1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bước sang ngưỡng cửa của thế kỷ 21, không chỉ riêng nước ta mà nhiều
nước trên thế giới vẫn đang phải tiếp tục đương đầu với thách thức của tình trạng
nghèo và suy dinh dưỡng (SDD). SDD là tình trạng cơ thể thiếu prôtein, năng lượng
và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh thường gặp nhiều nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu
hiện ở những mức độ khác nhau, không những gây ảnh hưởng đến sự phát triển thể
chất, tâm thần và vận động của trẻ, mà còn ảnh hưởng đến sức lao động của xã hội
sau này, trường hợp nặng có thể dẫn tới tử vong.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em bị
suy dinh dưỡng trên toàn cầu, trong đó 150 triệu trẻ em ở Châu Á, chiếm 44% tổng
số trẻ em dưới 5 tuổi (trích dẫn từ tài liệu [4 ]).
Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng (2007), tỷ lệ SDD
của trẻ em dưới 5 tuổi chung trong toàn quốc là 21,2%. Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X đã đề ra chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống
dưới 20% vào năm 2010 [15]. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay tỷ lệ SDD, đặc biệt là
SDD thấp còi là khá cao và có sự chênh lệch nhiều giữa các địa phương, thiếu vi
chất dinh dưỡng giảm chưa bền vững, nhiều vùng nghèo còn xảy ra tình trạng đói
ăn, thiếu thực phẩm rất bức xúc. Đây cũng là một trở lực quan trọng của phát tri ển
và hội nhập, nên rất cần phải đưa ra các giải pháp cụ thể phòng chống suy dinh
dưỡng cho các vùng khó khăn, tập trung ưu tiên cho những vùng có tỷ lệ SDD cao
là rất cần thiết.
Phú Đô, Yên Lạc là hai xã vùng miền núi của huyện Phú Lương. Đời sống
kinh tế của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn, công tác thực hiện chương
trình suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi đã và đang được thực hiện song hiệu
quả còn chưa cao. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em ở đây ra sao? Yếu tố nào ảnh
hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng đó? Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
- Thiếu dinh dưỡng protein, năng lượng
Thiếu protein, năng lượng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế
độ ăn không đảm bảo nhu cầu protein và năng lượng, tình trạng kèm theo là các
bệnh nhiễm khuẩn [33].
Về hình thái: suy dinh dưỡng thể teo đét (Marasmus) thường gặp nhất. Đó
là hậu quả của một chế độ ăn thiếu cả năng lượng và protein hoặc do cai sữa quá
sớm hoặc do trẻ ăn bổ sung không hợp lý.
Suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor) ít gặp hơn thể teo đét, thường là do
chế độ ăn quá nghèo protit nhưng tạm đủ các chất gluxit.
Ngoài ra có thể phối hợp giữa Marasmus và Kwashiorkor khi trẻ có biểu
hiện gầy đét nhưng có phù.
- Thiếu vi chất dinh dưỡng
Các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng là một vấn đề quan trọng của sức khoẻ
cộng đồng trong thập kỷ này, đựơc gọi là ''nạn đói tiềm ẩn'' vì khác với nạn đói
thông thường. Thiếu vi chất dinh dưỡng không gây nên cảm giác đói khát, nhưng
hậu quả của nó vô cùng lớn lao đối với sức khoẻ. Vì vậy, phòng chống thiếu vi chất
dinh dưỡng còn mang một ý nghĩa lớn cả về sản xuất, năng lực học hành, là một
chiến lược vì sức khoẻ và phát triển [11]. Các nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của
thiếu vi chất dinh dưỡng đến suy dinh dưỡng thể thấp còi, đặc biệt đáng chú ý là
ảnh hưởng do thiếu kẽm, sắt, vitamin A và thiếu iốt [30].
Thiếu vitamin A là một trong những bệnh dinh dưỡng quan trọng nhất ở trẻ
em vì nó gây ra những tổn thương ở mắt mà hậu quả có thể dẫn tới mù, đồng thời
thiếu vitamin A làm tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tử vo ng. Tầm quan
trọng của thiếu vitamin A và bệnh khô mắt đã được chứng minh bằng các số liệu
trong các bệnh viện và các cuộc điều tra dịch tễ học tại cộng đồng. Từ năm 1985
đến năm 1995, Viện Dinh dưỡng phối hợp với Viện Mắt Trung ương tiến hành điều
tra trên diện rộng về thiếu vitamin A và bệnh khô mắt cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh nói
chung là 0,72%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh có thể hoạt tính có tổn thương giác mạc là
phù cũng đươc ghi nhận rải rác ở một số địa phương vào những năm đầu của thế kỷ
20. Tuy nhiên, bệnh xảy ra trong những điều kiện nhất định (sau lũ lụt, lúa bị ngập
lâu trong nước, dùng gạo xay sát quá kỹ, giai đoạn giáp hạt). Thời gian gần đây
bệnh ít được ghi nhận, mặc dù ở một số địa phương, bệnh viêm đa dây thần kinh
không rõ nguyên nhân có một số triệu chứng tương tự thiếu vitamin B 1 đang
được tìm hiểu [18 ].
Có thể nói SDD bao gồm nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau, nhưng tình
trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng là thường gặp nhất. Do đó, nghiên
cứu của chúng tôi sẽ tập trung vào tình trạng suy dinh dưỡng ở dạng này.
1.1.4. Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em
dưới 5 tuổi
Có rất nhiều yếu tố có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng thiếu
protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó thực phẩm, sức khoẻ và chăm sóc
là bộ ba các thành tố thiết yếu trong chiến l ược phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ
em.
Nguyên nhân trực tiếp của suy dinh dưỡng trẻ em gồm ăn uống không hợp
lý và bệnh tật:
- Khẩu phần ăn
Các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn và trẻ em cho thấy
chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở Việt Nam.
Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả người lớn và trẻ em nước ta còn ở mức thấp so với
các nước trong khu vực [21]. Đối với trẻ em trên 2 tuổi thì hầu hết các gia đình cho
trẻ ăn cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhưng số bữa ăn hàng ngày thấp (trung bình
3 bữa/ngày). Ngay ở nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi cũng chỉ có 17,5% được ăn 3 bữa/
ngày. Tần xuất xuất hiện các thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa trong bữa ăn của trẻ
thấp, thường do điều kiện kinh tế gia đình hoặc do hiểu biết của bà mẹ về chăm sóc
dinh dưỡng trẻ em còn quá hạn chế (trích dẫn từ [21]). Kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Xuân Ninh tại Đồng Hỷ Thái Nguyên năm 2004 cho thấy c hỉ có 25%
nghèo khó giải quyết.
Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân cơ bản tác động đến tình
trạng dinh dưỡng của trẻ em như tiềm năng của đất nước, cơ cấu kinh tế xã hội,
đường lối
chính sách của mỗi quốc gia [12]. Mỗi yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ trẻ em có những nét riêng biệt trên mỗi vùng miền, mỗi địa phương, mỗi nước. Một số tác giả như Al - Hashem F. H [39], Diouf S và CS [44] cũng
đưa ra nhận định, SDD có sự khác nhau ở các vùng, các địa phương.
Trẻ em bị suy dinh dưỡng nếu không đ ược chăm sóc sẽ có thể dẫn đến tử
vo ng. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, trong số 11,6 triệu trường hợp
tử vo ng hàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển thì 6,3 triệu
(54%) có liên quan đến thiếu dinh dưỡng [64]. Nguyên nhân của suy dinh
dưỡng và tử vo ng có thể tổng hợp như sau:
Biểu hiện
SUY DINH DƢ ỠNG VÀ TỬ VONG
Nguyên nhân
trực tiếp
Nguyên nhân
quan trọng
Thiếu ăn
Trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh
thì khả năng phát triển không khác nhau giữa các chủng tộc. Theo khuyến nghị của Tổ
chức Y tế Thế giới, các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân
nặng theo tuổi (W/A), chiều cao theo tuổi (H/A), cân nặng theo chiều cao (W/H). Thiếu
dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (dưới 2SD) so với quần thể tham khảo NCHS (National Center For Health Statistics) của
Hoa Kỳ.
Bảng 1.2. Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Chỉ tiêu
Phân loại
Cân nặng/ tuổi
Chiều cao/ tuổi
(Nhẹ cân W/A)
(Thấp còi H/A)
Bình thường
Cân nặng/ chiều
cao (Gầy còm
W/H)
- 2SD
- 2SD
- 2SD
thể nhẹ cân (Underweight). Đây là chỉ tiêu được dùng sớm nhất, phổ biến nhất và
tiện dụng cho phép nhận định tình trạng dinh dưỡng nói chung, song có nhược điểm
là không phân biệt đ ược suy dinh dưỡng mới xảy ra hay kéo dài đã lâu.
+ Chỉ tiêu chiều cao theo tuổi thấp dưới -2SD phản ánh tình trạng thiếu dinh
dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị còi cọc (thể thấp còi Stunting).
+ Cân nặng theo chiều cao thấp so với điểm ngưỡng dưới -2SD theo quần thể
tham khảo NCHS phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm cho đứa trẻ bị
ngừng lên cân, tụt cân, trở nên gày còm (Wasting).
Bảng 1.3. Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng trẻ em dưới 5 tuổi
Mức độ thiếu dinh dƣỡng theo tỷ lệ %
Chỉ tiêu
Thấp
Trung bình
Cao
Rất cao
Thấp còi (Stunting)
< 20
20 - 29
thịt, cá, trứng, sữa... và nguồn thức ăn nguồn gốc thực vật như đậu, đỗ đặc biệt là
đậu tương.
Nhóm III: nhóm giàu chất béo gồm mỡ, bơ, dầu ăn và các chất có nhiều dầu
như vừng, lạc.
Nhóm IV: nhóm rau, quả cung cấp vitamin, chất khoáng, chất xơ.
1.3.2. Tính thành phần các chất dinh dưỡng trong khẩu phần
- Thành phần các chất dinh dưỡng trong mỗi loại thực phẩm được tính theo
công thức [2]:
Số gam thực phẩm x hàm lượng X (tra bảng)
Lượng chất X=
100
Ví dụ: Tính giá trị dinh dưỡng trong 500g gạo:
500 x 7,9
Số gam Protit =
= 39,7g
100
1.3.3. Tính tỷ lệ cân đối các chất dinh dưỡng [2]
- Cân đối giữa các chất sinh năng lượng.
Số gam protit x 4,1 x 100
+ Tỷ lệ % năng lượng do protit cung cấp
=
Calo chung
Số gam lipit x 9,3 x 100
+ Tỷ lệ % năng lượng do lipit cung cấp =
Calo chung
Số gam gluxit x 4,1 x 100
Số calo khẩu phần x 100
Ví dụ: Mức đáp ứng nhu cầu về năng lượng
=
Số calo nhu cầu
1.4. Tình hình suy dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi
1.4.1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho biết hơn 1/4 trẻ em
dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân, cuộc sống đang bị đe doạ. Dinh
dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca tử vo ng là trẻ
em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm. Theo báo cáo, kể từ năm 1990 tỷ lệ trẻ em
dưới 5 tuổi thiếu cân chỉ giảm nhẹ, đây là bằng chứng cho thấy thế giới đã không
làm tròn nhiệm vụ với trẻ em [22]. Mặc dù đã có tiến bộ ở một số quốc gia, nhưng
trong 15 năm vừa qua các quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảm được
1,5% trẻ em thiếu cân. Hiện tại, 27% trẻ em ở các nước đang phát triển bị thiếu cân
(khoảng 14 triệu trẻ em). Gần 3/4 trẻ em thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10
quốc gia và hơn một nửa số đó sống ở 3 nước: Bănglađét, Ấn Độ, Pakixtan [46].
Năm 2004, tỷ lệ trẻ từ 0-59 tháng tuổi bị thiếu cân ở Bănglađét là 48% [43], Ấn Độ là
47% [54] và ở Pakixtan là 38% [55]. Những con số này mới chỉ là phần nổi của
tảng băng.
Các cuộc điều tra của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy tỷ lệ suy dinh
dưỡng có sự chênh lệch nhiều giữa vùng nông thôn và thành thị. Kết quả cuộc khảo
sát về tình hình kinh tế xã hội quốc gia ở Indonesia năm 2003 cho thấy tỷ lệ suy
dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở vùng thành thị là 25%, trong khi đó ở nông thôn là
30% [56]. Tại Kenya, theo báo cáo chung năm 2003, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở thành
thị là 13% còn ở nông thôn là 21% [42]. Báo cáo của UNICEF năm 2000 cho thấy
tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi tại Iraq giữa vùng thành thị và nông thôn
cũng có sự khác biệt (ở thành thị là 15%, nông thôn 18%) [ 52].
Báo cáo của UNICEF cho biết chỉ có hai khu vực trên thế giới đang đi đúng
52
52
Miến Điện
43
43
39
Indonesia
-
34
34
Malaysia
23
19
19
Philipin
1995
Nam Á
Cận sa mạc Châu Phi
49,3
31,1
2020
Bi quan
40,3
32,4
2020
Trung bình
37,4
28,8
2020
Lạc quan
34,5
25,7
Khu vực Đông Nam Á
22,9
13,1
1.4.2. Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam
Suy dinh dưỡng trẻ em trong những năm qua và hiện nay vẫn đang là vấn đề
phổ biến. Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam từ năm 1985 đến
năm 2007 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong cộng đồng đã giảm, tuy
nhiên vẫn ở mức cao hoặc rất cao so với tiêu chuẩn phân loại suy dinh d ưỡng cộng
đồng ở cả 3 thể: thể nhẹ cân, thể thấp còi và thể gày còm [34]. Tỷ lệ suy dinh dưỡng
trẻ em dưới 5 tuổi năm 1985 là 51,5%, năm 1995 là 40,7%, năm 2005 là 25,5% và
tỷ lệ này là 21,2% vào năm 2007. Phân bố của suy dinh dưỡng không đồng đều ở
các vùng sinh thái khác nhau.
Bảng 1.6. Tỷ lệ suy dinh d ưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt
Nam
qua các năm 1985 - 2007
Năm
(*)
Thể nhẹ cân
Thể thấp còi
Thể gàycòm
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ (%)
1985
2005
25,5
29,6
6,9
2007
21,2
33,9
7,1
(*) Nguồn Viện Dinh dưỡng 1985 - 2007
Tháng 10/1999, Trương Thị Sương và cộng sự tiến hành khám lưu động
cho 5.084 trẻ em, trong đó có 1.906 trẻ dưới 5 tuổi tại 18 xã thuộc 9 huyện của tỉnh
Quảng Nam cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 42,47%, trong đó suy dinh dưỡng
nặng và rất nặng chiếm 11,38%. Nhóm tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp nhất là từ
0 - 12 tháng, nhóm có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất là từ 24 - 36 tháng (56,0%)
[20].
Kết quả điều tra trên 749 trẻ từ 0 - 60 tháng tuổi của Đinh Văn Thức và
cộng sự tại hai xã Đặng Cương và Quốc Tuấn, huyện An Hải, Hải Phòng năm 2000
cho thấy tỷ lệ SDD thể còi cọc chiếm 42,32%, thể gày mòn là 4,41 % và thể phối
hợp còi cọc và gày mòn là 2 ,80 %. Tỷ lệ SDD cao nhất ở nhóm tuổi 13 - 24
27,2
37,6
7,6
Đông Bắc
23,8
36,2
7,6
Bắc Trung Bộ
25,0
36,2
7,6
Nam Trung Bộ
20,7
33,2
7,6
Y Thái Nguyên cho cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi của các dân tộc như sau (trích dẫn từ tài liệu [27]):
- Dân tộc Sán dìu (Thái Nguyên): 61,63%
- Dân tộc Mông (Hà Giang):
54,04%
- Dân tộc Thái (Sơn La):
45,83%
- Dân tộc Tày (Lạng Sơn):
46,82%
- Dân tộc Giấy (Lai Châu):
48,58%
- Dân tộc Mường (Hòa Bình):
44,76%
Năm 2003, các tác giả Hoàng Khải Lập và Nguyễn Minh Tuấn đã tiến hành
nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi dân
tộc thiểu số tại Ôn Lương - Thái Nguyên, kết quả cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở
trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Tày là 41,9%, cao hơn rất nhiều so với trẻ em người dân tộc Kinh cùng khu vực là 29,5%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng chung ở đây là
39,1%; suy dinh dưỡng thể thấp còi là 45,3%; suy dinh dưỡng thể gầy còm là 9,4%
[28].
1.5. Một số đặc điểm về địa điểm nghiên cứu.
Chƣơng 2
ĐỐI TƢ ỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Đối tƣợng và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
- Trẻ em dưới 5 tuổi.
2.1.2. Địa điểm
- Xã Yên Lạc, Phú Đô của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/06 - 5/08.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Thiết kế nghiên cứu bệnh chứng.
2.3.1. Phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả:
2
Tính theo công thức n =
Z (1
/ 2)
. p.(1 p)
d2
Tro ng đó: n là số bà mẹ có trẻ dưới 5 tuổi; z là độ tin cậy mong muốn
tương ứng với độ chính xác 0,05 thì z = 1,96; d là sai số ước lượng lấy là 0,05;
p là 0,4 (tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số, theo điều
tra tại một số khu vực miền núi phía Bắc là 40% [6]).
công thức:
P1=
OR.P2
2,5.0,345
=
= 0,57
OR.P2 (1 P2 ) 2,5.0.345 0,655
q1=1-p1
q2=1-p2
Thay vào công thức trên ta có n = 228.
Tỷ lệ nhóm bệnh : nhóm chứng là 1 : 1. Như vậy mỗi nhóm tối thiểu phải có
228 trẻ dưới 5 tuổi.
+Chọn mẫu:
Chọn nhóm bệnh: chọn toàn bộ trẻ em dưới 5 tuổi có cân nặng/tuổi -2SD tương
đồng với nhóm bệnh về tuổi, giới, dân tộc.
- Cỡ mẫu điều tra khẩu phần:
n
Z 2 . 2 .N
(e 2 .N ) ( Z 2 .
2)
Tro ng đó: n : Số khẩu phần cần điều tra
Z: Độ tin cậy (với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96)
+ Tỷ lệ SDD thể gầy còm (cân nặng/ chiều cao)
+ Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo tuổi
+ Tỷ lệ SDD theo giới
+ Tỷ lệ SDD theo dân tộc
+ Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo mức độ
- Nhóm chỉ số vể một số yếu tố nguy cơ
+ Yếu tố nguy cơ về nhân khẩu học: trình độ học vấn của mẹ, tuổi
mang thai của mẹ, dân tộc, điều kiện kinh tế, số con trong gia đình
+ Yếu tố nguy cơ thuộc về thực hành chăm sóc trẻ: thời gian cho bú sau
đẻ, thời gian ăn bổ sung, thời gian cai sữa, chất lượng của thức ăn bổ sung
+ Yếu tố nguy cơ thuộc về bản thân trẻ: cân nặng lúc đẻ thấp, NKHHC,
tiêu chảy
2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số nghiên cứu
Các chỉ tiêu kinh tế, văn hoá, xã hội:
- Hộ nghèo: Theo qui định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Quyết định số 170/2005 QĐ - LĐTBXH ngày 8/7/2005 về chuẩn hộ nghèo giai
đoạn 2005 - 2010. Chuẩn này đ ược tính theo mức thu nhập bình quân đầu ng- ười
trong hộ cho từng vùng cụ thể như sau:
+ Vùng nông thôn 200.000 đồng/tháng, 2.400.000 đồng/năm
+ Vùng thành thị 260.000 đồng/tháng, 3.120.000 đồng/năm
Trình độ học vấn:
- Mù chữ là những người không biết đọc, không biết viết
- Biết đọc biết viết là những người có học chưa hết lớp 4/10 hoặc 5/12
- Tiểu học là những người đã học hết lớp 4/10 hoặc 5/12
- Trung học cơ sở (THCS) là những người đã học hết lớp 7/10 hoặc lớp 9/12 trở
lên
- Trung học phổ thông (THP T) là những người đã học hết lớp 10/10 hoặc lớp
12/12 trở lên
hành nghiên cứu và luôn điều chỉnh lại sau mỗi buổi cân. Khi cân, trẻ chỉ mặc bộ
quần áo mỏng, với trẻ lớn phải bỏ giày dép. Kết quả được ghi theo đơn vị kilogam
với 1 số lẻ.
- Đo chiều cao: sử dụng thước đo bằng gỗ có độ chính xác đến 0,1cm. Kết quả
được tính theo đơn vị centimet với 1 số lẻ.