Xây dựng tổng quan tài liệu về thực trạng và một số chương trình can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng prôtêin – năng lượng cho trẻ em dưới 5 tuổi tại việt nam và các nước đang phát triển - Pdf 19

LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, trước hết tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc tới hai giáo viên hướng dẫn của tôi, là thạc sỹ Lê Thị Kim Ánh và thạc
sỹ Nguyễn Thanh Hà. Không những các cô đã hỗ trợ tôi những tài liệu cần thiết, mà
cũng đã rất nhiệt tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến chuyên môn quý báu
cho bài luận của tôi.
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ phòng Đào tạo Đại
học và các cán bộ thư viện trường Đại học Y tế công cộng, đặc biệt là chị Bùi Thị
Ngọc Oanh, đã rất nhiệt tình giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình tìm kiếm tài liệu hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới những người bạn đồng khoá đã cung
cấp cho tôi các tài liệu và thông tin bổ ích liên quan đến đề tài khoá luận tốt nghiệp
của tôi.
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACC/SCN Uỷ ban thường trực Dinh dưỡng Liên hợp quốc
BINP Dự án lồng ghép chăm sóc dinh dưỡng của Băngladesh.
CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ.
DALYs Số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật
GHI Chỉ số đói toàn cầu
ICDS Chương trình Các dịch vụ lồng ghép phát triển trẻ
IFPRI Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế.
NCHS Quần thể tham khảo chuẩn
OFFP Chương trình đổi dầu lấy lương thực
SD Độ lệch chuẩn
SDD Suy dinh dưỡng
TCTK Tổng cục thống kê Việt Nam
TNP Chương trình mục tiêu dinh dưỡng
UNCEF Tổ chức Nhi đồng Liên hợp quốc
VAC Mô hình Vườn – Ao- Chuồng
VDD Viện dinh dưỡng quốc gia (Việt Nam)

SDD của trẻ với những hậu quả xã hội to lớn vẫn đang là vấn đề hết sức cấp bách
cần giải quyết. Năm 2000, theo số liệu điều tra MICS (TCTK) [2], tỷ lệ SDD toàn
quốc là 33,8%; giảm xuống còn dưới 30% tính đến năm 2002. Năm 2008, tỷ lệ
SDD tính chung chỉ còn 20%, nhưng SDD thể thấp còi vẫn còn rất cao: 32,6% [58]
[59]. Những nguyên nhân dẫn đến SDD rất đa dạng [1] [35]. Các nguyên nhân trực
tiếp là: SDD bào thai, an ninh lương thực, nhiễm khuẩn. Nguyên nhân sâu xa bao
gồm sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, các vấn về về nước sạch, vệ
sinh môi trường, nhà ở. Và một nguyên nhân gốc rễ không thể không nhắc đến, đó
1
là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả sự mất
bình đẳng về kinh tế [1] [5] [21].
Mục tiêu của bài viết này tập trung trình bày tổng quan thực trạng SDD tại
Việt nam và các quốc gia đang phát triển, đồng thời trình bày mô hình nguyên nhân
- hậu quả của SDD trẻ dưới 5 tuổi. SDD gồm 2 loại: SDD prôtêin – năng lượng
(Protein-Energy Malnutrition: PEM) và SDD do thiếu vi chất. Trong 2 loại, SDD
prôtêin – năng lượng chiếm chủ yếu trong các trường hợp SDD hiện nay [35] [56]
và để lại nhiều hậu quả nặng nề cho cá nhân và xã hội. Vì vậy tổng quan này tập
trung chủ yếu vào SDD prôtêin – năng lượng. Bên cạnh đó, bài viết cũng trình bày
những chương trình can thiệp phòng chống SDD prôtêin – năng lượng cho trẻ dưới
5 tuổi đã được triển khai tại Việt Nam và các nước đang phát triển; các mặt mạnh -
yếu của những chương trình này, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm giải quyết
vấn đề được tốt hơn.
2
PHẦN 2: MỤC TIÊU
I. MỤC TIÊU CHUNG
Xây dựng tổng quan tài liệu về thực trạng và một số chương trình can thiệp
phòng chống suy dinh dưỡng prôtêin – năng lượng cho trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt
Nam và các nước đang phát triển.
II. MỤC TIÊU CỤ THỂ
1. Trình bày tổng quan thực trạng SDD prôtêin - năng lượng trẻ em dưới 5

tín như: Tạp chí Y tế công cộng, Asia pacific journal of clinic nutrition,
International Jounrnal of Epedimiology, The Lancet, Journal of Nutrition cũng là
những nguồn thu thập tài liệu tham khảo chính.
Sau khi tìm được tài liệu phù hợp, người viết sẽ tiếp tục thu thập các tài liệu
có tại danh mục tài liệu tham khảo của các nguồn trên (nếu cần thiết) để tìm hiểu
đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề SDD trẻ em dưới 5 tuổi.
Các từ khoá (key words) được sử dụng trong quá trình tìm kiếm tài liệu:
Tiếng Việt: Suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng protein năng lượng, SDD thể nhẹ cân,
4
SDD thể còi cọc, SDD thể gầy còm, trẻ dưới 5 tuổi, suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi,
tình hình dinh dưỡng/ suy dinh dưỡng, can thiệp suy dinh dưỡng, các nước đang
phát triển.
Tiếng Anh: Malnutrition, underweight, stunting, wasting, PEM (Protein -
energy malnutrition), children under 5, malnutrition of under 5 children,
nutrition/malnutrition stituation, malnutrition intervention, developing countries.
III. QUY TRÌNH TỔNG HỢP TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trước hết, tiến hành đọc tổng quát các tài liệu, nắm bắt sơ lược mục đích
cũng như các ý chính của tài liệu có đề cập đến tình trạng SDD, các giải pháp
can thiệp phòng chống SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam và các nước đang
phát triển.
Tiếp theo, các thông tin được tổng hợp và phân loại phù hợp thành từng mục:
thực trạng trẻ SDD, nguyên nhân và hậu quả của SDD ở trẻ dưới 5 tuổi, các chương
trình can thiệp phòng chống SDD. Việc các thông tin được tổng hợp và phân loại cụ
thể như vậy sẽ đảm bảo tính sử dụng thuận tiện và tránh bỏ sót tài liệu trong quá
trình viết tổng quan cũng như trong quá trình trích dẫn tài liệu tham khảo. Các tài
liệu được sử dụng và ghi chú cụ thể nguồn trích dẫn tài liệu – theo đúng quy định
trích dẫn tài liệu tham khảo hiện hành của Bộ giáo dục.
Cuối cùng, rà soát lại các tài liệu một cách chi tiết để bổ sung những thông
tin, số liệu đang còn thiếu hoặc đang còn phân vân. Sau đó, sẽ sử dụng các thông tin
này cho viết hoàn chỉnh tổng quan.

Phân loại SDD theo lâm sàng là cách phân loại khá kinh điển, gồm các thể
SDD nặng sau: SDD thể teo đét (Marasmus) và SDD thể phù (Kwashiorkor) [1].
Đây là 2 thể SDD nặng, hiện nay ít gặp, do đó cũng ít có ý nghĩa trên cộng đồng
[58].
2.2 Trên cộng đồng
Để xác định tình trạng SDD, chủ yếu người ta dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc
(cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao) [1] [39].
Trước đây, có nhiều cách khác nhau để phân loại SDD: cách phân loại của
Gomez (1956), của Jelliffe (1966), Waterlow (1977). Các cách phân loại này nói chung
6
khá đơn giản, dễ hiểu, tuy nhiên hạn chế là không phân biệt được thiếu dinh dưỡng mới
xảy ra hay xảy ra đã lâu và không thể áp dụng để so sánh tỷ lệ SDD các nước với nhau
được do không có một quần thể mẫu để tham khảo chung cho tất cả các nước.
Đến năm 1981, WHO chính thức khuyến nghị sử dụng giới hạn từ -2SD đến
+2SD để phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em [1] [5] [39], với cách tính:
Quần thể tham khảo được sử dụng là quần thể tham khảo chuẩn NCHS
(National Center for Health Statistic) [5] [52]. Cho tới nay, đây là thang phân loại
được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Năm 2006, Tổ chức y tế thế giới khuyến
cáo sử dụng quần thể tham khảo mới của Tổ chức y tế thế giới [1] (vì đây là quần
thể đáp ứng được nhiều tiêu chí nhất cho tất cả trẻ em trên toàn thế giới). Tại Việt
Nam, Bộ Y tế cũng đang khuyến cáo sử dụng quần thể tham khảo mới này và hiện
quần thể này đã được nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng áp dụng.
Thang phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao theo các chỉ số như sau [1]:
2.2.1 Cân nặng theo tuổi
Những trẻ có cân nặng/tuổi từ điểm ngưỡng -2SD trở lên được coi là bình thường.
SDD chia ra các mức độ sau: SDD độ 1: từ dưới -2SD đến -3SD
SDD độ 2: từ dưới -3SD đến -4SD
SDD độ 3: từ dưới -4SD
Những trẻ có cân nặng theo tuổi thấp được coi là thể nhẹ cân. Nhẹ cân chỉ là
một đặc tính chung của SDD nhưng không cho biết đặc điểm cụ thể đó là SDD mới

đang phát triển trên toàn thế giới, khoảng 32% trẻ em dưới 5 tuổi (178 triệu) bị
SDD thấp còi trong đó cao nhất là khu vực Trung Phi (50%) và Tây Phi (42%). Với
74 triệu trẻ bị SDD thấp còi, khu vực Trung Nam châu Á trở thành khu vực có số
trẻ bị SDD thấp còi cao nhất toàn cầu. Xét về SDD thể gầy còm, tỷ lệ trẻ SDD gầy
còm tại các nước đang phát triển là 10% (55 triệu trẻ), và Trung Nam Á vẫn là khu
vực có tỷ lệ (16%) và số lượng trẻ (29 triệu) SDD gầy còm cao nhất. Khoảng cách
về phát triển kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia là một lý do thuyết phục giải
thích cho sự khác biệt này. Bên cạnh đó, năng lực đảm bảo an ninh lương thực, tính
tiếp cận với các dịch vụ y tế, và mối quan tâm của xã hội cho công tác phòng chống
SDD cũng là những nguyên nhân lý giải cho tình trạng này tại các quốc gia châu
Phi và châu Á [14] [51].
8
Bảng 1: Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD tại các châu lục (2005) [56]
Số trẻ
dưới 5
tuổi
(triệu)
Số trẻ dưới
5 tuổi bị
SDD thấp
còi (triệu)
Tỷ lệ
SDD
còi cọc
Số trẻ dưới
5 tuổi bị
SDD gầy
còm
(triệu)
Tỷ lệ

tính) tại Ethiopia là thấp hơn, khoảng 9%. Thường xuyên xảy ra khủng hoảng lương
thực chính là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tỷ lệ SDD gầy còm cao như vậy tại
Niger [17] [29]. Năm 2005, cả đất nước Niger đã phải đối mặt với một cuộc đại
khủng hoảng lương thực, đã có khoảng 3 triệu người nằm trong mức báo động về
thiếu hụt lương thực trầm trọng [54]. Nghiên cứu của CDC, tiến hành sau cuộc
khủng hoảng này, tháng 10-2005 tại Niger, tỷ lệ SDD các thể đều tăng vọt [23].
Hơn 50% trẻ từ 6-59 tháng bị SDD trường diễn (stunting), trong đó tỷ lệ SDD
trường diễn của trẻ từ 6-35 tháng (54,9%) cao hơn hẳn so với độ tuổi từ 36-59 tháng
(43,5%) [23] [54]. Trong độ tuổi 6-35 tháng, tính riêng thể gầy còm (tức hiện tại
đang thiếu dinh dưỡng) tỷ lệ lên đến 22,4% - là mức vô cùng trầm trọng. Tỷ lệ này
giảm xuống còn khoảng 17,5% (2007) [29] [48], nhưng vẫn còn rất cao và nằm trên
mức báo động của WHO.
Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia châu Phi đều thất bại trong công tác
phòng chống SDD. Sự hạ thấp tỷ lệ SDD một cách đều đặn tại một vài quốc gia như
Ghana, Angola đã ghi nhận nỗ lực của các nước này trong việc phòng ngừa SDD trẻ
em [14] [15].
SDD đang có xu hướng chuyển dịch từ châu Á sang châu Phi [14] [54]. Biểu
đồ 1 chỉ ra tỷ lệ SDD năm 1995 tại châu Phi (36,1%) là thấp hơn so với châu Á
(38,8%). Tuy nhiên, đến năm 2000, tỷ lệ SDD tại châu Phi đã cao hơn 0,8% so với
châu Á (35,2% so với 34,4%). Năm 2005, sự khác biệt này đã thực sự rõ ràng khi tỷ
lệ SDD tại châu Á chỉ còn 31%, trong khi tỷ lệ này tại châu Phi lên đến 40%.
10
Biểu đồ 1: Xu hướng chuyển dịch SDD thể thấp còi giữa châu Á và châu Phi [14]
SDD thấp còi đang có xu hướng tiếp tục giảm tại các nước đang phát triển.
[14] [56]. Theo ước tính của UNICEF, tỷ lệ này sẽ giảm từ 34% năm 2000 xuống
còn 16,3% vào năm 2020. Tuy nhiên, sự suy giảm này là không giống nhau giữa các
khu vực. Ước tính, các khu vực như châu Á, Mỹ Latinh và Caribbean, cả tỷ lệ và số
lượng trẻ SDD thấp còi sẽ tiếp tục giảm mạnh trong thời gian tới. Trong khi đó, tại
châu Phi, tỷ lệ SDD thấp còi sẽ chỉ có thể giảm nhẹ khoảng 4%, từ 35% năm 2000
xuống còn 31% năm 2020. Tỷ lệ này đã tính đến cả sự gia tăng số trẻ em tại châu

2. Thực trạng SDD trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam
Ở nước ta, từ thập kỷ 80 về trước, các thể SDD nặng như Kwashiorkor,
Marasmus khá phổ biến, gặp nhiều cả trong bệnh viện và trong cộng đồng [1] [5].
Mấy năm gần đây, các thể này đã trở nên hiếm gặp, hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và
thể vừa, biểu hiện là trẻ chậm lớn, nhẹ cân, thấp còi. Cùng với sự tăng trưởng vững
12
vàng về kinh tế, Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong công cuộc phòng
chống SDD [1] [6] [58]. Năm 2002, tỷ lệ SDD trẻ em toàn quốc là 30,3%, đã giảm
được 22% so với thập kỷ 80 (52,5%), đến năm 2008 còn 19,9% song vẫn còn xếp ở
mức rất cao theo phân loại của WHO [1] [8] [59]. Từ năm 1995 trở về trước, mức
giảm SDD trung bình là 0,6%/năm, từ 1995 trở lại đây, mức giảm là 1,5-2%/năm, là
một mức giảm nhanh so với một số nước trong khu vực [1] [58]. Có được những
bước tiến quan trọng này là nhờ sự phát triển ổn định của nền kinh tế, sự đảm bảo
an ninh lương thực ở cả cấp quốc gia và cấp hộ gia đình, cũng như sự chú trọng của
toàn xã hội đối với công tác phòng chống SDD.
Tỷ lệ SDD ở cả 3 thể đều giảm. Biểu đồ 2 (trang bên) chỉ rõ, năm 2000, tỷ lệ
SDD thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi thấp) là 33,8% trong đó SDD độ I chiếm 27,8%, độ
II chiếm 5,4% và SDD độ nặng (độ III) còn 0,6% [1] [8]. Năm 2008, tỷ lệ này hiện
chỉ còn khoảng 19,9% [58]. Tỷ lệ SDD thể gầy còm năm 2000 (cân nặng/chiều cao
thấp) là 8,6%, giảm xuống còn dưới 5% năm 2008. Tỷ lệ SDD thể thấp còi (chiều
cao/tuổi thấp) ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 56,5% năm 1990 xuống còn 36,5%
năm 2000, giảm khoảng 20% trong vòng một thập kỷ và cũng có xu hướng giảm
nhanh hơn ở độ SDD nặng hơn như đối với SDD thể nhẹ cân [60]. Năm 2008, tỷ lệ
này còn 32,6%, tuy vậy hiện vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giá của
WHO. Tỷ lệ SDD có thể giảm nhanh và mạnh như vậy ở cả 3 thể chính là nhờ sự
tăng trưởng ổn định của nền kinh tế và việc đảm bảo an ninh lương thực tốt. Nâng
cao nhận thức và sự quan tâm của toàn xã hội đối với vấn đề phòng chống SDD,
cũng như việc thực hiện hiệu quả chương trình phòng chống SDD quốc gia cũng là
yếu tố đã góp phần thành công làm giảm tỷ lệ SDD trẻ.
13

Biểu đồ 3: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân theo vùng sinh thái, Việt Nam, 2007
15
3. Mô hình nguyên nhân - hậu quả của SDD trẻ dưới 5 tuổi.
Hình 1: Mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD của UNICEF [52]
16
Hậu quả tức thời: tử vong,
tàn tật
Hậu quả lâu dài: phát triển thể
lực và trí tuệ ở lứa tuổi trưởng
thành, năng lực sản xuất, khả
năng sinh sản, các bệnh mạn tính
Hậu quả
Nguyên
nhân
trực tiếp
Nguyên
nhân
tiềm tàng
Nguyên
nhân gốc
rễ
Bệnh tật
An ninh thực phẩm
hộ gia đình
Chăm sóc bà mẹ
và trẻ em
Môi trường
sức khoẻ
Nguồn lực cho an
ninh lương thực

Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng
(tình trạng nghèo đói) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn [1] [44]. Trẻ em lứa tuổi từ 0-5
là đối tượng bị SDD cao nhất [1] [22] bởi vì cơ thể ở giai đoạn này phát triển nhanh,
nhu cầu dinh dưỡng rất cao và không được ăn bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Người ta thường cho rằng những vùng ăn chủ yếu các loại ngũ cốc, củ thường hay
dẫn đến thiếu protein, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây lại cho thấy khẩu phần ăn
của trẻ thiếu năng lượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu protein mới ở mức đe
doạ [1] [18].
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị SDD
và thể loại SDD [1] [7] [17]. Các quan niệm dinh dưỡng sai lầm của người mẹ hoặc
gia đình trong vấn đề chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ và thức ăn bổ sung
là những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp làm cho trẻ dễ bị SDD. Trẻ không được
bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không đủ, dụng cụ bú sữa không đảm
bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, như ở một số nước
châu Phi, các trường hợp SDD nặng thường xảy ra vào năm thứ 2 [15]. Cho ăn bổ
sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lượng không đủ và năng
lượng, protein trong khẩu phần ăn thấp cũng dễ dẫn tới SDD.
Các bệnh truyền nhiễm làm tăng nguy cơ trẻ mắc SDD [1] [22]. Những trẻ có
HIV thường bị tiêu chảy, và kéo theo đó là SDD [51]. Nhiễm khuẩn dễ đưa đến
SDD do rối loạn tiêu hoá, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng
giảm. Do đó, tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao trong những mùa
có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét) [5].
Những trẻ đã bị kém phát triển trong thời kỳ bào thai (SDD bào thai), có nguy cơ
cao bị SDD sớm trong những năm tháng đầu tiên sau khi ra đời [12] [21]. Tình trạng
kém phát triển của trẻ biểu hiện qua cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi thấp, xảy
ra trong khoảng thời gian tương đối ngắn, từ khi mới sinh đến khi trẻ được 2 năm [35].
17
Nguyên nhân sâu xa (tiềm tàng) của SDD do sự bất cập trong dịch vụ chăm
sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, các vấn đề nước sạch, vệ sinh
môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh [39] [46].

trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người (xem phụ lục
7). Hậu quả của SDD có thể kéo dài qua nhiều thế hệ [1] [42]. Phụ nữ đã từng bị
SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn
lên trở thành bà mẹ bị SDD. Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng
sơ sinh thấp [51]. Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị SDD ngay trong
năm đầu sau sinh. Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với bình thường
và khó có khả năng phát triển bình thường. Những trẻ thấp còi và nhẹ cân sẽ
thường sẽ trở thành những người trưởng thành có tầm vóc nhỏ bé, năng lực sản
xuất kém hơn so với người bình thường [5] [46]. Bên cạnh đó, các bệnh mạn tính
như: tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hoá ở người trưởng thành có thể
có nguồn gốc từ SDD bào thai [46] [57].
SDD làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội, ước tính mỗi
năm trên toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu cái chết và 21% DALYs (91 triệu
DALYs) ở trẻ dưới 5 tuổi vì lý do SDD; đồng thời SDD cũng gây ra 35% gánh
nặng bệnh tật ở trẻ dưới 5 tuổi [33]. Nghiên cứu kinh điển của Chen và cộng sự ở
Bangladesh trên trẻ em 15-26 tháng trong vòng 2 năm đã cho thấy có mối liên quan
mật thiết giữa các chỉ số nhân trắc và tỷ lệ tử vong [37]. Tại Niger, SDD là nguyên
nhân trực tiếp lý giải cho khoảng 50% tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, nghĩa là
mỗi năm khoảng 77000 trẻ dưới 5 tuổi tại Niger có nguy cơ tử vong rất cao do SDD
[44] [50]. Sự phân bổ tỷ lệ tử vong không đều giữa các vùng miền [13], trong đó
khu vực Trung Nam Á chiếm tỷ lệ cao nhất, với chỉ riêng Ấn Độ đã có đến 600.000
ca tử vong trẻ dưới 5 tuổi mỗi năm, chiếm đến 24,6 triệu DALYs [36] [38].
Theo tính toán của WB, đối với nước ta, các bệnh SDD đã làm giảm khoảng
2,4% mức gia tăng GDP hàng năm nếu chỉ đơn thuần tính đến lý do làm giảm năng
suất lao động [58]. Nếu tính cả đến giảm sút về tri thức do thiếu dinh dưỡng trong
thời kỳ thơ ấu hoặc do chi phí cho chăm sóc nuôi nấng, thì riêng SDD thể thấp còi
đã làm giảm 5% GDP hàng năm [58]. Những thiệt hại về kinh tế do SDD chủ yếu là
vì năng suất lao động kém ở người trưởng thành do đã bị SDD.
19
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CAN THIỆP VÀ PHÒNG CHỐNG SDD

20
- Nhóm giải pháp thứ 3: Giảm gánh nặng bệnh tật, bao gồm các hoạt động
tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm như nâng cao thói quen rửa tay đúng
cách, vệ sinh nơi ở và các chiến lược nhằm làm giảm gánh nặng bênh tật do sốt rét
đối với phụ nữ có thai.
Lượng giá chung cho loại hình can thiệp cải thiện dinh dưỡng và giảm các
bệnh truyền nhiễm, lại có hiệu quả làm giảm 36% tỷ lệ trẻ bị SDD thấp còi [30]
[57]. Vệ sinh cá nhân, bao gồm rửa tay đúng cách có thể giảm 30% nguy cơ mắc
tiêu chảy, gián tiếp giảm nguy cơ SDD. Như vậy, tiến hành song song nhiều biện
pháp can thiệp mới có thể góp phần giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ SDD của trẻ.
Bằng việc cải thiện một số chỉ số liên quan, tỷ lệ SDD sẽ được hạ thấp đáng kể
[35]. Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách lương thực quốc tế đã tính toán các
biến số có liên quan tới các nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân tiềm tàng của SDD
[35], nếu được cải thiện sẽ tác động tới việc giảm tỷ lệ SDD như sau:
Bảng 2: So sánh mức tác động của các biến số để hạ thấp đi 1% SDD
Biến số Mức tăng để hạ SDD đi 1%
% dân số có nước sạch 13,1
% phụ nữ học hết trung học 4,6
Kcal khẩu phần BQĐN* 59
GDP đầu người (USD) ** 23
* Ở các nước mà năng lượng khẩu phần bình quân đầu người hiện đang dưới
2300Kcal
** Ở các nước mà GDP bình quân đầu người hiện đang dưới 800 USD/năm
Các vấn đề cụ thể và thiết yếu tác động vào các nguyên nhân tiềm tàng của
SDD gồm: đảm bảo an ninh lương thực; cải thiện tình trạng học vấn và sức khoẻ
phụ nữ; mở rộng hệ thống nhà trẻ; cải thiện cung cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường được tiến hành tại nhiều các quốc gia [16] [32]. Philippin, Bắc Triều Tiên và
Cameroon [28] [33] [47], ngoài việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cũng
đang rất chú trọng đến cải thiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch cho
người dân. Tại các quốc gia như Bắc Triều Tiên, Irắc thường có các chương trình

môi trường, nước sạch, giáo dục cộng đồng, cải thiện trình độ học vấn và sức khoẻ
của phụ nữ, cung cấp lương thực, trang thiết bị và vốn). Tuy nhiên chương trình này
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status