MỞ ĐẦU
Dinh dưỡng tốt có vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất và tâm
thần trẻ em. Dinh dưỡng kém sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao, trí tuệ và
còn làm nặng thêm các bệnh như tiêu chảy, viêm phổi…. Theo số liệu của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới cho thấy có đến 54% trường hợp tử vong của trẻ dưới 5 tuổi
ở các nước đang phát triển là có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng [7].
Suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi hiện vẫn đang còn ở tỷ lệ khá cao ở
nhiều nước trên thế giới, thậm chí rất cao ở một số khu vực như Nam Á (48,8%),
Đông Nam Á (32,4%), Châu Phi và Châu Mỹ La tinh [97], [99], [100]; đặc biệt
là các nước nghèo và các nước đang phát triển; 80% trẻ em suy dinh dưỡng sống
ở 20 quốc gia [94], trong số này có khoảng hơn 1,6 triệu em Việt Nam. Theo
thống kê, số trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta hiện nay khoảng 7,7 triệu (chiếm
9,45% dân số toàn quốc), con số này đặt nước ta vào số 36 nước có tỷ lệ trẻ em
suy dinh dưỡng cao nhất thế giới [7], [14], [113].
Tổng kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2007 do Bộ Y tế và Viện
Dinh dưỡng quốc gia tổ chức vào đầu năm nay, báo cáo cho thấy “tỷ lệ trẻ em
dưới 5 tuổi trên cả nước suy dinh dưỡng đã giảm từ 23,4% (năm 2006) xuống
còn 21,2%”. Nói cách khác, cứ hơn 4 trẻ em ở nước ta thì có 1 em bị suy dinh
dưỡng. Đó là một vấn đề y tế cộng đồng rất lớn [14].
Suy dinh dưỡng ở trẻ em có rất nhiều nguyên nhân, nhưng sự nghèo đói và
thiếu kiến thức được xem là nguyên nhân gốc rễ. Nhiều sai lầm dẫn đến suy dinh
dưỡng trẻ em không phải do thiếu thực phẩm hộ gia đình mà là do thiếu sót ở
kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc của bà mẹ.
Đối tượng giáo dục kiến thức chủ yếu là bà mẹ, bởi một lẽ đơn giản là bà
mẹ nào cũng phải nuôi con, cho nên bà mẹ phải biết cách nuôi con để đứa con
phát triển tốt, tránh được nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh suy dinh dưỡng trẻ em,
đảm bảo sức khỏe và trí lực cho thế hệ sẽ gánh vác, xây dựng đất nước và là
nguồn hy vọng của tương lai.
Tuy vấn đề thu nhập của gia đình có ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng
và chất lượng bữa ăn của trẻ. Tuy nhiên, kiến thức, thái độ, thực hành của người
2
1.1. LỊCH SỬ SUY DINH DƯỠNG
Trong lịch sử y học đã có rất nhiều tên đặt ra để chỉ tình trạng suy dinh
dưỡng (SDD) protein – năng lượng ở trẻ em. Năm 1908, Cotrea gọi SDD là bệnh
“rắn nhỏ” vì trẻ em mắc bệnh có cơ thể nhỏ bé, da có lằn màu sẫm lẫn màu nhạt
như da rắn. Năm 1913, Williams Cicely đã dùng thuật ngữ “Kwashiorkor” (từ
của một bộ lạc ở Ghana, có nghĩa là bệnh của đứa trẻ bị bỏ rơi) để mô tả hội
chứng mà trước đó thường lầm với bệnh Pellagra. Năm 1926, Normet đã mô tả
rất sớm căn bệnh này với cái tên “Bouffissure ở Annam” (mắt trẻ bị phù trông
bạnh ra) [102] trước những công trình nghiên cứu của người Anh ở biển Vàng
(Ghana 1930 – 1933). Năm 1927, Procter gọi là “đứa trẻ đỏ - Enfant rouge”; các
tác giả Autret và Behar gọi SDD là “Hội chứng đa khiếm khuyết ở trẻ em” vì
thấy rằng đứa trẻ thiếu nhiều chất dinh dưỡng [26], [101]. Tiếp đó, Tổ chức Y tế
thế giới (TCYTTG) đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát ở Châu Phi và bệnh thiếu
protein – năng lượng nhanh chóng được coi là bệnh dinh dưỡng quan trọng nhất
trên thế giới. Năm 1959, Jelliffe D.B dùng thuật ngữ “Thiếu dinh dưỡng protein
– năng lượng” vì thấy mối liên quan chặt chẽ giữa thể phù và thể gầy đét. Chế độ
ăn của trẻ thiếu dinh dưỡng thường nghèo protein, ngược lại trẻ thiếu dinh dưỡng
thể phù, do tình trạng chán ăn làm năng lượng trong khẩu phần giảm [26].
1.2. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ DINH DƯỠNG VÀ SUY DINH DƯỠNG
- Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ và cân đối các
thành phần dinh dưỡng để đảm bảo cho sự toàn vẹn và tăng trưởng tự nhiên của
cơ thể, đảm bảo các chức năng sinh lý của cơ thể và sự tham gia tích cực vào các
hoạt động xã hội [105].
- Suy dinh dưỡng là tình trạng trẻ ngừng phát triển do thiếu dinh dưỡng, gây
giảm năng lượng. Tất cả các chất đều thiếu nhưng phổ biến nhất là chất đạm và chất
béo.
- SDD là tình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình thường của cơ thể
+ Do dị tật bẩm sinh: sứt môi, hở hàm ếch…
Trước đây người ta chỉ chú trọng đến hai yếu tố chính của SDD là thiếu an
ninh thực phẩm hộ gia đình và các bệnh nhiễm trùng. Những năm gần đây, yếu
tố “Chăm sóc” đã được nhấn mạnh và cụ thể hoá, bao gồm chăm sóc ăn uống,
chăm sóc vệ sinh, chăm sóc tâm lý, chăm sóc sức khoẻ tại nhà, chăm sóc phụ nữ
có thai và cho con bú.
1.4. HẬU QUẢ CỦA SUY DINH DƯỠNG
- Các thể SDD lâm sàng nặng như Marasmus, Kwashiorkor đưa đến tình
4
trạng tử vong cao.
- Trẻ bị SDD thường dễ bị mắc các bệnh nhiễm trùng như: viêm phổi, tiêu
chảy làm cho tình trạng SDD càng trầm trọng hơn và khả năng tử vong cũng rất
cao [26].
- Ảnh hưởng xấu đến khả năng phát triển thể lực, trí lực và tâm thần.
SDDTE thường để lại hậu quả nặng nề. Gần đây, nhiều bằng chứng cho
thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời
kỳ của đời người. Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ.
Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị
thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị SDD. Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ
con nhỏ, yếu, cân nặng sơ sinh thấp. Hầu hết những đứa trẻ có cân nặng so sinh
thấp bị SDD ngay trong năm đầu sau sinh và khó có khả năng phát triển bình
thường. Chính vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong năm đầu tiên sau
khi ra đời có một ý nghĩa quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ của vòng đời
[33].
1.5. PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
SDD protein năng lượng (PEM) là vấn đề dinh dưỡng cộng đồng quan
trọng nhất trên thế giới hiện nay. Nghèo đói, thiếu kiến thức là nguyên nhân gốc
rễ của SDD nhưng chính vì trong nghèo đói mới phải chống SDD. Cần phải làm
Family planning
:
Kế hoạch hóa gia đình
Food supply
:
Cung cấp thực phẩm
Nhiều nước đã xây dựng Chương trình như: “Dịch vụ lồng ghép và phát
triển trẻ em” (Intergrated Child Development Service – ICDS) ở Ấn Độ, Chương
trình “Hộ gia đình” tại Indonesia…. [7].
Theo dõi biểu đồ tăng trưởng thường được coi là một trong các hoạt động
then chốt của Chương trình PCSDD. Tuy nhiên, kinh nghiệm thành công của
việc theo dõi biểu đồ tăng trưởng không nhiều. Hoạt động này chỉ có giá trị khi
người mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ hiểu được giá trị thật sự của biểu đồ
tăng trưởng là để theo dõi sức khoẻ cho trẻ và họ luôn tìm cách để thực hiện. Vì
vậy có thể sử dụng sự hiểu biết, sự hưởng ứng biểu dồ tăng trưởng như là một
test để đánh giá công tác truyền thông giáo dục ở cộng đồng [26].
Thời gian có nguy cơ cao của SDD thường từ 4 – 6 tháng đến 2 tuổi, do đó
cần tập trung chăm sóc trẻ vào lứa tuổi này. Một nhóm các hoạt động sau đây
được coi là tối thiểu trong can thiệp dinh dưỡng:
Bú hoàn toàn sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu.
Ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 7 cùng với tiếp tục bú mẹ đến 24 tháng.
Có đủ vitamin A cho bà mẹ và trẻ em.
Chăm sóc dinh dưỡng hợp lý trong và sau khi mắc bệnh.
Hay gặp trên lâm sàng. Đó là thể thiếu dinh dưỡng rất nặng do chế độ ăn
thiếu cả protein lẫn năng lượng. SDD thể teo đét có thể xảy ra ngay trong năm
đầu tiên, khác với thể phù chủ yếu xảy ra ở nhóm trẻ từ 1 – 3 tuổi.
Cai sữa quá sớm hoặc thức ăn bổ sung không hợp lý là nguyên nhân phổ
biến dẫn đến thể này. Khi đó, trẻ rơi vào tình trạng kém ăn, các bệnh nhiễm
khuẩn thường gắn liền với lòng lẩn quẩn đó là tiêu chảy và viêm đường hô hấp.
1.6.1.2. Suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor) [26], [33]
Ít gặp hơn so với thể teo đét, bệnh thường xảy ra ở trẻ trên 1 tuổi, gặp
nhiều nhất ở giai đoạn trẻ từ 1 – 3 tuổi. Bệnh rất hiếm gặp ở người lớn, nhưng
vẫn có thể gặp khi nạn đói nặng nề, nhất là đối với phụ nữ. Thường do chế độ ăn
quá nghèo nàn về protein và glucid tạm đủ hoặc thiếu nhẹ, nhất là chế độ ăn dặm
chủ yếu dựa vào khoai sắn. SDD thể Kwashiorkor thường kèm theo tình trạng
nhiễm khuẩn từ vừa đến nặng. Tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng như
vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt nặng thường biểu hiện khá rõ ở những đứa trẻ
bị SDD thể này.
Ngoài ra, theo phân loại lâm sàng còn có thể trung gian (Marasmus –
7
Kwashiorkor), thể này thường gặp nhiều hơn so với hai thể trên với mức độ bệnh
nhẹ hơn.
Đối với thể Marusmus và thể Kwashiorkor thường dùng thang Welcome
để phân biệt:
Bảng 1.1. Thang phân loại Welcome (1969) [26], [33]
Tỷ lệ %
cân nặng theo tuổi
60 – 80
Phù
Có
: SDD độ I
Từ 60 – 75 %
-nt-
: SDD độ II
< 60%
-nt-
: SDD độ III
Cách phân loại nầy cho phép nhận định tình trạng SDD nói chung, nhưng
không phân biệt được tình trạng thiếu dinh dưỡng mới gần đây hay kéo dài đã
lâu.
8
* Phân loại theo Waterlow
Để khắc phục nhược điểm đó, năm 1976 Waterlow đề nghị một cách phân
loại như sau:
+ Thiếu dinh dưỡng thể gầy còm (tức là hiện đang thiếu dinh dưỡng): biểu
hiện bằng CN/CC thấp so với chuẩn.
+ Thiếu dinh dưỡng thể còi cọc (tức là thiếu dinh dưỡng thể trường diễn):
dựa vào CC/T thấp so với chuẩn.
Bảng 1.2. Cách phân loại theo Waterlow [7], [26], [33]
Cân nặng theo chiều cao (80% hay – 2SD)
Trên
Center for Health Statistics). Cho đến nay, đây là thang phân loại được chấp
nhận rộng rãi trên thế giới [26], [33].
1.7. NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
Muốn nhận định về kết quả nhân trắc, cần phải chọn một quần thể tham
khảo (reference population) để so sánh. Theo WHO (1995), không nên coi quần
thể tham khảo là chuẩn (standard) nghĩa là mục tiêu mong muốn, mà chỉ là cơ sở
để đưa ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế. Do ở
trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì
9
khả năng lớn không khác nhau theo chủng tộc, TCYTTG đã đề nghị lấy số liệu
của NCHS (Hoa Kỳ) làm quần thể tham khảo (WHO, 1986) và đề nghị này hiện
nay đã được ứng dụng rộng rãi, mặc dù cũng còn một số nước áp dụng các quần
thể tham khảo khác.
Theo đề nghị này thì giá trị âm 2 độ lệch chuẩn (-2SD) của NCHS là ranh
giới giữa (“ngưỡng”/cut-off point) để phân định giữa bình thường và SDD. Để
tiện so sánh người ta thường tính ra Z-score theo công thức sau đây: [7], [26],
[33].
Z-score = ( X – M ) / SD
Trong đó: X = Kích thước thực tế đo được
M = Số trung bình của quần thể tham khảo
SD = Độ lệch chuẩn của quần thể tham khảo
Khi tính Z-score thì cần lưu ý là độ lệch chuẩn của quần thể tham khảo thì
khác nhau khi kích thước đo được nhỏ hơn giá trị trung bình của quần thể tham
khảo (vùng SDD) với khi kích thước đo được lớn hơn số trung bình của quần thể
tham khảo (vùng dinh dưỡng tốt).
Cách biểu hiện theo tỷ lệ % dưới giới hạn ngưỡng cho một kết luận tổng
quát nhưng để so sánh hiệu quả các can thiệp dinh dưỡng thì cách so sánh số
trung bình ± SD hoặc số trung bình của Z-score tỏ ra thích hợp hơn
Bình thường.
- Từ < - 2SD đến – 3SD
:
SDD độ I.
- Từ < - 3SD
:
SDD độ II.
Chỉ tiêu chiều cao theo tuổi thấp ( + 2SD (WHO,1995).
Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra bảng tiêu chuẩn mới để đánh
giá chuẩn tăng trưởng của trẻ em dưới 5 tuổi. Theo bảng tiêu chuẩn mới này các
tiêu chuẩn về cân nặng/tuổi có thấp hơn và chiều cao/tuổi có cao hơn so với
chuẩn cũ (năm 1995) như đã nêu trên. Như vậy nếu áp dụng theo bảng tiêu
chuẩn mới này thì tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi tính theo cân nặng/tuổi sẽ thấp hơn và tỷ
lệ trẻ suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi sẽ cao hơn chút ít so với các đánh giá những
năm trước đây. Tiêu chuẩn này được Bộ Y tế cho phép áp dụng triển khai tại các
địa phương trên toàn quốc vào năm 2009 [8], [114]. Riêng Bộ Y tế sẽ đưa vào
tính toán các chỉ tiêu này vào năm 2009.
11
đối với tình trạng dinh dưỡng như tiêm chủng có lẽ đạt mức cao nhất rồi cho nên
12
hơn bao giờ hết các can thiệp khác cần được tiếp tục [7].
Bảng 1.3. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng (0 – 60 tháng) theo vùng, 1985 – 1995 [7]
Tỷ lệ SDD
(Cân nặng / tuổi)
VÙNG
Mức tăng giảm
hàng năm ( % )
Cận sa mạc Châu Phi
1985
25,8
1990
28,0
1995
27,2
1985 – 1990
0,44
1990 – 1995
- 0,16
15,0
- 0,98
- 0,56
Nam Mỹ
9,8
8,9
8,4
- 0,18
- 0,1
CHUNG
34,3
30,7
29,3
- 0,72
- 0, 28
91 - 92
2000
1989
2000
1994
1993
1993
TỶ LỆ
SDD
67,0
56,0
66,0
53,0
38,7
34,0
40,0
23,3
29,6
% TĂNG GIẢM
HÀNG NĂM
- 0,67
- 0,63
+ 1,00
- 1,63
- 1,35
- 0,36
+ 0,35
- 0,57
1987
1990
22,2
13,0
- 2,76
- 3,07
Việt Nam
1985
1995
51,5
44,9
1995
1997
2000
44,9
40,6
32,0
- 0,66
- 2,15
- 2,53
41,4
- Theo thống kê của Viện dinh dưỡng Quốc gia năm 2007 [14]:
Tỷ lệ SDD chung của trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam là 21,2%, trong đó,
SDD độ I là 18,3%, độ II là 2,8% và độ III là 0,1%. So với năm 2006, tỷ lệ này
giảm đi 2,5% (năm 2006, tỷ lệ này là 23,4%). Như vậy, các thể SDD đều giảm
đi, cả SDD nhẹ, SDD vừa và SDD nặng. Hiện nay, SDD nhự vẫn là chủ yếu.
Ước lượng theo dân số nước ta hiện nay khoảng 81 triệu người, trẻ em
dưới 5 tuổi chiếm 9,45% thì hiện có khoảng 7,65 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Số trẻ
em SDD cân nặng/tuổi hiện nay vào khoảng 1.600.000 trẻ và SDD chiều cao/tuổi
vào khoảng 2.560.000 trẻ.
Tỷ lệ SDD chiều cao theo tuổi hiện tại là 33,9%, so với tiêu chuẩn quy
định của TCYTTG thì vẫn ở mức cao. Tốc độ giảm SDD chiều cao theo tuổi đã
chậm lại so với những năm trước đây ở tất cả các địa phương.
14
Tỷ lệ SDD cân nặng theo chiều cao năm 2007 là 7,1%.
- Sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ SDDTE ở các vùng sinh thái khác nhau, các
tỉnh khác nhau và nhất là giữa nông thôn và thành phố ở nước ta một lần nữa
khẳng định nguyên nhân gây ra SDDTE ở các vùng, các tỉnh không như nhau.
- Mức giảm trong năm qua ở các tỉnh không đều nhau. Các tỉnh có tỷ lệ
SDD cao dường như vẫn có tốc độ giảm nhanh (Quảng Bình, Đắc Lắc, Quảng
Trị, Nghệ An…), các tỉnh có mức SDD giảm nhanh các năm trước cũng có dấu
hiệu bắt đầu có dấu hiệu giảm chậm lại. Điều này cũng được quan sát thấy ở
nhiều quốc gia trên thế giới. Khi giải quyết các vấn đề do thiếu an ninh lương
thực thì tỷ lệ giảm SDD đều đạt mức giảm nhanh. Khi các vấn đề về an ninh
lương thực không còn là nguyên nhân chủ yếu thì tốc độ giảm SDD sẽ chậm lại.
Điều này cần thiết phải tiếp tục giám sát chặt chẽ tỷ lệ SDD cũng như các yếu tố
nguy cơ cao của SDDTE hiện nay nhằm phục vụ đắc lực cho các hoạt động can
thiệp cụ thể.
+ Tỷ lệ SDDTE (CN/T) ở Việt Nam là 21,2%. Trong đó, cao nhất ở
CN/T
33,8
CC/T
35,4
CN/CC
10,8
2
Đông Bắc
40,9
43,2
11,4
23,8
36,2
7,6
3
Tây Bắc
Nam Trung bộ
39,2
40,1
9,7
20,7
33,2
7,6
6
Tây nguyên
49,1
53,2
11,3
31,0
42,3
7,8
7,5
36,7
38,7
9,8
21,2
33,9
7,1
Toàn quốc
CN/T CC/T
18,3
29,8
CN/CC
6,7
Bảng 1.6. Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở ĐB sông Cửu Long năm 2007 [14]
TT
1
2
3
4
5
22,9
20,3
20,8
19,1
19,5
22,9
22,2
20,1
20,4
20,7
Tỷ lệ SDD năm 2007
CC/T
27,4
34,0
31,8
30,4
31,3
28,6
29,9
29,2
34,0
31,8
32,9
30,1
29,6
30,8
CN/CC
7,1
Chiều cao / tuổi
Cân nặng / chiều cao
47,3
47,8
40,6
46,5
31,6
47,0
Bảng 1.8. Tỷ lệ suy dinh dưỡng qua 5 cuộc điều tra (1990 - 2004) [43]
Thể SDD
Năm
Cân nặng / tuổi
1990
45,0
1994
44,9
2000
33,8
2002
46,9
0,6
33,8
0,3
33,0
0,2
30,7
Độ I
24,4
29,5
23,8
21,5
19,9
Độ II
Cân nặng / chiều cao
32,1
9,4
17,4
cao cho ngành Y tế tỉnh Hậu Giang còn rất hạn chế.
- Là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng, nhưng cao trình nền đất thấp trung
bình từ 0,4 - 0,6 m, Hậu Giang là một tỉnh nằm ở hạ nguồn sông Cửu Long nên
một số nơi thường bị ngập nhiều trong những ngày nước triều dâng. Đất đai phần
lớn là đất nông nghiệp, do không có biển nên đất nhiễm phèn và nhiễm mặn ít,
do đó rất thuận lợi cho việc canh tác và trồng trọt.
- Chương trình phòng chống SDDTE của tỉnh được triển khai từ năm 1994
(khi còn chung với tỉnh Cần Thơ cũ). Đến năm 2004, khi tách tỉnh mới, tỷ lệ
SDDTE dưới 5 tuổi thể cân nặng/tuổi là 25%; tỷ lệ này đã giảm nhanh vào năm
2005 xuống còn 22,2%, đến năm 2006 là 20,6% và số liệu công bố chính thức
của Viện Dinh dưỡng Quốc gia của năm 2007 là 19,5% [12], [13], [14]. Như vậy,
mức giảm bình quân giai đoạn 2004 -2007 là 1,38%.
Bảng 1.9. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2003
– 2007 [12], [13], [14]
Năm
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (%)
Chung
CN/T
Độ I
Độ II
Độ III
Chung
CC/T
17,4
3,0
0,2
31,8
20,9
10,9
5,9
2007
19,50
16,8
2,6
0,1
34,0
22,8
11,2
uống Vitamin A [91].
- Nghiên cứu của B.O.Ogunba trên 384 bà mẹ có con từ 0 – 24 tháng tuổi
về thực hành bú mẹ và cho ăn bổ sung tại Bang Osun cho thấy: chỉ có 24% trẻ
được bú mẹ hoàn toàn; trẻ được cho ăn dặm đúng thời gian (> 6 tháng tuổi) chỉ
chiếm tỷ lệ 13% [93].
- Một nghiên cứu của Laura N và cộng sự về thực hành cho trẻ bú trên 632
bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại Québec, Canada cho kết quả: có 68% bà mẹ
cho bú ngay sau sinh. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm dần theo thời gian từ tháng thứ 1
đến tháng thứ 6 lần lượt là: 63%, 56%, 51%, 44%, 39% và 32% [98].
- Nghiên cứu của Saito K và cộng sự ở vùng nông thôn Tamil Nadu, Ấn
Độ (1997) cho kết quả: 60% suy dinh dưỡng nặng của trẻ có liên quan đến giới
tính là trẻ nữ, nghề nghiệp của cha là tầng lớp lao động, thiếu kiến thức đóng vai
19
trò quan trọng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ [106].
- Nghiên cứu của Saurav và cộng sự (2008) về kiến thức và thực hành của
bà mẹ về chăm sóc ăn uống cho trẻ dưới 5 tuổi tại Ấn Độ cho kết quả: 96,36% bà
mẹ có kiến thức đúng về thức uống đầu tiên của trẻ ngay sau sinh; 52,73% bà mẹ
có kiến thức đúng về tuổi cho ăn dặm và 87,27% bà mẹ có kiến thức đúng về
thực phẩm bổ sung, 26,96% trẻ được bú mẹ hoàn tòan trong 6 tháng đầu, 64,7%
tiếp tục cho ăn khi trẻ mắc bệnh [107].
- Nghiên cứu của Semba RD và cộng sự (1999 – 2003) tại Indonesia cho
thấy: trẻ em ở những gia đình không sử dụng muối iốt có nguy cơ suy dinh
dưỡng cao hơn so với các gia đình có sử dụng muối iốt [108].
- Một nghiên cứu thú vị khác của Tiwari V và Singh A về thực hành cho
trẻ bú của bà mẹ tại vùng thành thị Faizabad, Ấn Độ cho thấy: 70,75% bà mẹ
biết được tầm quan trọng của sữa non và cho trẻ bú sữa non sau sinh. Nghiên
cứu cũng cho thấy có sự liên quan giữa mức sống gia đình và học vấn của bà mẹ
với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ [110].
thường xuyên bị lũ lụt và một xã hiếm xảy ra lũ lụt tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền
Giang): kết quả chưa thấy rõ mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ
với một số yếu tố như tập quán nuôi trẻ, thời gian cho trẻ ăn bổ sung [76].
- Nghiên cứu của Hồ Ngọc Quý (2005) tại tỉnh Lâm Đồng cho thấy: trình
độ học vấn (mẹ mù chữ) và nghề nghiệp của mẹ (làm ruộng) có liên quan đến
tình trạng suy dưỡng của trẻ [64].
* Các tỉnh vùng Trung bộ
- Nghiên cứu của Hoàng Thị Liên (2005) tại xã Thủy Phù, huyện Hương
Thủy, thành phố Huế cho thấy một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh
dưỡng của trẻ như: gia đình nghèo đói (39,68%), cai sữa sớm dưới 12 tháng
(52,94%), ăm dặm sớm dưới 4 tháng (69,57%); hiệu quả chương trình giáo dục
dinh dưỡng đối với mức hiểu biết tốt của bà mẹ là 51,92%. Tuy nhiên, không
thấy mối liên quan giữa yếu tố không bú sữa mẹ, chế độ ăn thiếu thành phần chất
béo [51].
- Nghiên cứu của Mai Lượm (2006) tại huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi cho kết
quả: về thực hành khám thai 3 lần (31,2%), tiêm phòng uốn ván (89,45%), uống
viên sắt khi mang thai (89,45%), cho ăn dặm đúng thời gian (75,92%) [53].
- Nghiên cứu của Trương Đức Tú tại huyện Đakrông, Quảng Trị (2005)
cho thấy: có sự khác biệt có ý nghĩa về thời đểm cai sữa cho trẻ và tình trạng
SDD [77].
- Nghiên cứu của Mai Văn Ngọc (2004) tại huyện Tuy Phước, Bình Định
cho thấy: các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ là mức sống
21
thấp, có ≥3 con trong gia đình, cai sữa trước 12 tháng [55].
* Các tỉnh phía Bắc
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Anh và cộng sự về tình trạng dinh
dưỡng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại tỉnh
Lào Cai năm 2005 cho thấy: các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em
18,5% [78].
- Một nghiên cứu khác của Lê Hữu Uyển tại xã Hoằng Thanh, huyện
Hoằng Hóa, Thanh Hóa (2005) cho thấy: trẻ có nguy cơ bị SDD cao gấp 2 lần
đối với bà mẹ thiếu kiến thức về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ [81].
- Nghiên cứu của Erika Lutz và cộng sự về thực hành nuôi dưỡng và chăm
sóc trẻ dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc Nghệ An, Quảng Bình, Hà tĩnh,
Quảng Ngãi, Lai Châu, Điện Biên và Hà Tây (2006) cho thấy: tỷ lệ trẻ được bú
mẹ 1 giờ sau sinh trung bình của 6 tỉnh dự án là 24,8%, bú mẹ hoàn tòan trong 6
tháng đầu là 45,5%; thực hành về chăm sóc trẻ chỉ đạt điểm 4 [34].
- Nghiên cứu của Phạm Văn Hoan (2004) cho thấy: sau 10 năm can thiệp
bằng giáo dục truyền thông dinh dưỡng và phối hợp liên ngành tại Thường Tín,
Hà Tây, kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ được cải thiện rõ
rệt [35].
- Nghiên cứu của Trần Thị Bích Hồi tại 3 xã huyện An Dương, Hải Phòng
(2003) cho thấy có sự khác biệt về KAP của bà mẹ đối với nghề nghiệp và học vấn
[37].
Cho đến nay, định hướng về công tác tổ chức triển khai phòng chống
SDDTE của Bộ Y tế vẫn xác định “Giáo dục truyền thông là giải pháp chính
phải được triển khai tại cộng đồng và hộ gia đình”.
23
Chương 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi và trẻ em từ 0 – 60 tháng tuổi đang sinh sống tại
tỉnh Hậu Giang.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ta lấy số cụm tối thiểu là 30 và số mẫu mỗi cụm là 45 - 50. Tổng số cỡ mẫu điều
tra được đưa vào nghiên cứu là 1.473 bà mẹ và 1.473 trẻ dưới 5 tuổi, đảm bảo
yêu cầu và độ tin cậy của số liệu được thu thập.
- Kỹ thuật chọn mẫu
Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo cụm xác suất tỷ lệ theo cỡ (PPS:
Probability Proportionate to Size Cluster Sampling).
Bước 1: Chọn cụm
Áp dụng phương pháp lấy mẫu 30 cụm xác suất tỷ lệ theo cỡ dân số (PPS:
Probability proportionate to size) với đơn vị cụm là xã/phường/thị trấn được
chọn theo ngẫu nhiên, căn cứ trên danh sách và tổng số hộ có trong thời điểm
điều tra để tính khoảng cách mẫu và từ đó chọn cụm đầu tiên.
Tổng số hộ toàn tỉnh
Khoảng cách mẫu =
=
30 cụm
25
167.738
= 5.591
30