1.Cơ sở lí luận cho việc điều trị rối loạn lipid máu:
1.1. Lipid , apolipoprotein và lipoprotein máu
Lipid là một thành phần quan trọng của màng tế bào và các bào quan
trong tế bào. Lipid không tan trong nước nên được vận chuyển trong máu trong
các lipoprotein (LP) – đó là phức hợp của lipid với protein đặc hiệu gọi là
apolipoprotein. Bằng phương pháp siêu li tâm phân đoạn lipoprotein được phân
thành 4 loại dựa trên tỉ trọng của chúng, cụ thể như sau [1], [6], [28], [47]:
- Chylomicron: chứa chủ yếu là triglycerid, chylomicron, vận chuyển lipid
ngoại sinh (từ thức ăn) chủ yếu là triglycerid từ ruột đến cỏc mụ ngoại vi.
- Lipoprotein tỉ trọng rất thấp (very low density lipoprotein- VLDL):
vận chuyển các triglycerid nội sinh từ gan đến cỏc mụ khỏc.
- Lipoprotein tỉ trọng trung gian (intermediate density, lipoprotein- IDL):
- Lipoprotein tỉ trọng thấp (low density lipoprotein- LDL): vận chuyển
cholesterol từ gan đến cỏc mụ ngoại vi.
- Lipoprotein tỉ trọng cao: (high density lipoprotein- HDL): liên quan
đến việc vận chuyển cholesterol "trở về" từ các tổ chức ngoại vi về gan, rồi
được bài tiết ra ngoài.
Lipoprotein (a) hay Lp (a) là loại lipoprotein không xếp loại với chức
năng chưa biết. Nồng độ Lp (a) tăng cao là một yếu tố nguy cơ độc lập của
bệnh mạch vành.
Điều quan trọng là các thành phần của lipoprotein lưu thông là không
hằng định, chúng ở trạng thái năng động với sự thay đổi liên tiếp giữa các
nồng độ với nhau của những thành phần này [6], [47].
1
1.2. Chuyển hóa của lipid máu
Chuyển hóa của lipid lưu hành gồm 2 con đường chuyển hóa của lipid
ngoại sinh và chuyển hóa của lipid nội sinh được thể hiện ở hình dưới đây [6]:
Hình 1: Các con đường chuyển hoá lipoprotein.
1.2.1. Chuyển hóa lipid máu ngoại sinh:
Con đường này liên quan đến lipid thức ăn, xảy ra sau bữa ăn có nhiều
mỡ, là con đường vận chuyển triglycerid và cholesterol do thức ăn cung cấp
3
giống như CM, phần lớn triglycerid của nó được thuỷ phân bởi enzym LPL
giải phóng các acid béo cho tổ chức. Thành phần bề mặt còn lại của VLDL có
chứa cholesterol tự do, phospholipid, apo C và một phần apo E sẽ được
chuyển giao cho HDL, VLDL trở nên nhỏ hơn tạo thành IDL. Bên cạnh đó,
cholesterol tự do được chuyển giao cho HDL sẽ được este hoá và được đưa
ngược trở lại IDL bằng cách trao đổi với triglycerid của IDL.
IDL trở lại gan, một phần nhỏ gắn vào receptor đặc hiệu của LDL
(receptor B và E) của tế bào gan, sau đó được hấp thu vào tế bào và tiêu thụ
trong lysosom. Trong khi đó, một phần lớn IDL bị lấy đi triglycerid do tác
dụng của lipase gan HTGL sẽ chuyển thành LDL. LDL với thành phần chủ
yếu là cholesterol este và apo B100, giữ vai trò chính trong sự vận chuyển
cholesterol đến cỏc mụ ngoại vi. Tại đây, apo B100 sẽ nhận diện receptor B
đặc hiệu ở màng tế bào và gắn vào tế bào. Tiếp theo đó, LDL được đưa vào
trong tế bào bằng hiện tượng thực bào rồi bị thoỏi hoỏ trong lòng lysosom,
giải phóng cholesterol tự do. Cholesterol tự do trong tế bào có vai trò điều hoà
số lượng repceptor của LDL theo cơ chế feedback õm, gõy ức chế enzym
HMG - CoA reductase và ngăn cản quá trình tổng hợp cholesterol ở cỏc mụ
ngoại vi, đồng thời nó cũng kích thích enzym ACAT gây este hoá chính bản
thõn nó. Khi receptor của LDL ở màng tế bào bị thiếu hụt về số lượng hoặc bị
biến đổi về chất lượng, nồng độ LDL trong máu tăng cao và bị biến đổi như
bị oxy hoá hoặc glycosyl hoá. Khi đó đại thực bào có thể bắt giữ LDL biến
đổi này thông qua các receptor đặc hiệu. Sự lấy đi LDL ở thành động mạch
của đại thực bào đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của xơ
vữa động mạch. Khi đại thực bào đã chứa đầy các cholesterol este, chúng sẽ
trở thành những "tế bào bọt" (foam cell) - một thành phần của mảng xơ vữa.
HDL được tổng hợp ban đầu ở gan và một phần nhỏ ở ruột dưới dạng
những phân tử tiền chất. HDL mới sinh (nascent HDL) có dạng hình đĩa chứa
4
đựng phospholipid, cholesterol, apo E và apo A. Trong máu, HDL mới sinh đ-
huyết
Độ trong
huyết
tương
Tần số
xuất hiện
Mức độ
nguy hiểm
với XVĐM
I
CM↑ TG↑
Crem Rất hiếm ±
IIa
LDL↑↑ CT↑↑
Trong Thường gặp ++++
IIb
VLDL↑,
LDL↑↑
CT↑↑↑, TG↑↑
Đục Thường gặp ++++
III βVLDL
IDL↑
CT↑, TG↑↑
Đục Ít gặp +++
IV
VLDL↑
CT↑ hoặcBT,
TG↑↑
Đục sữa Thường gặp +++
V
Béo phì TG↑ CM ↑, VLDL ↑
Chứng ăn vô độ TG↑ CM ↑, VLDL ↑
Nghiện thuốc lá TG↑ và hoặc CT ↑
Nghiện rượu TG↑ và hoặc CT ↑
Dùng thuốc tránh thai TG↑ ↑ VLDL, ↓HDL
Thuốc ức chế bêta- giao
cảm
TG↑ ↑ VLDL, ↓HDL
Isotretinion (13- cis-
nicotinic acid)
TG↑ ↑VLDL,↑chylomicron,
↓HDL
8
Ngoài ra còn có các rối loạn lipid mỏu khỏc như: Tăng alpha- lipoprotein
huyết tương; giảm lipid huyết nguyờn phát (hạ alphalipoprotein máu gia đình,
không có bờta lipoprotein huyết) [47].
1.4. Tăng lipid máu và các bệnh tim mạch:
1.4.1. Rối loạn Lipid máu và bệnh vữa xơ động mạch:
Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế Giới: “VXĐM là sự phối hợp
những biến đổi của lớp nội mạc động mạch bao gồm sự tích tụ tại chỗ các
lipid phức hợp các glucid, máu và các sản phẩm của máu, tổ chức xơ và
canxi, kèm theo những biến đổi ở lớp trung mạc” [9], [10], [13], [47].
Rối loạn lipid mỏu đó từ lâu được coi là một yếu tố nguy cơ quan trọng
của bệnh vữa xơ động mạch và các bệnh mạch vành. Cholesterol là thành
phần quan trọng nhất trong các lipid ứ đọng ở mảng vữa. Cholesterol máu
càng cao thí tần xuất mắc các bệnh vữa xơ động mạch càng lớn, nhất là ở
những người cao tuổi [9], [10].
Cơ chế gây vữa xơ động mạch của LDL- C còn chưa được rõ ràng, đầy
đủ; nhưng sự oxy hóa LDL- C trong thành động mạch rất quan trọng trong
bệnh sinh của xơ vữa. Bình thường LDL- C được lấy ra khỏi huyết tương nhờ
11
1.4.2. Rối loạn lipid máu và tai biến mạch máu não:
Các tác giả đều chứng minh cholesterol toàn phần có giá trị báo hiệu sự
xuất hiện các TBMMN khi nó kết hợp với các yếu tố nguy hại khác, đó là
LDL- C. Khi tỷ lệ HDL- C càng cao và LDL- C càng thấp thì càng ít có khả
năng bị TBMMN [20], [23], [35].
Theo Katz và Dauber, trên 120 000 tử vong do tổn thương TBMMN,
đó cú 75.000 trường hợp do nguyên nhân VXĐM não [4], [5].
1.4.3. Rối loạn lipid máu và tai biến mạch vành:
Các nghiên cứu về nồng độ cholesterol máu và nguy cơ bệnh mạch
vành cũng đã minh chứng rằng: có sự tỉ lệ thuận với nồng độ cholesterol
huyết tương và tai biến mạch vành [22], [24], [32], [42], [45]. Nghiên cứu
Frammingham cho thấy tai biến mạch vành là 1 khi cholesterol máu <2g/l,
tăng lên 2,25- 3,25 khi cholesterol máu tăng lên 2,4- 2,5 g/l. Nguy cơ tử vong
do bệnh mạch vành tăng lên gấp 3 lần khi cholesterol máu là 3 g/l. Nghiờn
trên đã cho thấy có sự tương quan tỉ lệ thuận giữa nồng độ cholesterol huyết
tương (đặc biệt là LDL- cholesterol) và nguy cơ cao của bệnh mạch vành là
chắc chắn; trái lại, có sự tồn tại mối liên quan nghịch đảo giữa HDL-
cholesterol và nguy cơ bệnh mạch vành [29].
Về điều trị, Nghiên cứu LRC (Lipid Research Clinic Coronary Primary
Prevention Trial, 1984) trên 3806 nam giới theo dõi trong 7- 10 năm đã cho
thấy: nếu làm giảm được 1% cholesterol thì giảm được 2% nguy cơ bệnh
mạch vành, nếu làm giảm được 20 % cholesterol thì giảm được 40% nguy cơ
này, với cholesterol >1,8 g/l thì cứ tăng 0,1 g sẽ tăng 5% tử vong chung và
9% tử vong do tim mạch. Nghiên cứu HHS (Helsinhshi Heart Study, 1987)
trên 4081 người thấy cứ làm tăng 0,01 g/l HDL- C thì giảm được 2- 4 % nguy
cơ bệnh mạch vành. Gould và cs (l995), phân tích 35 nghiên cứu trên 77.257
12
bệnh nhân, theo dõi trong 2- 12 năm, thấy cứ giảm 10% cholesterol thì giảm
được l0 % tử vong chung và 13 % tử vong do bệnh mạch vành [5], [6].
(130-159mg/dl)
Tăng > 6,2 mmol/l
(> 240 mg/dl)
4,5- 11,3 mmol/l
(400-1000 mg/dl)
> 4,1 mmol/l
> 160 mg/dl
Tăng cao > 11,3mmol/l
(> 1000mg/dl)
Rối loạn lipid máu kiểu hỗn hợp khi cholesterol > 6,2 mmol/ l và TG
trong khoảng 2,26- 4,5 mmol/l.
13
Tuy nhiên việc đánh giá mức cholesterol thích hợp với từng cá thể phải
tính đến sự có mặt của các yếu tố nguy cơ khác (các yếu tố nguy cơ đã được
xác định là góp phần gây bệnh động mạch vành); nhưng phần lớn các bệnh
nhân bị bệnh động mạch vành có cholesterol toàn phần và LDL - C ở mức
giới hạn. Vì vậy nhiều chuyên gia coi cholesterol huyết tương > 160mg/dl là
mức giá trị lý tưởng cao.
2. Các thuốc sử dụng trong điều trị rối loạn lipid máu:
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy hạ thấp nồng độ cholesterol máu vẫn là
phương pháp chủ yếu để phòng và điều trị bệnh tim mạch [17], [18]. Đến nay,
nhiều thuốc điều trị rối loạn lipid máu được dựng trờn lâm sàng nhưng chưa
có thuốc nào có tác dụng tốt trên tất cả các typ của rối loạn lipid. Dựa vào tác
dụng điều chỉnh liporotein, thuốc được chia làm 2 nhúm chính [12]:
- Thuốc làm giảm hấp thu và tăng thải trừ lipid: Cholestyramin (chế
phẩm Questran gói bột 4g), cholestyramin (Colestid) gói 5g, neomycin,
ezetimib,
- Thuốc ức chế sinh tổng hợp lipid: Acid nicotinic; dẫn xuất của acid
fibric như: Regardin, Lipanthyl, Secalip, Bezalip, Lipanar; dẫn xuất statin
như: Lovastatin (mevacor), Pravastatin, Simvastatin; Probucol.
- Ứng dụng trong điều trị :
+ Cholestyramine resin (QUESTRAN) hộp 378 g dạng bột, hay gói 4 g:
không tan trong nước, rất hút ẩm.
15
+ Colestipol hydrochloride (COLESTID) có dạng chai 300 hay 500g,
gói 5g, và viên nén 1g; đồng thời cũng được điều chế ở dạng có mùi vị thơm
(FLAVORED COLESTID): tan trong nước và cũng rất hút ẩm.
Cả hai loại resin trước tiên đều được trộn với một loại dung dịch rồi
uống ở dạng sệt sệt. Tuyệt đối không nên nuốt các nhựa resin dạng không trộn
với nước. Hàng ngày, người ta bắt đầu bằng một thìa café (khoảng 5g) vào
bữa tối (1/ 2 giờ trước, trong hoặc sau bữa ăn), tăng liều dần nếu cần có thể
tới 10- 15g. Uống nhiều nước để tránh táo bón.
- Chỉ định: Điều trị chứng tăng cholesterol máu gia đình ở người trẻ,
thường phối hợp thuốc này với các thuốc khác như statin hoặc nicotinic
acid. Thuốc này an toàn, không có tác dụng phụ nghiêm trọng và hạ LDL-
C hiệu quả.
- Ezetimib (ZETIA): liều trung bình 10mg/ngày, sử dụng vào bất kỳ
thời gian nào, không liên quan đến bữa ăn. Ezetimib có thể sử dụng với bất kỳ
loại thuốc nào ngoại trừ thuốc có gắn acid mật.
Cỏc nhóm thuốc trên có tác dụng điều trị tăng lipoprotein máu, nhưng
bên cạnh đú cũn có tác dụng phụ như: rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, buồn nôn,
táo bón, và thuốc cũn cú những chống chỉ định ở những bệnh nhân có: suy
thận, phụ nữ có thai, đái tháo đường, v.v
2.2. Nhóm thuốc ức chế sinh tổng hợp lipoprotein:
2.2.1. Acid nicotinic (niacin):
Acid nicotinic là một thuốc đầu tiên làm giảm lipid máu vào năm 1955.
Acid nicotinic (acid pyridine- 3- carboxylic) là vitamine B phức hợp tan trong
nước, nó làm giảm lipid huyết không liên quan chức năng của một vitamin.
Dùng acid nicotinic làm tăng mức HDL và giảm mức VLDL và LDL. Thuốc
16
(mức cholesterol và triglyceride cùng tăng cao); ở liều cao thuốc này đã ngăn
chặn viêm tụy có triglyceride huyết cao và tăng chylomicron huyết mà không
đáp ứng với gemfibrozil.
Tác dụng không mong muốn: Acid nicotinic gây ra rất nhiều tác dụng
phụ như: dồn máu dữ dội gây đỏ ửng cùng với ngứa ở mặt và phần trên cơ
thể; da khô; rối loạn tiêu hóa (khó tiêu, nôn, tiêu chảy); có thể tăng nguy cơ bị
loét dạ dày (đây là chống chỉ định của thuốc này); tăng transaminase huyết
thanh (AST và ALT), có thể xuất hiện bệnh vàng da và các bệnh lý về gan;
làm tăng glucose huyết khi đói và giảm dung nạp glucose; thuốc còn làm tăng
nồng độ acid uric gây ra bệnh Gút. Những tác dụng phụ hiếm gặp khác bao
gồm sự mất thị giác, chất độc làm giảm thị lực, loạn nhịp tim kèm rung tâm
nhĩ, tụt huyết áp ở tư thế đứng. Không nên dựng thuốc cho phụ nữ có thai.
Chống chỉ định:
Tuyệt đối: Bệnh gan mạn, bệnh gout cấp.
Tương đối: Tiểu đường, tăng acid uric, loét đường tiờu hoỏ.
2.2.2. Dẫn chất của acid fibric:
Cơ chế tác dụng: Cơ chế làm giảm nồng độ lipoprotein, hay tăng nồng
độ HDL- C của nhóm thuốc này vẫn còn chưa rõ ràng. Những nghiên cứu gần
đây đã chứng minh có sự tương tác giữa thuốc với các receptor hoạt hoá chất
tăng sinh peroxisome PPARs
(α, γ và δ) là chất kiểm soát sự sao chép gen
điều hoà chuyển hoá glucid, lipid [42]. Fibrat làm tăng HDL- C do tăng thủy
phân VLDL gián tiếp qua việc tăng lipoprotein lipase và tăng thải LDL, tăng
18
thủy phân VLDL dẫn đến tăng biến đổi IDL thành LDL. Những thay đổi về
thành phần cholesterol và triglyceride của LDL, gián tiếp làm biến đổi ái lực
của LDL với LDL receptor dẫn đến giảm mức LDL. Ở một số bệnh nhân tăng
LDL receptor ở gan sự do ức chế sinh tổng hợp cholesterol. Thêm vào đó,
gemfibrozil có thể kích thích tổng hợp apoA- I [30], [34], [40], [44].
làm hạ VLDL và tăng HDL- C) [25], [30], [34], [40], [44].
Dược động học: Các thuốc fibrat đều hấp thu nhanh qua đường tiờu
hoá (> 90%) khi dùng thuốc vào bữa ăn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau
1- 4 giờ uống thuốc. Trên 95% thuốc được gắn vào protein trong huyết tương
(chủ yếu là albumin). Thời gian bán huỷ từ 1,1 giờ (gemfibrozil) đến 20 giờ
(fenofibrat). Thuốc gemfibrozil có thể qua được hàng rào rau thai… Các
fibrat được bài tiết qua nước tiểu, chỉ một lượng nhỏ theo phõn [30], [34],
[40], [44].
Tác dụng không mong muốn của thuốc và tương tác thuốc :
Các tác dụng không mong muốn xảy ra khoảng 5% đến 10%: thường
gặp nhất (khoảng 5%) có rối loạn tiêu hóa; hiếm khi gặp như phát ban, nổi mề
đay, rụng tóc, đau cơ, mệt mỏi, đau đầu, bất lực, và thiếu máu; Thuốc làm
tăng các transaminase ở gan và giảm alkalin phosphatase kiềm; tăng tạo sỏi
mật; tác động lờn cỏc chất chống đông [30], [34], [40], [44].
Suy thận cũng như rối loạn chức năng gan là những chống chỉ định của
các thuốc acid fibric. Riêng gemfibrozil được sử dụng để điều trị bệnh tăng
lipid huyết ở những bệnh nhân bị suy thận, nhưng nó nờn được sử dụng với
sự thận trọng và ở liều thấp. Trẻ em và phụ nữ có thai không nên sử dụng
thuốc này [30], [34], [40], [44].
Chống chỉ định:
Tuyệt đối: Bệnh thận nặng, bệnh gan nặng [30], [36].
Ứng dụng trong điều trị :
20
Clofibrate (ATROMID- S): uống từ 1,5g đến 2g/ ngày, chia 2- 4 lần.
Đạt nồng độ đỉnh sau 4-6 giờ uống thuốc. Thời gian bán hủy là 12- 22 giờ.
Hiện nay thuốc hiếm được sử dụng do không hạ được sự cố tim mạch mà còn
tăng tỉ lệ tử vong toàn bộ trong đó có tỉ lệ tử vong thứ phát do phải mổ cắt túi
mật vì sỏi mật [30], [34], [36], [44]. Mặc dù vậy, thuốc vẫn còn hữu ích ở
bệnh nhân bị loạn β-lipoprotein huyết tiên phát (tăng lipid máu typ III) không
đáp ứng với gemfibrozil [.
[18], [30], [34], [36], [44] .
- Cơ chế tác dụng:
Các thuốc nhóm statin là những chất ức chế cạnh tranh với hydroxy- 3-
methylglutaryl coenzyme A reductase (HMG CoA), làm ngăn cản chuyển
HMG- CoA thành mevalonat, tiền chất của cholesterol. Các statin ức chế sinh
tổng hợp cholesterol, làm giảm cholesterol trong tế bào gan nên làm tăng gen
tổng hợp receptor LDL ở màng tế bào gan, sự thoái biến receptor LDL cũng
giảm đi, kết quả là tăng số lượng receptor LDL trên bề mặt tế bào gan làm
tăng gắn bắt LDL từ huyết tương dẫn đến làm giảm lượng LDL trong máu.,
kích thích tổng hợp thụ thể LDL và qua đó làm tăng vận chuyển LDL từ máu.
Thêm nữa, statin làm giảm LDL trong máu do tăng loại trừ các tiền thân của
LDL (VLDL và IDL) và giảm sản xuất VLDL của gan [2], [30], [34], [44].
Kết quả cuối cùng của quá trình hóa sinh này là giảm nồng độ
cholesterol trong huyết tương. Bình thường HMG- CoA reductase không bị
ức chế hoàn toàn, do đó vẫn có đủ acid mevalonic cho quá trình chuyển hóa
[2], [30], [34], [44].
22
- Tác dụng của thuốc trên nồng độ lipoprotein huyết tương:
Tất cả các statin đều khá hiệu quả trong việc làm giảm LDL- C. Các
thuốc này làm giảm LDL- C 20- 60% tuỳ thuộc vào liều lượng. Có sự khác
nhau về hiệu lực hạ lipid máu giữa các thuốc này [2], [17], [18], [30], [34] :
Bảng 4: Mức giảm LDL của các thuốc trong nhóm statin [30], [34].
Mức LDL giảm
Thuốc
20 - 25% 26 - 30% 30 - 35% 36 - 40% 41 - 50% 51 - 60%
Rosuvastatin
- - 5 10 20, 40
Atorvastatin
- - 10 20 40 80
Fluvastatin
trong xơ vữa động mạch; giảm thiểu nguy cơ bị đột quỵ, sa sút trí tuệ và bệnh
Alzheimer’s đồng thời cải thiện tỷ trọng xương ở các phụ nữ hậu mãn kinh.
Lovastatin giảm khả năng mắc các bệnh mạch vành cấp tính ở những bệnh
nhân có nồng độ cholesterol huyết tương tương đối thấp [17], [18], [30], [44].
Sự phối hợp thuốc trong điều trị : Ở những bệnh nhân uống statin,
cộng với nhựa resin gắn acid mật làm giảm cholesterol LDL- C từ 20% đến
25% , trong khi với acid nicotinic làm giảm thêm 15% đến 20% LDL- C. Sự
kết hợp của statin với nhựa resin gắn acid mật cộng với acid nicotinic có thể
làm giảm mức LDL- C tới 70% . Tuy vậy, các statin không nên dùng chung
với các fibrate (thuốc làm hạ triglyceride), vì sự kết hợp này có thể làm tăng
độc tính của statin lên rất cao(cho dù atorvastatin, thành phần chủ yếu của các
statin, cũng làm giảm rõ rệt nồng độ triglycerid trong máu) [30], [44].
Dược động học: Các statin đều hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa đạt
30- 85%, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được sau 1 đến 4 giờ đối với
mọi statin, thời gian bán hủy của các thuốc thay đổi từ 1đến 4 giờ ngoại trừ
24
atorvastatin và rosuvastatin là 20 giờ. Lovastatin, simvastatin và atorvastatin
ưa mỡ nên đi qua được hàng rào máu- não; fluvastatin, pravastatin ưa nước
hơn nờn khụng đi qua hàng rào mỏu- nóo. Pravastatin là thuốc ít độc tính nhất
trong nhóm statin vỡ nó khú xuyên qua màng các tế bào ngoài gan và có thể
bị giữ chặt trong gan sau khi uống [30], [44].
Tất cả các statin chuyển hóa chủ yếu ở gan (> 70%) thành các chất
chuyển hóa có hoặc không có hoạt tính, sau đó đào thải nhiều ra phân. Đào
thải qua thận (thải trừ trong nước tiểu) của fluvastatin là 5%, lovastatin 10%,
simvastatin 13%, pravastatin 20%, atorvastatin < 2% [30], [44].
- Chỉ định điều trị:
+ Rối loạn lipid máu typ IIa và IIb [2], [30], [44].
+ Dự phòng tiờn phỏt (cấp 1) biến cố mạh vành ở người tăng cholesterol
máu mà không cú cỏc biểu hiện lâm sàng rõ rệt về mạch vành nhằm: giảm nguy
cơ nhồi máu cơ tim, giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, làm chậm tiến