MỤC LỤC
TIẾNG ANH 135
TIẾNG PHÁP 148
MỞ ĐẦU
Nang ống mật chủ (OMC) là một bệnh lý bất thường giải phẫu bẩm
sinh của đường mật, trong đó OMC giãn thành hình thoi hoặc hình cầu mà
không có tắc ở phần cuối của OMC.
Đây là một bệnh có nhiều tên gọi khác nhau như giãn ống mật chủ
tiờn phỏt thành nang, u nang giả hiệu ống mật chủ, u nang tiên thiên đường
mật, giãn đường mật thành nang bẩm sinh
Bệnh được Vater mô tả lần đầu tiên năm 1723 và được Douglas mô
tả chi tiết hơn năm 1852 [27].
Bệnh gặp với tỉ lệ 3-4 nữ/ 1 năm. ở Mỹ tỉ lệ mắc bệnh là 1/100.000
trẻ đẻ ra sống và 1/13.000 số bệnh nhân vào viện. ở Nhật bản bệnh phổ
biến hơn ( hiếm 2/3 số trường hợp được báo cáo trên thế giới) với tỷ lệ
1/1.000 trẻ đẻ ra sống [59]. ở Việt Nam chưa có con số thống kê cụ thể
nhưng số bệnh nhân tăng lên nhanh cùng với sự phát triển của các phương
tiện chẩn đoán hiện đại []. Bệnh cảnh điển hình của bệnh u nang ống mật
chủ là tam chứng cổ điển: đau hạ sườn phải, vàng da và u hạ sườn phải.
Trong thực tế nhiều khi bệnh nhân không có đủ tam chứng trờn nờn chẩn
đoán khó khăn dẫn đến chẩn đoán và xử lý muộn.
Các phương tiện chẩn đoán bệnh bằng hình ảnh bao gồm: Chụp mật
tụy ngược dòng, chụp mật qua da, chụp mật theo đường tĩnh mạch, phóng
xạ đồ, chụp CT, chụp MRI và đặc biệt siêu âm là phương pháp được áp
dụng rộng rãi, không sang chấn, góp phần rất lớn trong chẩn đoán sớm và
chẩn đoán xác định bệnh.
Các phương pháp điều trị bệnh thay đổi theo thời gian bao gồm:
- Dẫn lưu nang ra ngoài: Ngày nay chỉ dùng khi có biến chứng viờm
phỳc mạc mật do thủng nang (coi như một thủ thuật tạm thời).
2
- Dẫn lưu nang vào đường tiêu hóa: Nối nang với tá tràng hay nối
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẠI CƯƠNG
1.1.1. Định nghĩa
Nang OMC được định nghĩa là tình trạng dãn bẩm sinh dạng cầu
hay dạng thoi của đường mật trong và ngoài gan, mà không có sự
tắc nghẽn nguyờn phỏt của OMC [], [], [], [37], [107], [128].
Như vậy, dãn OMC đến kích thước nào thì được xem là nang
OMC? Nhất là khi kích thước đường mật ở trẻ em thay đổi tùy
theo tuổi (Bảng 1.1). Hiện nay, nhiều nghiên cứu cho rằng: trên
siêu âm khi OMC ở trẻ em dãn ≥ 7 mm thì người ta xem đó là
nang OMC [65], [95], [106].
4
Bảng 1.1. Kích thước đường mật bình thường ở trẻ em theo tuổi.
”Nguồn: Brunelle, 1987”
”Nguồn: Brunelle, 1987” [120]
Hiện tượng dãn đường mật không đơn thuần ở OMC mà còn có
thể có ở phần còn lại của đường mật ngoài gan, cũng như ở
đường mật trong gan [], [], [119], [126], [127], [128].
1.1.2. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu
1.1.2.1. Thế giới [], [37], [47], [67], [78], [82], [76]
Năm 1723, Vater và Elzer là những nhà giải phẫu học đầu tiên
ghi nhận một trường hợp nang OMC dạng thoi trong một nghiên
cứu chuyên khảo về những dị dạng giải phẫu đường mật. Tuy
nhiên, mãi đến năm 1852, Douglas mới công bố báo cáo lâm sàng
đầu tiên về cấu trúc của một nang OMC dạng cầu. Đó là trường
hợp của một thiếu nữ 17 tuổi có diễn tiến bệnh 3 năm với vàng
da, đau bụng cơn và sốt. Khám lâm sàng tác giả phát hiện có một
khối vùng dưới sườn phải. Những triệu chứng của bệnh thuyên
giảm đi rõ rệt sau dẫn lưu nang qua da, tuy nhiên bệnh nhân vẫn
tử vong 1 tháng sau do nhiễm trùng đường mật. Khi tử thiết,
Năm 1959, với 2 bệnh án cá nhân và hồi cứu 94 bệnh án từ y văn,
Alonso-Lej, Revor và Pessagno đã đưa ra bảng phân loại kinh
điển và tổng quát nhất cho nang đường mật. Các tác giả cũng đưa
ra những phương pháp điều trị dành cho từng thể loại nang đường
mật khác nhau. Tuy nhiên, do những hạn chế về kỹ thuật chẩn
đoán hình ảnh lúc bấy giờ, bảng phân loại này chỉ đề cập đến
đường mật ngoài gan. Từ thời điểm này, những hiểu biết về sinh
lý bệnh của nang đường mật được nghiên cứu kỹ càng hơn và
những phương thức phẫu thuật mới bắt đầu xuất hiện.
Những giả thiết về bệnh sinh cũng được tìm tòi. Năm 1936,
Yotsuyanagi đề ra giả thiết bất thường trong quá trình tái rỗng
hóa đường mật trong thời kỳ bào thai như là một cơ chế tạo ra
nang. Năm 1969, Babbitt đưa ra giả thiết KCMT dài là giả thiết
bệnh sinh được chấp nhận nhiều nhất cho đến ngày nay. Giả thiết
này được cũng cố bằng báo cáo của Todani vào 1984 về hình ảnh
X quang đường mật của nang OMC đã cho thấy trong đa số các
trường hợp nang đều có KCMT dài.
Năm 1977, với sự phát triển của những kỹ thuật chẩn đoán hình
ảnh, Todani [108] đã đưa ra bảng phân loại được chấp nhận rộng
rãi nhất hiện nay cho cả dãn đường mật trong và ngoài gan.
Phương pháp phẫu thuật cũng đã có nhiều thay đổi qua các thời
điểm khác nhau. Năm 1924, Mac Whorter lần đầu tiên thực hiện
phẫu thuật cắt nang, nối ống gan chung-tỏ tràng. Tuy nhiên, do tỉ
lệ tử vong quá cao trong thời điểm đó (trước năm 1960, có
khoảng 30 – 40% trường hợp tử vong khi cắt nang), nên phẫu
thuật cắt nang không được chấp nhận và bị quên lãng dần đi,
nhường chổ cho những phẫu thuật nối nang-ruột (nối nang-tỏ
6
tràng hay nối nang-hỗng tràng) với ưu điểm nhẹ nhàng và có tỉ lệ
tử vong phẫu thuật thấp hơn rất nhiều.
thập niên 60 của thế kỷ XX.
Tại miền Bắc, năm 1963, Nguyễn Xuân Thụ [] là người đầu tiên
trình bày 6 trường hợp nang OMC trong 3 năm tại Khoa Phẫu nhi
- Bệnh viện Việt Đức. Tác giả đã mô tả những đặc điểm về lâm
sàng, chẩn đoán, bệnh học của nang. Lúc bấy giờ, nối nang-tỏ
tràng được xem là phương pháp điều trị đơn giản nhất với kết quả
tốt cho mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, qua quá trình theo dõi sau mổ,
tác giả đã nhận thấy kết quả lâu dài của kỹ thuật này thường
không tốt. Quan điểm điều trị này được thay đổi từ 1973 bằng nối
nang-hỗng tràng theo Roux-en-Y và cắt nang, nối ống gan chung-
hỗng tràng theo Roux-en-Y từ 1975 [], [75].
Trong cùng thời gian, năm 1963, tại Đại học Y khoa Sài Gòn,
Nguyễn Thành Long [124] đã trình bày luận án Bác sĩ y khoa với
5 trường hợp nang OMC được ghi nhận cũng trong vòng 3 năm
tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp phẫu thuật vẫn là nối
nang-tỏ tràng kiểu bờn-bờn.
Theo Nguyễn Lương Tuyền [122], phẫu thuật cắt bán phần nang,
nối ống mật chủ-tỏ tràng do Trần Ngọc Ninh thực hiện lần đầu
tiên tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 vào ngày 08/10/1968. Cũng trong
báo cáo này, từ 1970, phẫu thuật cắt toàn bộ nang và túi mật, nối
ống gan chung-tỏ tràng bắt đầu được thực hiện và thay thế hoàn
toàn kỹ thuật cắt bán phần nang.
Tại Việt nam, phẫu thuật cắt nang, nối ống gan-tỏ tràng bằng một
quai hỗng tràng biệt lập lần đầu được báo cáo vào 1999 tại Việt
nam do tập hợp số liệu của hai Bệnh viện Bạch mai và Nhi trung
ương []. Năm 2000, Nguyễn Thanh Liêm [] báo cáo 61 trường
8
hợp cắt nang, nối ống gan-tỏ tràng bằng quai hỗng tràng biệt lập
ở trẻ em với kết quả bước đầu khả quan.
Trước thập niên 90 của thế kỷ XX tại Việt nam, vấn đề chẩn đoán
kỹ thuật cắt nang, nối ống gan chung-hỗng tràng theo Roux-en-Y
cũng ghi nhận kết quả tương tự: 19,2% trường hợp có biến chứng
trong thời gian hậu phẫu sớm và 3,85% trường hợp có nhiễm
trùng đường mật với thời gian theo dõi chỉ từ 2 – 27 tháng sau
mổ.
Như vậy, vấn đề biến chứng sớm và muộn sau mổ vẫn là một
thách thức cho những phẫu thuật viên ngoại nhi Việt Nam trong
thời điểm hiện tại mặc dù bệnh ngày càng được chẩn đoán sớm
hơn.
1.1.3. Dịch tễ học
Nang OMC là dị dạng tương đối hiếm gặp ở các nước phương
tây, với tần suất bệnh được đánh giá từ 1/13.000 đến 1/2.000.000
trẻ sinh ra sống [37], [47], [48], [99], [128]. Tuy nhiên, bệnh lại
rất thường gặp ở các nước phương đông, đặc biệt, theo các
nghiên cứu của Nhật bản thì tần suất của bệnh lên đến 1/1.000
[47], [48], [66], [69], [68].
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, hiện nay, hàng năm cú trờn 70 trường
hợp nang OMC được điều trị [].
Ưu thế về giới rõ rệt ở nữ với tỉ lệ nữ/nam được ghi nhận từ 3 –
4/1 [], [], [37].
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng 2/3 số trường hợp được
phát hiện trước 10 tuổi [37]. Số bệnh nhi được phát hiện sớm ở
tuổi sơ sinh và trước sinh ngày một tăng nhờ vào các phương tiện
chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là siêu âm [69].
Tính chất gia đình của bệnh không rõ ràng mặc dù đó cú báo cáo
ghi nhận [40].
10
1.2. PHÂN LOẠI
1.2.1. Phân loại theo Alonso-Lej (1959) [], [119]
Bảng phân loại này chỉ đề cập đến các dạng dãn của đường mật
Hình 1.2. Phân loại nang đường mật theo Todani. “Nguồn:
Todani, 1998” [109].
Loại I: Nang OMC đơn thuần, bao gồm ba nhóm nhỏ
Ia: dãn OMC thành nang có dạng cầu.
Ib: dãn một đoạn OMC thành nang.
12
Ic: dãn OMC thành nang có dạng thoi.
Loại II: Túi thừa đường mật ngoài gan.
Loại III: Sa OMC.
Loại IV: Nang OMC kết hợp với dãn đường mật trong gan. Được
chia thành hai nhóm nhỏ
IVa: dãn đường mật trong và ngoài gan phối hợp.
IVb: dãn đường mật ngoài gan thành nhiều nang.
Loại V: dãn đường mật trong gan thành một hoặc nhiều nang.
Ở trẻ em, tuyệt đại đa số các trường hợp (> 95%) là nang OMC
có hay không có kết hợp với dãn đường mật trong gan (nang
đường mật loại I và IV), các thể loại khác rất hiếm gặp ở trẻ em
[], [78].
Trong phạm vi của nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập đến các thể
loại đa số này.
1.3. Mễ PHÔI HỌC NANG OMC.
1.3.1. Sự xuất hiện những mầm nguyên thuỷ của gan và đường dẫn
mật
1.3.1.1. Sự xuất hiện mầm nguyên thuỷ của gan .
Khoảng giữa tuần thứ ba của quá trình phát triển phôi, ở đầu xa của
ruột trước , tức là ở đầu của đoạn ruột nguyên thuỷ sau này phát
triển thành tá tràng , nội bì thành trước dày lên tạo thành mầm gan
nguyên thuỷ( túi thừa gan). Đó là nơi tế bào ngoại bì của ruột
nguyên thuỷ tăng sinh mạnh mẽ . Những dây tế bào này tiến vào
trong vách ngang, một lá trung mô nằm chen vào giữa khoang màng
Vào khoảng tuần thứ 10 của thai nhi , trọng lượng gan chiếm
khoảng 10% trọng lượng thai, một phần là do sự có mặt của một số
lớn mao mạch kiểu xoang phát sinh từ tĩnh mạch noãn hoàng và
tĩnh mạch rốn. Nhưng chức năng tạo huyết của gan là một yếu tố rất
quan trọng làm cho trọng lượng của gan tăng lên trong thời kỳ này.
Trong một thời gian dài, gan đảm nhiệm chức năng tạo huyết từ
những tế bào máu nguyên thuỷ từ những tiểu đảo tạo máu ở thành
tỳi noón hoàng di cư đến gan và xâm nhập vào trong gan. Những tế
bào này tạo thành những tiểu đảo tạo máu ở trong gan, chen vào
giữa những dây tế bào gan và các mao mạch kiểu xoang. Từ đó
chúng sinh ra những tế bào đầu dòng của cỏc dũng huyết cầu: Dòng
hồng cầu, dòng bạch cầu có hạt và dòng tế bào nhân khổng lồ.
Những tế bào đầu dòng này sinh sản, tiến triển để cuối cùng trở
thành những huyết cầu trưởng thành ( hồng cầu, bạch cầu đa nhân ,
tiểu cầu) qua các mao mạch kiểu xoang rồi lưu thông trong hệ tuần
hoàn.
Trong hai tháng cuối của thai kỳ, hoạt động tạo huyết của gan giảm
dần. Khi trẻ ra đời, trong gan chỉ còn sót lại một vài tiểu đảo tạo
máu nhỏ và trọng lượng của gan chỉ chiếm 5% trọng lượng của cơ
thể.
1.3.1.3. Sự phát triển mầm nguyên thuỷ của các đường dẫn mật
Mầm nguyên thuỷ của những đường dẫn mật nở to và tiến vào bên
trong mạc treo tràng trước để tạo ra túi mật, cuống của nó nối với
cuống của mầm gan nguyên thuỷ trở thành ống túi mật. Khi cỏc dõy
tế bào gan tạo thành các thuỳ gan phải và trái, cuống của mầm gan
nguyên thuỷ chia thành hai nhánh tiến vào trong hai thuỳ ấy và trở
15
thành ống gan. Trong gan, hai nhánh này lại tiếp tục phân nhánh
nhiều lần để tạo ra các ống mật. Những ống mật nhỏ nhất tiếp với
các tiểu quản mật nằm trong các tiểu thuỳ gan. Các tiểu quản mật
sự không bào hoá của cỏc dõy tế bào biểu mô đặc vào cuối tháng
thứ ba. Cơ oddi phát triển riêng rẽ từ nhu mô bao quanh và khụng
liờn tục với lớp cơ của tá tràng.
1.3.2. Phát triển của tụy.
17
1.3.2.1 Tụy ngoại tiết.
- Tạo cơ quan
Tụy được tạo ra từ hai mầm phát sinh từ nội bì đoạn sau ruột trước:
mầm tụy bụng ( nụ tụy trước) và mầm tụy lưng ( nụ tụy sau).
Ở ngày thứ 26, thành tá tràng phía đối diện và thấp hơn so với mầm
gan phát sinh mầm tụy lưng. Mầm tụy lưng tiến vào bên trong mạc
treo tràng sau. Vài ngày sau, tá tràng có thêm một nụ tụy mới, nằm
ngay sau nụ túi mật, bên dưới gốc của mầm gan nguyên thuỷ, trong
góc giữa túi thừa gan và tá tràng, đó là mầm tụy bụng (hình1.4).
Phát triển của các mầm tụy ở giai đoạn sớm:
Mầm tụy bụng dài ra và được nối với tá tràng bởi một cuống. Mầm
tụy bụng sẽ tạo ra đầu tụy. Cuống của nó sẽ tạo ra ống tụy chính.
Mầm tụy lưng phát triển trong mạc treo tràng sau và cũng có một
cuống nối với tá tràng . Nó sẽ tạo ra phần lớn của tụy, gồm phần
trên của đầu tụy, thõn và đuôi tụy. Cuống của nó sẽ tạo ra ống tụy
phụ.
- Phát triển tiếp theo của các mầm tụy
Lúc đầu, các mầm tụy lưng và tụy bụng xuất hiện dưới dạng những
cái nụ, mỗi nụ tuỵ gồm một phần phình và một cái cuống nối với tá
tràng. Về sau các nụ tụy dài ra. Sự xoay của dạ dày và những biến
đổi vị trí của các cơ quan nằm trong vùng dạ dày tá tràng dẫn đến
những biến đổi vị trí của tụy ở tháng thứ hai của thai kỳ. Trong tuần
lễ thứ 5, mầm tụy bụng và miệng ống mật chủ mở vào tá tràng di
chuyển vòng ra phía sau tá tràng đến mạc treo tràng sau, nằm ngay
dưới mầm tụy lưng. Sang tuần thứ 6, các mầm tụy bụng và tụy lưng
fuchsin. Đồng thời sự có mặt của tryptophan có thể phát hiện được
ở trong bào tương . Những tế bào ấy biểu lộ hoạt động ester hoá.
Những đặc tính trên là đặc tính của các hạt sinh men. Từ tháng thứ
5 của thai, các tế bào chế tiết của nang tuyến tụy ngoại tiết duy trì
cấu tạo hình thái học vĩnh viễn.
1.3.2.2 Tuỵ nội tiết
Những tiểu đảo tụy nội tiết phát triển từ nhu mô tụy bằng cách
giống như sự tạo ra các nang tụy ngoại tiết. Về sau chúng sẽ tách rời
tụy ngoại tiết và phân tán khắp tụy, nhất là ở vựng đuụi tụy, rồi
chúng bị xâm nhập bởi các mao mạch máu và bị các mao mạch ấy
xẻ thành dây tế bào tuyến nối với nhau thành lưới tế bào nằm xen kẽ
với một lưới mao mạch máu . Trong bào tương của tế bào xuất hiện
19
những hạt chế tiết kiểu nội tiết. Do phát triển mạnh , vào khoảng
cuối tháng thứ 4 của thai, khối lượng tụy nội tiết chiếm khoảng 1/3
khối lượng toàn bộ tụy. Trong thời kỳ thai nhi, có thể có sự cân
bằng giữa các nang tụy ngoại tiết với các tiểu đảo tụy nội tiết, có
nghĩa là các nang tụy ngoại tiết có thể biến đổi thành những tiểu đảo
tụy nội tiết và ngược lại.
1.4 GIẢI PHẪU ĐƯỜNG MẬT.
Mật tiết ra ở các tế bào gan chạy vào đường dẫn mật.Đường dẫn
mật chia làm hai khu vực [2]. .
1.4.1. Đường dẫn mật trong gan.
- Đường dẫn mật trong gan phải: Tạo bởi ống mật phõn thùy sau và
ống mật phõn thùy trước nhận mật của các hạ phõn thùy
V,VI,VII,VIII.
- Đường dẫn mật trong gan trái: Tạo bởi sự chập lại của ống mật
phõn thùy giữa ( hạ phõn thùy IV) và hai ống của phõn thùy bên
( hạ phõn thùy II và III).
- Đường dẫn mật của thùy đuôi:
Ống mật chủ chia thành 4 đoạn: Đoạn trên tá tràng, đoạn sau tá
tràng, đoạn sau tụy và đoạn trong thành tá tràng. Ở đoạn trong thành
tá tràng, OMC đổ vào điểm nối 1/3 dưới và 2/3 trên của khúc II tá
tràng theo ba hình thái sau:
21
- Đoạn chung giữa ống mật và ống tụy ngắn( ống mật tụy chung
ngắn).
- Đoạn chung giữa ống mật và ống tụy dài ( ống mật tụy chung dài).
- Không có đoạn chung mà mỗi ống đổ qua một lỗ vào tá tràng
Chiều dài trung bình ống mật tụy chung tăng cùng tuổi, dưới một tuổi
tối đa 3mm, trên một tuổi tối đa 5mm [31].
Babbitt (1973) nhận thấy ống mật tụy chung được coi là bất thường nếu
nằm ngoài thành tá tràng hoặc chiều dài lớn hơn 5mm ở trẻ em và 10mm ở
người lớn [8].
2 Chiều cao của bóng Vater lồi lên trong lòng tá tràng 2cm là nình
thường nếu lớn hơn 2cm cần lưu ý túi sa OMC [9].
- Túi mật:
Có vai trò lưu trữ và cô đặc mật trước khi chảy vào tá tràng. Túi mật
hình quả lê, ở người trưởng thành dài 8 cm, chỗ rộng nhất dài 3cm
chia ba phần cổ, thân và đáy. Cổ túi mật tiếp liền với ống túi mật
dẫn mật đổ vào OMC. Ống túi mật hợp với OGC và ống gan phải
với róng ngang ở rốn gan tạo thành tam giác mật có động mạch túi
mật chạy trong mạc treo cổ túi mật, đây là mốc để tìm động mạch
này trong phẫu thuật.
Liên quan các thành phần trong cuống gan từ nông đến sâu là OMC,
kế đến là hai nhánh động mạch gan phải và trái và động mạch gan
riêng, sau cùng là tĩnh mạch cửa. Các thành phần này chạy trong
liềm mạc nối nhỏ phía sau là khe Winslow [2].
1.5. SINH BỆNH HỌC
Hiện nay, người ta ghi nhận có khoảng 20 giả thiết được đưa ra để giải
sơ sinh hay trước sinh.
- Có thể đi kèm với những dị dạng bẩm sinh khác của đường mật như:
dãn đường mật trong gan, OMC đôi, túi mật đôi.
Tuy nhiên, giả thiết này không giải thích được sự khiếm khuyết của lớp
cơ thành nang và sự xuất hiện không thường xuyên của lớp biểu mô thành
nang trên vi thể. Trên thực nghiệm, bản thân hiện tượng tắc nghẽn đoạn xa
OMC không đủ để tạo thành nang, mà còn phải cú thờm sự hư hại lớp biểu
mô và sợi đàn hồi của đường mật.
1.5.3. Giả thiết kênh chung mật-tụy dài, được chấp nhận nhiều nhất.
Được Babbitt đề xuất lần đầu tiên vào năm 1969 [8].
Theo Wong và Lister, chỗ nối giữa OMC và OTC nằm ngoài thành tá
tràng cho đến tuần thứ 8 của thai kỳ. Sau đó, chỗ nối này di chuyển dần về
phía lòng tá tràng và sẽ nằm trong thành tá tràng, dưới lớp cơ nông nhất. Nếu
quá trình di chuyển này chấm dứt sớm, chỗ nối giữa OMC và OTC nằm cao
hơn tạo ra một kênh chung mật tuỵ (KCMT) (Hình 1.5).
Bình thường, KCMT có độ dài thay đổi tùy theo tuổi (Bảng 1.2) và được
cơ vòng bóng gan-tụy bao bọc (cơ oddi) và kiểm soát. Mặc dù áp lực trong
OTC (30 – 50 cm nước) cao hơn áp lực trong đường mật (25 – 30 cm nước),
nhưng do sự kiểm soát của cơ vòng nên dịch tụy không thể trào ngược vào
đường mật [31].
24
Hình 1.5. Những dạng hợp lưu giữa ống mật chủ và ống tụy chính. “Nguồn:
Netter, 1997” [
“Nguồn: Netter, 1997” [7373].
Tùy theo lứa tuổi, KCMT có độ dài thay đổi (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. Chiều dài bình thường của kênh chung mật-tụy ở trẻ em
theo tuổi.
Tuổi Kênh chung mật-tụy
< 1 tuổi
1 – 10 tuổi