng
nhiều phương pháp ước lượng khác nhau. Kết quả và kết luận về việc nghiên cứu này của
tác giả sẽ giúp ích cho các cơ quan có liên quan và đặc biệt là cho các nhà hoạch định
chính sách kinh tế ở các nước mới nổi trong quá trình hoạch định tốt hơn chính sách tiền tệ
để tiến hành theo đuổi một nhiệm vụ quan trong đó là ổn định giá cả. Đặc biệt, nghiên cứu
của tác giả cho rằng các nhà hoạch định chính sách nên sớm nhận thức sự cần thiết để duy
trì sức khỏe tài chính của bảng cân đối kế toán NHTW cho việc ổn định giá cả lâu dài.
Cuối cùng, tác giả ngụ ý rằng các biện pháp nhằm giảm tổn thất cũng như gia tăng sức
mạnh tài chính của NHTW sẽ giúp giảm lạm phát. 4
Có ý kiến cho rằng các nước mới nổi yêu cầu mô hình riêng biệt vì những vấn đề cơ bản và đặc biệt của
chính mình như là các tổ chức tài chính và các chính sách tài chính yếu kém, sự tín nhiệm thấp đối với các tổ chức
tiền tệ, hồ sơ xấu liên quan đến việc tiến hành các chính sách tiền tệ, dễ bị tổn thương đối với những thay đổi lớn
trong luân chuyển vốn… (Frankel, 2010; Sweidan,2010). Cũng có ý kiến cho rằng các lý thuyết áp dụng cho các
quốc gia tiên tiến, phát triển và có kinh nghiệm sẽ không áp dụng được ở các quốc gia mới nổi vì những vấn đề riêng
đối kế toán
6
. Thứ hai, mặc dù NHTW được đặc quyền tạo ra nợ tiền tệ để đáp ứng các 5
Một số trường hợp, NHTW không thể đáp ứng các chức năng cơ bản của chính mình do khủng hoảng tài
chính yêu cầu họ phải thay đổi chính sách để giảm thiểu tổn thất (Stella and Lonnberg, 2008). Trường hợp xấu nhất,
NHTW Philippines bị lâm vào tình thế bắt buộc giải thể và sau đó, năm 1993, một tổ chức mới, tức Bangko Sentral
ng Philippas (BSP) được thành lập theo “đạo luật NHTW đổi mới 1993”.
6
Khó khăn tài chính có thể phát sinh do một số nguyên nhân như : giảm thuế lạm phát ( thu nhập từ thuế đúc
tiền), tiến hành các hoạt động tiền tệ trong các điều kiện khó khăn, can thiệp vào các hoạt động ngoại hối để quản lý
tỷ giá hối đoái và gia tăng dự trữ ngoại hối, thực hiện các hoạt động tiền tệ dựa vào chứng khoán NHTW, mua một số
6
nghĩa vụ tài chính, từ góc độ kinh tế vĩ mô, có thể không đáng tin cậy khi phát hành tiền
không giới hạn giống như thanh khoản quá mức gây ra các căn bệnh kinh tế vĩ mô bao
gồm tăng trưởng nóng và áp lực lạm phát Vì vậy, tiền in ấn đem tài trợ cho những tổn
thất của NHTW là mâu thuẫn với các mục tiêu của chính sách tiền tệ (Sweidan, 2011).
Thứ ba, cục ngân khố hậu thuẫn có thể không phù hợp hoặc không phải một giải pháp
đáng tin cậy. Một mặt, cục ngân khố không can thiệp thường xuyên , hay nói cách khác là
không đúng thời điểm (Stella and Lonnberg, 2008)
7
. Mặt khác, sự giúp đỡ của chính phủ
(trong các hình thức tái cấp vốn) có thể không phù hợp khi nó liên quan đến việc chuyển
giao nguồn lực tài chính cho NHTW (Stella, 1997). Cuối cùng, mặc dù NHTW không phải
là một tổ chức hoạt động vì lợi nhuận, nhưng nó không thể thua lỗ liên tục vì sẽ ảnh hưởng
đến hiệu quả và sự liên tục các chính sách của NHTW (Sweidan, 2011). Nói cách khác
NHTW đòi hỏi phải có một mức độ tài chính nhất định để cam kết các chính sách mục tiêu
yếu tố quan trọng quyết định giá trị ròng của NHTW
8
. Hơn nữa, để xác định chính xác
CBFS cần chú ý đến hoạt động của NHTW đặc biệt là khi tài khoản không minh bạch.
Cho mục đích này, ‘các khoản mục ròng khác’ (OIN) trên bảng cân đối kế toán của
NHTW cho thấy bức tranh phù hợp hơn (Stella, 2008). OIN là mục còn lại sau khi tính
đến các mục tài sản ( tài sản nước ngoài , các khoản quyết toán của NHTW, các khoản
quyết toán của chính phủ, quyết toán của tổ chức tài chính , và các khoản quyết toán của
khu vực tư nhân , vv), và các mục tránh nhiệm pháp lý ( tiền dự trữ , nợ nước ngoài , tiền
gửi chính phủ, chứng khoán của nhà chức trách tiền tệ , vv.). Do đó, OIN bao gồm tài
khoản đánh giá lại , giá trị ròng , vốn đầu tư ban đầu , dự trữ và tài sản hữu hình , và do đó,
gồm các tài khoản phản ánh các khoản lỗ lũy kế hoặc dự trữ 'ẩn' . Mặc dù có những tranh
luận rằng OIN gồm những đặc điểm riêng nên không thể so sánh giữa các quốc gia, nhưng
chúng ta vẫn mong muốn sử dụng nó vì nó bao gồm những thay đổi định giá và dự trữ,
được sử dụng như một chứng khoán đệm để bảo vệ nguồn vốn NHTW(Adler và cộng sự
2012). Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ tiếp tục thảo luận về OIN dựa trên những đo lường
CBFS với lợi nhuận.
1.2. Mối quan hệ lạm phát và CBFS.
Việc đạt được mức lạm phát thấp (liên tục ở mức thấp nhưng là mức lạm phát tích
cực), nghĩa là ổn định giá cả, được xem như mục tiêu đầu tiên của chính sách tiền tệ và do 8
Ví dụ, Cargill( 2006) lập luận rằng có thể coi là định chế tài chính vững mạnh nếu nó kiểm soát các hoạt
động hiện tại và tương lai không bị thua lỗ. Ngoài ra, Ize (2007) phân loại NHTW yếu hay mạnh tùy thuộc vào cấu
trúc lợi nhuận (lợi nhuận, định giá tạm thời thu nhập ròng và lỗ ròng)
8
đó lạm phát cao sẽ là một dấu hiệu rõ ràng cho sự thất bại của chính sách này. Dù vậy, lạm
phát cao lại là một nhân tố làm gia tăng doanh thu của NHTW thông qua thu nhập từ thuế
một vấn đề cơ bản hơn, nghĩa là sự bất lực của chính phủ trong việc tự tài trợ một cách bền
vững. Trong bối cảnh này, Klüh and Stella (2008) tranh luận rằng mối quan hệ thực
nghiệm giữa CBFS và hiệu quả chính sách có thể chỉ là giả mạo vì chúng sẽ chỉ đơn thuần
phản ánh sự tương quan giữa nguyên nhân thực tế gây ra lạm phát và CBFS.
Tuy nhiên, một thử nghiệm gần hơn cho thấy có một mối liên kết mạnh mẽ giữa
CBFS và kết quả kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát. Về mặt lý thuyết, đang cố gắng liên
kết CBFS với hiệu quả chính sách, thì hữu ích trong việc xác định quan hệ này. Với kết
quả đó, qua việc thảo luận các kênh lý thuyết, Klüh and Stella (2008) lần đầu tiên tóm tắt
những cách thức mà một NHTW thua lỗ đang có thể sử dụng khi cục ngân khố không
bơm vốn vào. Lựa chọn đầu tiên, một NHTW có thể dựa vào những phương pháp có
khuynh hướng hạ chi phí của hoạt động tiền tệ. Ví dụ, các NHTW có thể dựa vào tỷ lệ dự
trữ bắt buộc tối thiểu hơn là các công cụ và hoạt động tiền tệ và nó sẽ tương đồng với việc
thích ứng các chính sách áp chế tài chính. Một lựa chọn thứ hai là sử dụng khả năng tạo ra
tiền của NHTW nhằm chi trả cho các nghĩa vụ. Dù vậy, nếu việc tạo ra thanh khoản dư
thừa thông qua in tiền như vậy không được khử sạch , lãi suất trên thị trường tiền tệ sẽ
giảm và kích thích áp lực lạm phát tăng thêm. Hơn thế, xét ngược lại, nếu NHTW hút vào
thanh khoản thừa tổng thể bằng cách phát hành các chứng chỉ nợ, nó sẽ phải gánh chi phí
lãi suất tăng thêm và tiềm tàng sự thua lỗ nhiều hơn. Cho nên các cản trở về mặt tài chính
của NHTW có tiềm năng làm giảm sự gay gắt của các chính sách chống lạm phát và cũng
làm giảm độc lập tài chính của NHTW, gây nên rủi ro lớn hơn khi can thiệp vào chính
sách tiền tệ.
Tổng hợp lại, những tranh luận của Klüh and Stella (2008) đã ủng hộ cho quan điểm
một NHTW có tình hình tài chính yếu sẽ phải đối mặt với những khó khăn trong việc đạt
được cân bằng lạm phát thấp thông qua thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả. Tương tự,
Sweidan and Kalaji (2005) tranh luận cách thức chính sách tiền tệ trở nên không hiệu quả
khi NHTW thua lỗ hoạt động lớn trong quá trình hoạt động và giới hạn khả năng bù đắp
10
một cú sốc tổng cầu. Sims (2005) cũng tranh luận rằng mối quan tâm về mức độ nguồn
vốn của NHTW có thể dẫn đến cân bằng siêu lạm phát tự thực hiện. Điều này xảy ra khi
NHTW mạnh về tài chính.
11
biến giữa CBFS và hậu quả lạm phát. Tuy nhiên, nghiên cứu của họ còn vài hạn chế, đặc
biệt là hạn chế về mặt kiểm tra và số liệu cho một mẫu thử lớn của các quốc gia, buộc họ
phải phục thuộc vào dữ liệu ở các vùng ven. Cũng còn các vấn đề tồn đọng về tính hợp lý
trong phương pháp ước lượng của họ.
Tổng hợp lại, nhằm kiểm định thực nghiệm mối quan hệ nghịch biến giữa CBFS và
lạm phát, nghiên cứu của các tác giả đã tập trung vào ba khía cạnh đặc biệt. Đầu tiên, tác
giả kiểm chứng mối quan hệ giữa CBFS và kết quả lạm phát bằng cách sử dụng một bộ dữ
liệu mảng cho mẫu thử của các quốc gia được lựa chọn. Họ cũng tiến hành ước lượng các
mẫu thử phân tán dựa trên các phân loại khác nhau, xem xét mức độ phát triển, mức độ
độc lập của NHTW, chế độ chính sách tiền tệ được áp dụng cũng như sự điều hành tỷ giá
hối đoái. Thứ hai, nghiên cứu này sẽ tìm kiếm các định thức quan trọng và sâu hơn về lạm
phát. Thứ ba, các tác giả đã vận dụng hầu hết các phương pháp xác định phù hợp nhằm
thiết lập mối liên kết mạnh mẽ giữa CBFS và lạm phát.
1.3. Tổng quan các nghiên cứu
Nhóm chúng tôi đã tìm ra được khoảng 20 Papers (bài đầy đủ) của nhiều tác giả
khác nhau nói về những nội dung liên quan đến bài nghiên cứu về sức mạnh tài chính của
NHTW. Sau đây chúng tôi xin tóm tắt lại 1 số paper điển hình được sắp xếp theo năm như
sau:
Năm 1997, Peter Stella trong bài nghiên cứu “Do Central Banks Need Capital” –“Tại sao
Ngân hàng Trung ương lại cần vốn” đã đề cập rằng Ngân hàng trung ương các nước
thường xuyên phải đối mặt với sự thất thoát điều này gây cản trở cho sự kiểm soát hiệu
quả của chính sách tiền tệ. Tài liệu này đề cập đến khái niêm “Nguồn vốn ngân hàng trung
ương” và những điều kiện cần thiết mà ngân hàng trung ương cần để cấu trúc tài chính.
Mặc dù nguồn vốn ngân hàng trung ương như là quy ước xác nhận nhưng những ngân
hàng trung ương yếu kém luôn dẫn tới thất thoát, và tình trạng mất giá như một chính sách
đầu tiên, một sự suy tàn trong hệ thống ngân hàng trung ương và các chính sách trong hệ
Trong bài nghiên cứu tác giả xem xét lại các lý thuyết kinh tế khác nhau trong mối quan
hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GDP. Các lý thuyết về cung trong kinh tế cổ điển nhấn
mạnh nhu cầu cho người tiêu dùng để tiết kiệm và đầu tư nếu nền kinh tế quốc gia phát
triển. Học thuyết của Keynes cung cấp mối quan hệ cung cầu, một mô hình toàn diện hơn
liên kết lạm phát với sự tăng trưởng. Các trường phái tiền tệ cũng nhấn mạnh về vai trò
của tăng trưởng tiền tệ để xác định lạm phát.
Bài nghiên cứu cũng tìm hiểu các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng mối tương quan
nghịch yếu tồn tại giữa lạm phát và tăng trưởng GDP, trong khi luôn có sự thay đổi
khoảng cách về đầu cơ của các nhà đầu tư. Tác động giữa 2 biến lạm phát và tăng trưởng
GDP đi theo một chiều hướng từ tăng trưởng GDP đến lạm phát.
Lạm phát có thể dẫn đến sự không chắc chắn về lợi nhuận tương lai của các dự án đầu tư
(đặc biệt là khi lạm phát cao sẽ dẫn đến sự tăng giá. Lạm phát cũng có thể cắt giảm lợi thế
cạnh tranh quốc tế của các quốc gia bằng cách làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt hơn
do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán. Hơn nữa lạm phát có thể tương tác với hệ thống
thuế để ảnh hưởng đến các quyết định vay và mượn. Các công ty có thể phải đánh đổi
nhiều nguồn lực để tác động đến lạm phát. Ví dụ, cảnh giác hơn với trong việc điều chỉnh
giá của các đối thủ cạnh tranh để thấy rằng nếu có một sự tăng trưởng trong một phần của
xu hướng lạm phát trong nền kinh tế hoặc tác động của nên công nghiệp sản xuất. Mục
đích nghiên cứu ý nghĩa liên kết giữa lạm phát và tăng trưởng GDP. Một vài bài luận cung
cấp một vài sự thật thầm kín bổ ích trong ảnh hưởng của lạm phát lên tăng trưởng. Ưu tiên
của lạm phát Fiji trở nên quan trọng, ảnh hưởng đến các yếu tố nội địa ( giá lao động và
phạm vi khoảng cách sản lượng) bị hạn chế.
Năm 2005, Sweidan, Osama và Fadwa Kalaji trong bài nghiên cứu “The central bank
cost constraint and output−inflation variability: a note on Cecchetti and Ehrmann 2000”-
“Hạn chế chi phí ngân hàng trung ương và sự biến động đầu ra lạm phát: Một lưu ý đối
với mô hình của Cecchetti và Ehrmann 2000” đã mở rộng mô hình của Cecchetti và
Ehrmann 2000 để nghiên cứu trường hợp của các nước đang phát triển hạn chế trong việc
14
Strength and Policy Performance: An Econometric Evaluation” – “Sức mạnh tài chính
của Ngân hàng Trung ương và hiệu quả thực hiện các chính sách: Một đánh giá về kinh
tế lượng” đã phát hiện rằng thực sự có một mối quan hệ nghịch biến giữa sức mạnh tài
chính ngân hàng trung ương và kết quả lạm phát. Bằng việc sử dụng một tập dữ liệu bảng
(Panel data – mô hình GMM) bao gồm 15 quốc gia ở khu vực Mỹ Latinh và vùng
Caribbean trong giai đoạn 1987-2005. Đặc biệt, tăng ổn định giá cả đôi khi đi kèm với sự
gián đoạn lớn trong lĩnh vực tài chính, với giả định ngân hàng trung ương có một lượng
lớn tài sản không minh bạch, tiếp tục làm suy yếu cấu trúc bảng cân đối kế toán của họ.
Kết quả kinh tế phù hợp với trường hợp bằng chứng nghiên cứu và cho rằng tài chính ngân
hàng trung ương yếu có thể thực sự tác động tiêu cực đến khả năng các nhà hoạch định
chính sách đối phó hiệu quả với áp lực lạm phát . Các nhà hoạch định chính sách trong
nước hiện đang đối mặt với những khoản lỗ liên tục của ngân hàng trung ương , điều này
có nghĩa rằng những nỗ lực để mang khả năng tài chính ngân hàng trung ương trở lại trên
một cơ sở an toàn có thể sẽ có chi phí tài chính mà thường đi kèm với nỗ lực tái cơ cấu
vốn ngân hàng trung ương. Hơn nữa, các nghiên cứu trong tương lai sẽ phải gỡ rối tốt hơn
các cấu trúc phức tạp của nguyên nhân và hiệu ứng chủ yếu là do thiếu sự độc lập
của ngân hàng trung ương, khả năng kết hợp với sự chi phối tài chính dẫn đến CBFS thấp,
hay CBFS bản thân là một trong những yếu tố quyết định quan trọng về chính trị và độc
lập kinh tế.
Năm 2009 – 2010, Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Zouhair Chrigui, Younes
Boujelbene và Ghrissi Mhamdi, “Central Bank Independent and Inflation” về “Sự độc lập
ngân hàng trung ương và lạm phát: Bằng chứng từ các nước mới nổi”. Bài nghiên cứu đo
lường các chỉ số về sự độc lập trên pháp lý và trong thực tế của Ngân hàng Trung ương
thông qua việc áp dụng phương pháp Cukierman (1992) và Jacome (2001). Tác giả thực
hiện một phân tích mô tả và so sánh lạm phát tương đối cho các nước Maghreb được thiết
kế để kiểm tra sự giảm xu hướng lạm phát. Tuy nhiên, đóng góp thực sự là nghiên cứu về
mối tương quan giữa sự độc lập thực tế và xu hướng lạm phát, được thực hiện trên một
16
mẫu các nước mới nổi với một ước tính bảng trong giai đoạn 1971-2004. Sự độc lập Ngân
thống và phương pháp đo lường mở rộng hơn ở phạm vi toàn cầu hóa nền kinh tế (chỉ số
KOF). Bằng cách sử dụng mô hình pooled OLS, Fixed effects model (FEM), random
effects modle (REM) cùng với kiểm định Chow and Hausman tác giả đã thấy rằng: Với
cách đo lường truyền thống hai nhóm nước và hai giai đoạn chỉ ra rằng có một mối tương
quan dương đáng kể giữa mở của thương mại và lạm phát, điều này là mâu thuẫn với giả
thuyết Romer (1993). Tuy nhiên , kết quả ước lương khi dùng chỉ số KOF lại phát hiên ra
rằng toàn cầu hóa kinh tế hơn sẽ làm giảm lạm phát, điều này thì giống với giả thuyết
được chỉ ra bởi Romer (1993).
Phương pháp thực nghiệm.
1.4. Lựa chọn mẫu.
Tác giả sử dụng các dữ liệu hằng năm cho một nhóm các quốc gia được lựa chọn cho
quá trình phân tích thực nghiệm. Việc lựa chọn các quốc gia mẫu và thời kì mẫu phụ thuộc
vào tính chất sẵn có cũng như tính chắc chắn và so sánh được của dữ liệu. Mẫu không
đồng nhất bao gồm các quốc gia phát triển (Úc, Đức, New Zealand, Singapore, Hàn Quốc
và Mỹ), các quốc gia mới nổi đến từ Châu Mỹ Latinh (Argentina, Brazil, Chile và
Mexico); các quốc gia Đông Á (Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan) và các quốc
gia Nam Á (Ấn Độ, Nepal, Pakistan và Sri Lanka). Tác giả phân loại những đất nước này
đều dựa theo một số các điều kiện sau:
a) Dựa vào mức độ độc lập của NHTW (CBI), như Các quốc gia có CBI
thấp (Argentina, Brazil, Chile, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Hàn Quốc, Sri Lanka và
Thái Lan); các quốc gia có CBI cao (Úc, Đức, New Zealand, Singapore, Mỹ,
Mexico, Indonesia, Malaysia, Philippines và Anh)
10
.
b) Cách thức quản lý việc thực hiện chính sách tiền tệ, chẳng hạn như các
quốc gia có chính sách tiền tệ định hướng lạm phát (Úc, Đức, New Zealand, 10
Sự phân loại dựa trên tỷ lệ thay đổi người đứng đầu NHTW (TOR), chẳng hạn báo cáo TOR trung bình của
o Philippines
o Indonesia
o Thái Lan
o Malaysia
o Ấn Độ
o Nepal
o Pakistan
o Sri Lanka.
Table 2: Bảng tóm tắt phân loại các quốc gia mẫu theo chỉ tiêu cụ thể:
Mức độ độc lập
của NHTW
CBI
thấp
CBI
cao
Argentina, Brazil, Chile, Ấn Độ,
Nepal, Pakistan, Hàn Quốc, Sri
Lanka và Thái Lan
Úc, Đức, New Zealand, Singapore,
Mỹ, Mexico, Indonesia, Malaysia,
Philippines và Anh
Chính sách tiền tệ
Định hướng
khi tác giả sử dụng dữ liệu hằng năm, các dữ này có thể bị ảnh hưởng bởi tính tuần hoàn
và không ổn định. Một vài nghiên cứu (Ví dụ: Beck và Levine, 2004; Beck và các cộng
sự., 2000; Bobba và Coviello, 2007; Falk, 2006; Levine và các cộng sự., 2000; Rioja và
Valev, 2004 và một số tác giá khác) sử dụng chu kì trung bình 5 năm trong khi đó một
nghiên cứu khác (Juhn và cộng sự 1993) sử dụng chu kì trung bình 3 năm. Không những
thế, một nghiên cứu (Devarajan và các cộng sự. (1996)) đề xuất tầm quan trọng của việc
sử dụng trung bình di động để tăng chuỗi thời gian quan sát trong bảng dữ liệu.
Table 3: Cách xử các lý biến theo thời gian
Tác giả
Cách xử lý biến
Nguyên nhân chọn
Beck và Levine, 2004; Beck và các cộng
sự., 2000; Bobba và Coviello, 2007; Falk,
Chu kì trung bình 5 năm
11
Việc mở rộng bảng cân đối kế toán có thể được quan sát bắt đầu từ năm 2009 và do đó, một ảnh hưởng khá
lớn không được xem xét đối với năm 2008. Cùng thời điểm hiện tại, mặt dù tác giả đã nghiên cứu mô hình gồm cả
năm 2008, nhưng một sự khác biệt trọng yếu đã không được tìm thấy. Tuy nhiên, một tranh cãi rằng thời kì sau năm
2008 thì nhiều điểm chú ý hơn với sự quan tâm đến CBFS và tập trung nhiều hơn vào nhu cầu được thay thế trong
thời kì hậu khủng hoảng (the post – crisis).
20
2006; Levine và các cộng sự., 2000; Rioja
và Valev, 2004
Juhn và cộng sự 1993
Chu kì trung bình 3 năm
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF; các chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới WB; dữ liệu của
Bankscope Bureau van Dijk và từ các NHTW tương ứng. Dữ liệu cho CBI (tỷ lệ thay đổi
người đứng đầu NHTW) vẫn được sử dụng trực tiếp từ Dreher và đồng sự. (2008). 12
Tác giả cảm ơn các tác giả đã đề xuất sử dụng các ước lượng trung bình để thu được các ảnh hưởng từ trung
đến dài hạn; các ảnh hưởng bên ngoài chu kì và sự chuyển động cùng chiều.
21
1.5. Các biến và mô hình.
Để đánh giá thực nghiệm mối quan hệ giữa CBFS và lạm phát, đầu tiên tác giả làm
rõ mô hình hồi quy 2 biến và áp dụng một mô hình mở rộng bao gồm hàng loạt các biến
kiểm soát. Các biến phụ thuộc là logorit tự nhiên của tỷ lệ lạm phát thực (CPI_INF) được
đo lường bởi biến động chỉ số giá tiêu dùng hàng năm
13
. Điều này gây nên tranh cãi rằng
việc sử dụng tỷ lệ lạm phát thực có thể tạo ra các phương sai khác nhau bởi vì sự hiện diện
của các yếu tố lạm phát cao từ bên ngoài. Do đó, các cuộc thực nghiệm trước đây, ví dụ
như của: Chrigui và cộng sự (2011), Cukierman và cộng sự (1992) và Klüh and Stella
(2008) giới thiệu một thước đo hiệu chỉnh cho tỷ lệ lạm phát. Thước đo này bằng tỷ lệ lạm
phát thực chia cho một cộng tỷ lệ lạm phát thực tăng thêm, dao động từ 0 – 1, nó có thể
hiểu là tỷ lệ sụt giảm sức mua. Tác giả ước lượng mô hình sử dụng các tỷ lệ lạm phát được
hiệu chỉnh này, tuy nhiên tác giả lại không thấy bất kỳ độ lệch đáng kể nào từ kết quả tỷ lệ
lạm phát thực. Do đó, tác giả tin tưởng vào tỷ lệ lạm phát thực hơn là thước đo hiệu chỉnh
cho lạm phát. Phương pháp của tác giả gần giống với cách tiếp cận đã sử dụng trong
nghiên cứu thực nghiệm ban đầu, ví dụ, Aisen and Veiga (2006) kiểm định mối quan hệ
giữa bất ổn chính trị và lạm phát trong khuôn khổ dữ liệu bảng.
Ngay từ đầu, tác giả đã kiểm chứng 4 thước đo khác nhau của CBFS được đề xuất
bởi Klüh and Stella (2008) với quan điểm để lựa chọn ra sự ủy quyền thích hợp cho biến
Trong đó, CBFS
2,t
là thước đo chứng khoán của CBFS, được biểu diễn bằng tổng của
nguồn vốn NHTW (CBC
i
) và các khoản thu nhập ròng khác (OIN
i
) được đo bằng tổng tài
sản của NHTW (TA
i
). Thước đo này có thể được tính toán bằng cách sử dụng dữ liệu IMF
– IFS. Nói chung, các quốc gia có tỷ lệ vốn NHTW và OIN trên tổng tài sản vượt quá 20%
được xác định là có CBFS cao (Cargill, 2005; Klüh and Stella, 2008). Một thước đo
lường khác của CBFS là CBFS
3,t
được xác định dựa trên lãi và lỗ của NHTW (CBPL
i
)
bằng phần trăm GDP, nó được thể hiện trong phương trình (2).
(2)
thước đo thích hợp cho mô hình thực nghiệm. Để khắc phục khó khăn này, bằng cách làm
theo các nghiên cứu trước đó, ví dụ như Adler và cộng sự (2012), Cargill (2005) và Klũh
and Stella (2008), và cũng xem xét các vấn đề so sánh, tác giả dựa vào “thước đo dựa trên
vốn và OIN” - CBFS
2,t
là đại diện chính cho CBFS. Thước đo này có thể không nắm bắt
đầy đủ các chi tiết tỉ mỉ của CBFS, tuy nhiên nó được dựa trên dữ liệu chuẩn của IMF-IFS,
rất thường xuyên được cung cấp rộng rãi (trên cơ sở hàng tháng) và do đó nó đảm bảo tính
23
so sánh được giữa các quốc gia (Adler và cộng sự, 2012). Vấn đề nội sinh cũng được nhận
diện khi sử dụng thước đo CBFS. Đó là, áp lực lạm phát bản thân nó có thể gây ra suy yếu
tài chính bằng cách buộc các NHTW thực hiện các biện pháp ổn định tốn kém và do đó,
thước đo đương thời của CBFS sẽ không phải là một tiêu chuẩn thích hợp vì các mô hình
có thể bị ràng buộc bởi các vấn đề nội sinh tiềm tàng. Vì vậy, theo nghiên cứu tương tự
của CBFS, ví dụ Adler và cộng sự (2012) và Klüh và Stella (2008), tác giả sử dụng thước
đo trễ 1 năm (t - 1) của CBFS.
Trước khi tiến hành phân tích thực nghiệm chính thức, tác giả kiểm tra một số bằng
chứng sơ bộ. Đặc biệt, tác giả làm theo cách tiếp cận của Crosby (1998), Cukierman và
cộng sự (1993) và Chrigui và cộng sự (2011) kiểm tra các mối quan hệ giữa CBI và các
biến kinh tế vĩ mô có chọn lọc và cũng có một số nghiên cứu khám phá mối quan hệ giữa
các biến kinh tế vĩ mô (ví dụ, Neyapti và Dinçer 2005; Romer 1993, và những người
khác). Như vậy, đầu tiên chúng ta xem xét hệ số tương quan được hỗ trợ bởi các minh
chứng đồ thị (không được báo cáo) để tìm ra mối quan hệ giữa CBFS và lạm phát. Sau đó,
tác giả kiểm tra tính đúng đắn của bằng chứng sơ bộ trong bối cảnh thực nghiệm bằng
cách sử dụng phương pháp ước lượng và kiểm soát phù hợp trong khi giải thích cho tính
không đồng nhất giữa các quốc gia thông qua một phân tích mẫu con.
Tác giả bắt đầu với một mô hình các yếu tố kỹ thuật hai biến-cơ sở , trong mô hình
này các đại diện cho CBFS chỉ đóng vai trò như các biến giải thích. Mô hình lý thuyết này
được đưa ra trong phương trình. (4):