Báo cáo thực tập cộng đồng
MỞ ĐẦU
Tiêu chảy, đặc biệt tiêu chảy cấp là một vấn đề sức khỏe đang được quan
tâm rộng rãi trên thế giới. Tiêu chảy là một bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 5
tuổi, bệnh lây qua đường tiêu hóa. Bệnh thường gặp ở các khu dân cư có điều
kiện sống không đảm bảo, trình độ dân trí thấp, kiến thức về phòng chống tiêu
chảy còn hạn chế. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong
cho trẻ em các nước đang phát triển.
Ở Việt Nam, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnh tiêu chảy đã có nhiều
cải thiện, tuy nhiên tiêu chảy vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan
tâm. Ngoài vấn đề tỉ lệ mắc và tử vong cao, bệnh tiêu chảy còn là nguyên nhân
hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển về cả thể chất và tinh thần, tạo
điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác.
Hiện nay với các phương pháp điều trị tiêu chảy đơn giản và hiệu quả có
thể làm giảm rõ rệt số lượng tử vong do tiêu chảy đồng thời làm giảm sự nhập
viện không cần thiết của hầu hết các trường hợp. Các phương pháp này ngày
càng được phổ biến rộng hơn tại cộng đồng, đã đóng góp thành công đáng kể
vào việc khống chế các bệnh tiêu chảy, làm giảm tỉ lệ mắc, tỉ lệ tử vong do tiêu
chảy gây ra. Mọi hành vi về sức khỏe đều có giá trị rất lớn đến việc giảm tỷ lệ
mắc và chết của một bệnh. Việc điều trị một bệnh chỉ được giải quyết một cách
triệt để khi cá nhân đó nhận ra những gì cần phải làm để thay đổi hành vi sức
khỏe có hại do chính mình gây ra.
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em
nhóm sinh viên chúng em tiến hành thực hiện chủ đề: Tìm hiểu kiến thức, thái
độ, thực hành về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu
tố liên quan.
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang: 1
- Đất phi nông nghiệp: 439,9 ha;
- Đất chưa sử dụng: 10,11 ha.
1.1.3. Dân số và lao động
- Tổng dân số: 2.285 hộ với 10.216 khẩu
- Lao động: 5.344 người, trong đó:
+ Lao động phi nông nghiệp: 4.244 người (chiếm 79,4 %);
+ Lao động nông nghiệp: 1.100 người (chiếm 20,6 %).
1.1.4. Tình hình kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, Thủy Biều đã có nhiều chuyển biến tích cực trong
phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội. Do biết phát huy thế mạnh là nơi có nhiều
điểm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được công nhận di sản
văn hóa thế giới như: Hổ Quyền và điện Voi Ré; các di tích được công nhận cấp
tỉnh như: di tích Thành lồi và nhà máy nước Vạn Niên; những thắng cảnh đẹp
nổi tiếng như Đồi Vọng Cảnh, Độn Bàu Hồ; có con sông Hương uốn khúc bao
bọc 2/3 ranh giới của phường. Đặc biệt, Thủy Biều có vườn cây quanh năm xanh
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang: 3
Báo cáo thực tập cộng đồng
mướt với nhiều loại trái cây ngon, đặc trưng như thơm, mít, dâu, nhãn, chuối…
và đặc biệt là vườn cây đặc sản thanh trà với diện tích lớn và ngon nhất tỉnh đại
diện cho Thừa Thiên Huế đăng ký và được Cục Sở Hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu
“Thanh trà Huế”. Hiện nay, địa phương đang là điểm hấp dẫn để thu hút khách
tham quan du lịch trong và ngoài nước nhất là du lịch sinh thái. Ngày 05/5/2008,
UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra Quyết định số 1052/QĐ-UBND về việc phê
duyệt quy hoạch chi tiết phường Thuỷ Biều với định hướng phát triển kinh tế,
dịch vụ du lịch mở rộng đô thị Huế trong những năm tới. Sau khi quy hoạch chi
- Phân bình thường được tống nhanh không phải là tiêu chảy.
- Trẻ sơ sinh được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ thường có phân mềm, không
phải là tiêu chảy [theo WHO-1993].
1.2.2. Tại sao tiêu chảy nguy hiểm
Hai mối nguy hiểm chính của tiêu chảy là suy dinh dưỡng và tử vong. Tử
vong do tiêu chảy hầu hết thường gây ra bởi vì mất một lượng lớn muối và nước
từ cơ thể. Mặt khác, khi trẻ bị tiêu chảy, trẻ ăn ít đi và khả năng hấp thu các chất
dinh dưỡng bị giảm, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể lại tăng do
nhiễm trùng, chính những yếu tố đó góp phần làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng và
bệnh cảnh lâm sàng càng trở nên phức tạp hơn tạo thành một vòng xoắn bệnh lý:
Suy dinh dưỡng - Tiêu chảy - Suy dinh dưỡng. Chưa kể việc các bà mẹ không
nuôi dưỡng con của họ một cách bình thường khi chúng bị tiêu chảy, ngay cả
những ngày sau khi tình trạng tiêu chảy của chúng đã được cải thiện [WHO1993].
1.2.3. Phân loại tiêu chảy
Tiêu chảy được phân loại tùy thuộc vào thời gian của nó, một đợt tiêu
chảy kéo dài ít hơn 2 tuần là tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài 2 tuần hay hơn là
tiêu chảy kéo dài [WHO-1993]. Ngày nay, người ta xác định ba hội chứng lâm
sàng khác nhau của tiêu chảy gồm:
- Tiêu chảy phân lỏng cấp tính.
- Hội chứng lỵ.
- Tiêu chảy kéo dài [WHO-Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy].
1.2.4. Dịch tễ học bệnh tiêu chảy
1.2.4.1. Các đường lây truyền
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang: 5
Báo cáo thực tập cộng đồng
Trang: 6
Báo cáo thực tập cộng đồng
vi sinh vật có thể truyền bệnh cho người.
1.2.4.3. Các yếu tố vật chủ liên quan đến sự gia tăng chỉ số mắc, mức độ trầm
trọng, thời gian bị bệnh tiêu chảy
- Suy dinh dưỡng: Tiêu chảy và suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với
nhau nhất là đối với những trẻ suy dinh dưỡng nặng, những trẻ đó sự hồi phục
niêm mạc ruột bị chậm trễ do thiếu Vitamin A, giảm sức đề kháng của cơ thể. Sự
nghiêm trọng, kéo dài và nguy cơ dễ tử vong do tiêu chảy sẽ gia tăng đối với
những trẻ bị suy dinh dưỡng. Ngược lại điều này sẽ làm cho tình trạng suy dinh
dưỡng trở nên trầm trọng hơn .
- Tuổi: Hầu hết tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu cuộc đời. Chỉ số mắc
bệnh cao nhất là ở nhóm trẻ 6-11 tháng, khi mới tập ăn sam.
1.2.4.4. Các yếu tố thuộc về bà mẹ và mức sống hộ gia đình
- Trình độ học vấn của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức
phòng bệnh tiêu chảy, cách chăm sóc trẻ từ đó ảnh hưởng tới nguy cơ mắc tiêu
chảy. Nghề nghiệp của mẹ có ảnh hưởng tới thời gian cho trẻ bú, thời gian và
cách chăm sóc trẻ, mức thu nhập hộ gia đình từ đó có ảnh hưởng khả năng mắc
tiêu chảy.
1.2.4.5. Tính chất mùa
Người ta nhận thấy tình trạng tiêu chảy trẻ em có sự khác biệt theo mùa ở
nhiều địa dư khác nhau. Ở những vùng ôn đới, tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy
ra vào mùa nóng, ngược lại tiêu chảy do virus, đặc biệt là Rota virus lại xảy ra
cao điểm vào mùa đông. Ở những vùng nhiệt đới, tiêu chảy do Rota virus xảy ra
quanh năm nhưng tăng vào các tháng khô và lạnh, ngược lại tiêu chảy do vi
khuẩn lại xuất hiện cao điểm vào giao điểm giữa mùa mưa và nóng. Tỷ lệ mắc
tiêu chảy kéo dài cũng dao động theo mùa giống như tiêu chảy cấp.
Từ ngày 20/4/2015 đến ngày 09/5/2015.
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.4.2. Chọn mẫu
- Lập danh sách các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi. Tuổi của con được
đưa vào mẫu nghiên cứu tính theo tháng (dưới 60 tháng) kể từ ngày điều tra.
2.4.3. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu toàn bộ: Tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi của tổ 13
n = 30 bà mẹ con dưới 5 tuổi
2.4.4. Các chỉ số nghiên cứu
* Những thông tin về đặc điểm chung của các bà mẹ
- Tuổi
- Trình độ văn hóa
- Nghề nghiệp
- Kinh tế gia đình
- Số con
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang: 9
Báo cáo thực tập cộng đồng
* Những thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, điều trị bệnh
tiêu chảy
+ Kiến thức
- Định nghĩa về tiêu chảy
- Hiểu biết về phòng tiêu chảy
Sử dụng phương pháp phỏng vấn và quan sát tại nhà, các thông tin thu
được nhóm chúng em đánh dấu vào phiếu điều tra, hỏi đến đâu phải ghi vào
phiếu điều tra đến đó để tránh nhầm lẫn hoặc bỏ sót.
Để cho các bà mẹ hợp tác tốt với điều tra viên thì phải chọn thời điểm bà
mẹ rảnh rỗi.
2.4.6. Xác định các biến số
* Đánh giá kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trẻ em
- Định nghĩa tiêu chảy: kể đủ 2 tiêu chuẩn theo WHO thì được xác định là
đủ, nếu trả lời được 1 trong 2 tiêu chuẩn thì xác định là biết không đủ, nếu trả lời
không biết hoặc ngoài 2 tiêu chuẩn trên thì cũng xem như là không biết.
- Hành vi có hại: nếu kể được 4 hành vi trở lên (trên 4/6)thì xác định là biết
đủ, nếu kể được dưới 4 hành vi (< 4/6) thì xác định là biết không đủ, nếu bà mẹ trả
lời không biết hoặc ngoài 6 hành vi đã xác định thì xem là không biết.
- Hành vi có lợi: nếu bà mẹ kể được từ 5 hành vi trở lên(≥ 5/7) thì xác
định là biết đủ, nếu bà mẹ kể được dưới 5 hành vi có lợi (< 5/7) thì được đánh
giá là biết không đủ, nếu bà mẹ trả lời không biết hoặc ngoài 7 hành vi xác định
thì xem là không biết.
- Xử trí tại nhà khi trẻ tiêu chảy: nếu bà mẹ kể đủ 2 biện pháp (bù dịch
bằng đường uống, đưa trẻ đến cơ sở y tế) thì xác định là đủ, nếu chỉ kể được 1
trong 2 biện pháp trên thì xác định là không đủ, nếu trả lời không biết hoặc
ngoài 2 biện pháp trên thì xem là không biết.
- Đánh giá kiến thức: được tính như sau:
+ Biết đủ: 2 điểm: Tốt
+ Biết không đủ: 1 điểm; Không biết: 0 điểm: Không tốt
+Bà mẹ được đánh giá là biết đủ khi đạt 8 điểm
+Bà mẹ được đánh giá là biết không đủ khi đạt < 8 điểm
+Bà mẹ được đánh giá là không biết khi đạt 0 điểm
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang:12
Báo cáo thực tập cộng đồng
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Tuổi của mẹ
Bảng 3.1. Phân bố nhóm tuổi của mẹ
Tuổi mẹ
Dưới 25 tuổi
Từ 25-35 tuổi
Trên 35 tuổi
Tổng cộng
n
7
20
3
30
Tỷ lệ %
23,33
66,67
10
100
Biểu đồ 3.1. Phân bố nhóm tuổi các bà mẹ
Nhận xét: Nhóm tuổi của mẹ dưới 25 tuổi: 23,33%, 25 - 35 tuổi: 66,67%, trên
10,0
20,0
23,33
100
Biểu đồ 3.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
Nhận xét: - Nghề nghiệp của mẹ chủ yếu là cán bộ : 26,67%
3.1.3. Trình độ học vấn của mẹ
Bảng 3.3. Trình độ học vấn của bà mẹ
Trình độ học vấn của bà mẹ
Mù chữ
Nhoùm 1 - YTCC44
n
0
Tỷ lệ %
0,0
Trang:14
Báo cáo thực tập cộng đồng
Tiểu học
THCS
THPT
TC,CĐ,ĐH
1
Tỷ lệ %
66,67
26,67
3,33
3,33
100
Nhận xét: Số bà mẹ có một con là chủ yếu chiếm 66,67%
3.1.5. Loại nhà vệ sinh
Bảng 3.5. Loại nhà vệ sinh
Loại nhà vệ sinh
n
Tự hoại
24
Thấm dội nước
3
Hai ngăn
3
Tự đào
0
Tổng
30
Nhận xét: Loại nhà vệ sinh chủ yếu là tự hoại 80,0%
Nhoùm 1 - YTCC44
Tỷ lệ %
80,0
10,0
Tổng
30
100
Nhận xét: Thời gian trẻ bắt đầu ăn dặm chủ yếu là từ 4- 6 tháng chiếm 70
Bảng 3.7. Nơi đi tiêu của trẻ
Trẻ có đi tiêu ở đâu
n
Trong bô
23
Trong bồn cầu
3
Khác
4
Tổng
30
Nhận xét: Trẻ có đi cầu chủ yếu là trong bô 76,6%
Tỷ lệ %
76,6
10,0
13,33
100
3.3. KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ HOẶC
NGƯỜI NUÔI DƯỠNG TRẺ VỀ TIÊU CHẢY
Bảng 3.8. Tỉ lệ bà mẹ hiểu biết chung về tiêu chảy
không
n
%
n
Trang:16
Báo cáo thực tập cộng đồng
Nước muối đường
0
0,0
Khác
3
10,0
Nhận xét: Khi bị tiêu chảy các bà mẹ sử dụng dung dịch ORS chiếm tỷ lệ cao
nhất 73,33%
Bảng 3.10. Hiểu biết của bà mẹ về cách xử trí tại nhà khi trẻ tiêu chảy
Cách xử trí của bà mẹ
Cho trẻ ưống nhiều nước hơn bình thường
Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng
Khi bị tiêu chảy chị có đưa trẻ tới CSYT
không?
Dùng thuốc cầm ỉa không
Cho uống thuốc kháng sinh
Kiêng ăn uống
Không biết
Nhận xét :
Số lượng
Tỷ lệ %
14
bị tiêu chảy chiếm 73,3 %, , một số bà mẹ sử dụng nước cháo muối 43,33%.
Qua kết quả này, phản ánh sự nhận thức của bà mẹ về tầm quan trọng của gói
ORS đối với bệnh tiêu chảy, thể hiện rõ chiến lược của chương trình Quốc gia
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang:17
Báo cáo thực tập cộng đồng
phòng chống tiêu chảy về bù dịch bằng đường uống khi trẻ em dưới 5 tuổi bị
tiêu chảy. Ngoài ra, các bà mẹ đã nhớ đến dung dịch thay thế(cháo muối, nước
muối đường,…) khi không có ORS. Đây là hệ quả tương đối khả quan của hoạt
động chương trình phòng chống tiêu chảy Quốc gia (CDD).
Khi trẻ bị tiêu chảy, việc xử trí ban đầu cho trẻ cực kỳ quan trọng, nếu biết
cách xử trí tốt sẽ giúp trẻ chóng lành bệnh và mau phục hồi lại sức khỏe của trẻ.
Những bà mẹ biết cách xử trí (điều trị) tiêu chảy tại nhà cần điều trị cho trẻ sớm
ngay cả trước khi đưa trẻ đến cơ sở y tế khám bệnh. Điều trị sớm tiêu chảy tại
nhà khi mới bị thường phòng được tình trạng mất nước, điện giải và suy dinh
dưỡng. Ngay cả sau khi sau khi trẻ bị tiêu chảy được khám và điều trị tại cơ sở y
tế, về nhà vẫn thường tiếp tục tiêu chảy trong những ngày sau đó, những đứa trẻ
này cần được điều trị tiếp tục tại nhà để tránh bị mất nước và suy dinh dưỡng
sau tiêu chảy. Nhiều trường hợp trẻ bị tiêu chảy chỉ cần điều trị tại nhà mà
không cần đi đến cơ sở y tế, điều này giảm bớt gánh nặng cho các cơ sở y tế địa
phương và tránh được những bệnh có thể lây lan.
Từ số liệu cho thấy có 73,33 bà mẹ đưa trẻ đi khám bệnh khi trẻ mắc tiêu
chảy; Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng 43,3%;. Các yếu tố này liên quan với kiến
thức của bà mẹ trong việc xử trí khi trẻ bị tiêu chảy. Như vậy hiểu biết của bà
mẹ khi trẻ bị tiêu chảy cũng ở mức độ khá, phù hợp so với số liệu của những
nghiên cứu khác.
là việc làm đơn giản, không tốn kém, dễ thực hiện nhưng để thay đổi được hành
vi này cũng cần có thời gian và chúng ta phải tác động liên tục thông qua truyền
thông giáo dục sức khỏe để góp phần phòng chống bệnh tật nói chung, tiêu chảy
nói riêng.
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang:19
Báo cáo thực tập cộng đồng
KẾT LUẬN
Qua quá trình thực tập chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Kiến thức
- Hiểu biết về sử dụng dung dịch tại nhà khi trẻ tiêu chảy: ORS: 73,33%,
Nước cháo muối 43,33%
- Hiểu biết về xử trí tại nhà khi trẻ mắc tiêu chảy: Đưa đến trạm y tế:
73,33%, 1,5% uống thuốc nam.
- Hiểu biết chung về tiêu chảy: Tốt: 100%.
Thái độ
- Thái độ của bà mẹ khi con bị tiêu chảy: Đúng: 100%
Thực hành về phòng tiêu chảy
Cho trẻ ưống nhiều nước hơn bình thường
Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng
Khi bị tiêu chảy chị có đưa trẻ tới CSYT
không?
Dùng thuốc cầm ỉa không
Cho uống thuốc kháng sinh
Kiêng ăn uống
KIẾN NGHỊ
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang:20
Báo cáo thực tập cộng đồng
Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị như sau:
Về phía chính quyền và ngành y tế:
- Quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa để y tế địa phương có thể triển khai tốt
các chương trình nâng cao sức khỏe cũng như phòng chống bệnh tiêu chảy.
- Trạm y tế tăng cường tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế tổ và người dân
về phòng chống tiêu chảy.
- Sẵn sàng thuốc, cũng như các trang bị khác để kịp thời xử trí khi có bệnh
nhân tiêu chảy tới khám và điều trị.
- Tổ chức các buổi tư vấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng chống
tiêu chảy.
Về phía người dân:
- Có ý thức tự giác trong việc phòng ngừa tiêu chảy cho bản thân, người
thân và bạn bè.
- Khi có người mắc tiêu chảy cần tìm hiểu, theo dõi và thông báo cũng
như đưa bệnh nhân tới cơ sở y tế khi cần thiết.
- Luôn luôn ý thức được việc: ăn chín uống sôi để phòng ngừa tiêu chảy.
Nhoùm 1 - YTCC44
Trang:21