Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
Dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc là
một trong những nội dung tư tưởng cơ bản trong toàn bộ hệ
thống tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. 1. Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc trong thời đại Hồ
Chí Minh có thể nói trước hết là v
ấn đề dân tộc thuộc địa với nội
dung cơ bản là giải phóng dân tộc. Kế thừa tư tưởng của V.I.Lê
Nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, rằng chỉ có chế độ Xô Viết
mới có thể đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc và thật sự
đoàn kết tất cả những người vô sản, quần chúng lao động trong
cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Ngay từ năm 1923,
Nguyễn ái Quốc đã rút ra kết luận quan trọng mang tính định
hướng cho tư tưởng chỉ đạo của Người khi trực tiếp về nước
lãnh đạo cách mạng Việt Nam: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô
sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này
chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản”.(1)
Với tư tưởng định hướng và nhất quán đó trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
thực dân, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh đã
chỉ cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ mục tiêu của cách mạng
nước ta nội dung cốt yếu của vấn đề dân tộc - quốc gia. Vấn đề
dân tộc, trước hết và thiết yếu của toàn thể quốc gia là dân tộc
độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không có ách thống trị
của ngoại bang; một dân tộc, một đất nước do người Việt Nam
làm chủ, lãnh đạo và điều hành vì tự do và hạnh phúc của toàn
thể đại gia đình các dân tộc. Để thực hiện mục tiêu cao cả đó,
Hồ Chí Minh đã kêu gọi và tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn
của dân tộc Việt Nam luôn gắn bó đồng tâm đồng lòng chống
giặc ngoại xâm, chống thiên tai địch hoạ Tư tưởng về một
quốc gia đa dân tộc với truyền thống đoàn kết trong một cộng
đồng thống nhất tạo nên một sức mạnh vô song để vượt qua các
cơn phong ba, những lúc nguy nan của đất nước. Tư tưởng đó
của Người thể hiện nhận thức phù hợp với thực tiễn khách quan
của lịch sử dân tộc ta đã trải qua thử thách qua hàng ngàn năm.
Đó là “tài sản vô giá” để phát huy trong thời đại của cách mạng
vô sản, Người viết: “Đồng bào các dân tộc không phân biệt lớn
nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ
như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung,
xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho tất cả các dân tộc được hạnh
phúc, ấm no”. (2)
Không chỉ kế thừa, mà ở Người “tài sản lịch sử vô giá” đó
đã được phát huy thành một sức mạnh tinh thần và vật chất to
lớn, để đánh tan mọi âm mưu xâm lư
ợc của các thế lực thực dân,
đế quốc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người đã chỉ
rõ: “Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) có hàng chục
triệu hội viên, gồm đủ các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh,
gồm đủ các dân tộc Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán. Trong Việt
Minh đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai,
gái, già, trẻ, lương, giáo, giàu nghèo”(3).
Tư tưởng về một nước Việt Nam thống nhất của Hồ Chí
Minh còn được biểu hiện sinh động trên nhiều phương diện
trong các lĩnh vực hoạt động cách mạng. Nước Việt Nam là
quốc gia thống nhất không chỉ sự thống nhất của các cộng đồng
hàng mấy chục dân tộc mà còn là sự thống nhất về lãnh thổ,
giữa các vùng miền của đất nước “Nước Việt Nam là một, dân
tộc Việt Nam là một”. Khi miền Bắc trên con đường xây dựng
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin về vấn
đề dân tộc vào thực tiễn tình hình và yêu cầu cụ thể của cách
mạng Việt Nam, thấu hiểu sâu sắc tình hình, truyền thống lịch
sử văn hóa của các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ đã đề ra nguyên
tắc cơ bản và có thể nói cũng là thể hiện quan điểm tư tưởng
mang tính nền tảng của Người về công tác dân tộc ở nước ta:
đoàn kết, bình đẳng, tương trợ.
Nói đến công tác dân tộc là phải nói đến nguyên tắc đoàn
kết. Đoàn kết là truyền thống lịch sử vốn có của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, Người trân trọng và coi đó là truyền thống
quý báu, là cái làm nên sức mạnh của dân tộc. Đoàn kết không
chỉ là vì các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã
hội mà đoàn kết các dân tộc còn là vì dân tộc ta trong cách mạng
dân tộc, dân chủ luôn đứng trước những thử thách lớn lao của
lịch sử và ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước với đầy những thách thức mới mẻ về quản lý kinh tế, quản
lý ss, giữ gìn và củng cố an ninh quốc phòng. Thực tiễn cách
mạng nước ta đã chứng minh sức mạnh vô song của khối đại
đoàn kết các dân tộc.
Nói đến công tác dân tộc, là phải thấu hiểu và thực hiện
nguyên tắc bình đẳng. Các dân tộc trong cộng đồng quốc gia
Việt Nam đều bình đẳng với nhau về nghĩa vụ và quyền lợi
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất
nước. Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,
Hiến pháp năm 1946 đã công bố quyền bình đẳng trước pháp
luật của mọi công dân, không kể là dân tộc đa số hay thiểu số:
“Đất nước Việt Nam là khối thống nhất Trung Nam Bắc không
thể phân chia” (Điều 2). Và “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi,
những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để
phát triển kinh tế - xã hội, việc rút ngắn khoảng cách giữa các
vùng, các dân tộc không chỉ gặp khó khăn mà còn sẽ mất một
khoảng thời gian dài
Tư tưởng đoàn kết, bình đẳng, tương trợ của Hồ Chí Minh
là nền tảng tư tưởng để Đảng ta hoạch định và thực hiện chính
sách dân tộc. Người luôn nhắc nhở và yêu cầu các cấp uỷ Đảng,
chính quyền phải khắc phục tư tưởng “dân tộc lớn, dân tộc hẹp
hòi, tự ti dân tộc” phấn đấu và đặt lợi ích cộng đồng, quốc gia
lên trên hết. Đó cũng chính là yếu tố đoàn kết, yếu tố tạo nên sự
bình đẳng và giúp đỡ tương trợ nhau trong cộng đồng các dân
tộc.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc trong thời
kỳ hoà bình, xây dựng đất nước với mục tiêu là làm cho đồng
bào các dân tộc được no ấm, được học hành và phát triển toàn
diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tư tưởng đó của
Người được thể hiện qua những luận điểm sau:
- Người đánh giá đúng vị trí, tầm quan trọng, tiềm năng to
lớn của miền núi và các dân tộc nước ta trong sự nghiệp cách
mạng: “Miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với
quốc phòng, đối với kinh tế”(5 ) . Người đánh giá cao bản lĩnh,
tính thật thà, chất phác, trọng lẽ phải của đồng bào các dân tộc:
“Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì
đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được”(6).
Từ đánh giá đúng vai trò của miền núi và vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, làm cơ sở để đề ra chiến lược và mục tiêu phù
hợp với nhiệm vụ cách mạng cụ thể trong từng thời kỳ. Tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ III năm1960, Người đã chỉ rõ: “Vì
sự phát triển không đồng đều trong lịch sử, nên giữa miền xuôi
và miền núi, giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số tồn tại những
sự chênh lệnh về trình độ kinh tế - văn hóa. Riêng ở miền núi,
tế - xã hội của vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu
số. Người nói: “Các cơ quan Trung ương phải có kế hoạch đẩy
mạnh phong trào miền núi lên về kinh tế cũng như về văn hóa,
tất cả các mặt”(10). Trách nhiệm thực hiện công tác dân tộc là
của mọi ngành, mọi cấp, chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của
một cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc. Cán bộ công tác
dân tộc, nhất là những người trực tiếp làm việc ở miền núi, vùng
đồng bào dân tộc phải am hiểu phong tục, tập quán, nắm được
tâm tư nguyện vọng của đồng bào “nghe dân nói và nói dân
hiểu”. Bác đã khuyên nhủ chúng ta rằng: “Nước ta có nhiều dân
tộc, đấy là điều tốt. Thường mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, cán
bộ đi làm việc chỗ nào phải học tiếng chỗ ấy”(11) . Cán bộ làm
công tác dân tộc phải thật sự “Trọng dân, gần dân, học dân, hiểu
dân và có trách nhiệm với dân”.
Hội nghị Trung ương 7 khóa IX của Đảng ra Nghị quyết
“Về công tác dân tộc” đã khẳng định: “Ngay từ khi mới ra đời
và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác
định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có
vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên
những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính
sách dân tộc với những nội dung cơ bản là: Bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Trải qua các thời kỳ cách
mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn, góp
phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất
nước”(12). Nghị quyết Hội nghị Trung ương cũng chỉ rõ trong
thời kỳ cách mạng hiện nay, các cấp, các ngành cần phải quán
triệt và thực hiện những yêu cầu nội dung và nhiệm vụ công tác
dân tộc, đó là:
Trước hết, toàn Đảng, toàn dân phải nhận thức đầy đủ vấn
cho Nghị quyết đi vào cuộc sống, chính là chúng ta tiếp tục học
tập và thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ về vấn đề dân tộc, đáp
ứng mong mỏi của Người lúc sinh thời “Ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành”. Chủ tịch Hồ Chí Minh vị cha già
của các dân tộc, về công tác dân tộc đã phản ánh biết bao hoài
bão, mơ ước và nguyện vọng của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng những điều đó đã và đang trở
thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội đối với các dân
tộc. Và vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh muôn đời toả ngát hương
thơm trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
TS. Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Chú thích
1 Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995.
T1, tr 416.
2 Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995.
T10, tr 282.
3 Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn. T3, tr 553.
4 Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn. T11, tr 257.
5 Hồ Chí Minh tuyển tập, tập II. Nxb Sự thật, Hà Nội. 1980, tr
305.
6 Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn, tr 309-310.
7 Đảng Lao động Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III. Hà Nội –1960, tr 124-125.
8 Hồ Chí Minh tuyển tập, tập II, tài liệu đã dẫn, tr 430.
9 Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn, tr 297.