Đề tài " NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM " - Pdf 19



CHUYÊN ĐỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 1
Chương 1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh và tăng
cường năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh:
1.1.1 Các quan niệm về cạnh tranh:
Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Từ “cạnh tranh” được giải thích
là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức
hoạt động nhằm những lợi ích như nhau.
(1)
Trong tác phẩm “Quốc phú luận” của Adam
Smith, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi
cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra
thông qua thị trường và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị
trường. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh
buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh
tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao
nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra
được bất kỳ sự cố gắng lớn nào”.
Trong tác phẩm “Về nguồn gốc của các loài”, Charles Robert Darwin đã đề ra tư
tưởng “vật cánh thiên trạch, thích giả sinh tồn”, đó là sự mô tả hay nhất về sự cạnh
tranh trong giới sinh vật. Quả vậy, không có cạnh tranh thì không có sự tiến bộ của

phải là quá trình tĩnh”
Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự phát
triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia.
Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo ra các
phương tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và chất lượng cao
hơn. Từ đó, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người. Nhờ cạnh tranh đã
thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất, tạo ra những thành tựu mới trên
nhiều lĩnh vực.
Do sự phát triển của thương mại và chủ nghĩa tư bản công nghiệp cùng với ảnh
hưởng của tư tưởng kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem như là cuộc đấu tranh giữa
các đối thủ. Trong thực tế đời sống kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem là một
cuộc đấu tranh giữa các đối thủ với mục đích đánh bại đối thủ. Đặc biệt, trước xu thế
hội nhập như hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt và phức tạp hơn, trở
thành một vấn đề sống còn của doanh nghiệp, doanh nghiệp nào không thể cạnh tranh
được với đối thủ sẽ nhanh chóng bị đào thải ra thương trường.
1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh.
Theo Fafchamps, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó
có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị
trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng có chi phí thấp hơn thì
được coi là có năng lực cạnh tranh
Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 3
nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với
đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”
(2)
Theo PGS, TS Nguyễn Thị Quy, “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là
khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và

thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể sự bao được, nền kinh tế
phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên
nghiệp.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 4
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Là tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh
tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp có thể
kinh doanh một hoặc một số sản phẩm dịch vụ có năng lực cạnh tranh.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng:
1.1.4.1 Môi trường vĩ mô:
 Môi trường kinh tế:
Ngân hàng là một ngành chứa đựng rất nhiều rủi ro. Mỗi một bíên động bất lợi
của kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của một ngân hàng. Nếu
nền kinh tế có các chỉ số về lãi suất, lạm phát, tỷ giá biến động thì các chính sách,
chiến lược kinh doanh cũng sẽ thay đổi để hạn chế sự suy giảm của lợi nhuận. Đặc biệt,
nếu ban lãnh đạo của ngân hàng không đề ra được các chíên lược phù hợp với sự biến
động đó sẽ ngân hàng của mình dần bị thua lỗ.
 Môi trường chính trị- pháp luật
Một đất nước có môi trường chính trị ổn định, luật pháp được quy định rõ ràng,
minh bạch, sự thay đổi luật diễn ra không thường xuyên, phù hợp với thông

(3) Phát triển, cải cách kinh tế và năng lực cạnh tranh ở Việt Nam. Triển vọng và thách thức, Lê Đăng
Doanh www.fetp.edu.vn/events/theFilename/E041208V.ppt

lệ quốc tế sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng nói
riêng an tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, có khả năng phát huy hết tối đa

 Đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại đang chia nhau chiếc bánh thị trường. Do vậy,
một hành động của một đối thủ này để khai thác nhiều hơn phần thị trường đó thì sẽ
nhận được sự đáp trả của đối thủ khác để giành lại phần thị trường bị mất. Nếu cạnh
tranh giữa các đối thủ trong ngành mãnh liệt thì nguy cơ chiến tranh giá xảy ra, thị
trường bị thu hẹp, lợi nhuận bị giảm sút. Trong tương lai, cạnh tranh là giành cơ hội
chứ không phải là giành thị phần. Các nhân tố tác động đến mức độ ganh đua giữa các
đối thủ trong ngành bao gồm cấu trúc cạnh tranh ngành, các điều kiện nhu cầu và rào
cản rời ngành.
 Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Sự xuất hiện của những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là mối nguy lớn đe dọa đến
thị phần của các ngân hàng bằng cách đem vào ngành những năng lực sản xuất mới.
Do vậy nhận diện được các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là hết sức quan trọng để thiết
lập những rào cản ngăn chặn trước khi nó có thể xâm nhập. Những rào cản có thể bao
gồm: xây dựng lòng trung thành nhãn hiệu, khai thác lợi thế về chi phí thấp, tận dụng
tính kinh tế về quy mô, những quy định của chính phủ Các đối thủ cạnh tranh tiềm
tàng của ngân hàng như: các cá nhân, tổ chức có ý định thành lập ngân hàng của mình.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 6
 Khả năng của những sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm có thể thỏa mãn những nhu cầu tương tự
của khách hàng. Khả năng của sản phẩm thay thế có nguy cơ làm hạn chế khả năng đặt
giá cao và do đó có thể hạn chế khả năng sinh lợi của ngân hàng. Vì vậy, chiến lược
của ngân hàng sẽ được thiết kế để giành lợi thế cạnh tranh từ thực tế này. Ví dụ các sản
phẩm thay thế cho các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp như vàng, bất động sản,
chứng khoán
 Khả năng thương lượng của khách hàng (người vay)
Những người mua được xem như là một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu
cầu giá thấp hoặc yêu cầu cung cấp những dịch vụ tốt hơn. Ngược lại khi người mua ở
vị thế yếu hơn trong đàm phán thì ngân hàng có cơ hội thu được lợi nhuận cao hơn.

khách hàng vay, khách hàng gửi tiền cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân
hàng.
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
1.1.5.1 Chỉ tiêu về năng lực tài chính.
Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm
nhất định, thể hiện qua các chỉ tiêu:
 Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn:
Tiềm lực về vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và
khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó. Cách thức mà một ngân hàng có khả năng
cơ cấu lại vốn, huy động thêm vốn cũng là một khía cạnh phản ánh tiềm lực về vốn của
một ngân hàng.
 Chất lượng tài sản có:
Phản ánh sức khoẻ của một ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể hiện
thông qua các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và
khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hoá danh mục tín
dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn
 Mức sinh lợi:
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng phản
ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng. Chỉ tiêu mức sinh lợi có thể được
phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế,
tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), các chỉ tiêu về mức sinh lợi
trong mối tương quan với chi phí
 Khả năng thanh khoản:
Được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán tức thì, khả năng
thanh toán nhanh, đánh giá định tính về năng lực thanh khoản của các ngân hàng
thương mại, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương
mại.
1.1.5.2 Năng lực công nghệ.
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một

kiện cạnh tranh hiện nay.
Hệ thống kênh phân phối được thể hiện ở số lượng các chi nhánh và phòng giao
dịch và sự phân bố các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ. Một ngân hàng có mạng lưới chi
nhánh hay phòng giao dịch rộng lớn dễ dàng tiếp cận được với nhiều khách hàng ở
nhiều vùng địa lý khác nhau, điều đó cũng làm cho nhiều người biết đến ngân hàng
hơn. số lượng khách hàng giao dịch càng tăng đồng nghĩa với việc năng lực cạnh tranh
của ngân hàng tăng.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 9
Mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cũng là một chỉ tiêu phản ánh năng
lực cạnh tranh của một ngân hàng. Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp
phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của ngân hàng sẽ là một ngân hàng
có lợi thế cạnh tranh. Sự đa dạng hoá các dịch vụ một mặt tạo cho ngân hàng phát triển
ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ quy mô. Như sự đa
dạng hóa các dịch vụ cần phải được thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực
hiện có của ngân hàng. Nế không, việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến ngân
hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.
1.2 Khái niệm về chiến lược cạnh tranh.
1.2.1 Khái niệm về chiến lược:
Năm 1962, chiến lược được Chandler định nghĩa như là: “việc xác định các mục
tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành
động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”.
Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất
nhiều những thay đổi nhanh chóng: “chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ
chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng
các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả
mãn mong đợi của các bên hữu quan”
1.2.2 Khái niệm về chiến lược cấp đơn vị kinh doanh.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp
ngân hàng giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của nó vào

1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Năng lực cạnh tranh (lợi thế cạnh tranh) của một doanh nghiệp sẽ xác định
nguyên nhân tại sao các công ty trong cùng một ngành nhưng lại có một số công ty thì
thành công còn một số khác lại thất bại.
Như là một quy luật đào thải tự nhiên, những doanh nghiệp nào không thích nghi được
với cơ chế kinh doanh, không đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp khác thì sẽ
cầm chắc sự thất bại.
Ngược lại, sự cạnh tranh lại giúp thúc đẩy sự phát triển của những doanh nghiệp
có khả năng nắm bắt thời cơ, phát huy những thế mạnh của mình và hạn chế những bất
lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã làm cho môi trường toàn cầu trở nên năng
động hơn, bản chất của sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành và các doanh
nghiệp cũng có sự thay đổi nhanh chóng:
- Các doanh nghiệp giờ đây không còn cạnh tranh trong phạm vi một nước mà
thậm chí khi hoạt động tại một quốc gia thì công ty cũng phải đối mặt với sự cạnh
tranh toàn cầu với nhiều các đối thủ mạnh hơn.
- Cạnh tranh dựa vào quy mô đã không còn có hiệu quả như trước đây, ngược lại
những doanh nghiệp với quy mô nhỏ có sự linh hoạt và năng động hơn trước sự thay
đổi của môi trường kinh doanh sẽ hoạt động mang lại hiệu quả hơn.
- Nếu như trước đây các doanh nghiệp có thể cạnh tranh dựa vào các yếu tố công
nghệ hiện đại, dựa vào khả năng tiếp cận với các nguồn vốn lớn hay nguồn nguyên vật
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 11
liệu thì giờ đây toàn cầu hoá đã làm cho những yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh truyền
thống của doanh nghiệp cũng phải thay đổi theo.
- Ngày nay các doanh nghiệp có xu hướng tạo ra lợi thế cạnh tranh của mình trên
cơ sở nguồn nhân lực chiến lược, mang tính độc đáo, khó có khả năng bị sao chép như
các yếu tố cạnh tranh khác.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ giúp cho bản thân các
doanh nghiệp trở nên tốt hơn, hoàn thiện hơn trong việc thực hiện các chức năng, vai

1.3.2 Các tiêu chuẩn xác định năng lực cốt lõi:
- Đáng giá: cho phép ngân hàng khai thác các cơ hội và hoá giải các đe doạ từ
môi trương bên ngoài. Bằng việc khai thác một cách hữu hiệu các cơ hội, ngân hàng có
thể tạo giá trị cho khách hàng.
- Hiếm: khả năng này không có hoặc rất ít đối thủ cạnh tranh có được khả năng
đó.
- Khó bắt chước: là những khả năng mà các đối thủ không dễ dàng phát triển
được nó.
- Không thể thay thế: có nghĩa là không có chiến lược tương đương. ……………………………………………………….

nước ngoài của ngân hàng Nhà nước, đồng thời, mới xâm nhập vào thị trường Việt
Nam thì ngân hàng nước ngoài có mạng lưới chi nhánh rất ít, thậm chí chỉ vài chi
nhánh.
Do sự phát triển của công nghệ ngân hàng hiện đại, việc mở rộng mạng lưới không
nhất thiết phải thành lập thêm chi nhánh mới. Tuy nhiên để cạnh tranh có hiệu quả thì
vẫn phải mở rộng thêm mạng lưới chi nhánh. Với những tốn kém chi phí cho việc mở
và vận hành một chi nhánh mới tại các tỉnh, thành phố khác ở xa trụ sở chính tại Hà
Nội hay Tp. Hồ Chí Minh, với những đối tượng, điều kiện khắt khe trên các chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài không dễ làm được. Trong khi đó đây là một lợi thế của các
NHTM Việt Nam. Nhất là Agribank hiện nay có tới 2.200 chi nhánh các loại trong toàn
quốc, đến tận các thị tứ, liên xã Nhưng hiện nay gần 50 % số chi nhánh Ngân hàng
nước ngoài chỉ có Chi nhánh hoặc ở Hà Nội, hoặc ở TP.Hồ Chí Minh. Khoảng 4-5
ngân hàng có chi nhánh tại hai nơi. Một số ngân hàng Liên doanh tình tình có khá hơn,
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 14
nhưng cũng chỉ có mạng lưới ở một vài chi nhánh chính. Mà một trong các lợi thế cạnh
tranh là phải gần khách hàng, hiểu khách hàng.
Không những thế, với gần 800 máy ATM của các NHTM Việt Nam có đến thời
điểm hiện nay đều đã và đang chiếm các vị trí thuận lợi cho giao dịch, như: khách sạn
lớn, trung tâm thương mại, siêu thị, sân bay,…. Sau này các Ngân hàng có vốn đầu tư
nước ngoài có lắp đặt máy ATM sẽ rất khó tìm được vị trí lắp đặt thuận lợi cho giao
dịch đối với khách hàng như hiện tại.

Số lượng chi nhánh và phòng GD của một số NHTM năm
2006
832
303
207
1568
146

giá hầu hết các nguyên liệu cơ bản đứng ở mức cao hoặc có xu hướng tăng, đã tác động
làm tăng chi phí nhập khẩu, tăng mặt bằng giá cả và trong nước.
Sự biến động thường xuyên của lạm phát ở mức lớn đã khiến việc đánh giá rủi
ro tín dụng và rủi ro thị trường của các nhà quản trị ngân hàng thiếu chính xác. Yếu tố
lạm phát làm tăng rủi ro đầu tư và làm suy yếu thông tin để lập kế hoạch, đầu tư, thẩm
định tín dụng. Lạm phát cao ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng
thương mại.
- Tác động của lãi suất và tỷ giá:
Lãi suất và tỷ giá càng biến động thì rủi ro lãi suất và tỷ giá càng lớn. Khả năng
tổn thương của hệ thống ngân hàng sẽ càng cao nếu nợ nước ngoài ở mức cao và tỷ lệ
đầu tư nước ngoài so với tổng đầu tư ở mức cao. Biến động tỷ giá có thể gây khó khăn
cho các ngân hàng do mất cân đối về loại tiền giữa tài sản có và tài sản nợ. Thực tiễn
cho thấy lãi suất quốc tế tăng lên làm cho hệ thống ngân hàng của các nền kinh tế mới
nổi dễ bị tổn thương do luồng vốn chảy ra, ngược lại lãi suất quốc tế giảm xuống sẽ
khiến luồng vốn chảy vào và có thể gây ra rủi ro bùng nổ tín dụng.
- Sự biến động của các ngành kinh tế khác :
Trước thách thức hội nhập nhiều doanh nghiệp ra đời, đồng thời cũng sẽ có
nhiều doanh nghiệp giải thể, phá sản. Vì vậy nhu cầu vay, khả năng thu hồi nợ vay
cũng sẽ có nhiều biến động, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đến khả năng sinh lợi
của ngân hàng. Nếu nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp làm ăn có lời thì khả năng
thu hồi vốn vay cao, nhưng ngược lại, nếu nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ thì rủi ro tín dụng là rất cao.
 Môi trường pháp lý đầy biến động
Trong lĩnh vực kinh tế nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng, môi trường
pháp lý luôn luôn biến động, là do:
 Có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành chồng chéo,
mâu thuẫn nhau đòi hỏi phải luôn được rà soát, thay đổi.
Chẳng hạn như: các quy định về đảo nợ, lãi suất nợ quá hạn, cho vay hợp vốn,
các quy định về bảo đảm tiền vay, về đăng kí giao dịch bảo đảm với các quy định của
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD và Bộ luật Dân sự 2005; hay các

đãi như ngân hàng nội địa, đặc biệt, các TCTD nước ngoài cũng được phép thành lập
công ty chứng khoán 100% vốn của mình.
Tính đến hết năm 2007, ước tính tổng số vốn điều lệ và vốn góp mua cổ phần của
các tập đoàn ngân hàng, tài chính nước ngoài đã thực sự đưa vào Việt Nam hiện nay
lên tới gần 1,5 tỷ USD. Đó là chưa kể số vốn các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài huy
động ở nước ngoài đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam. Nếu tính doanh số cho vay trong
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 17
hơn 15 năm qua thì các ngân hàng và tập đoàn tài chính nước ngoài thực hiện số vốn
đầu tư lên tới trên 11 tỷ USD vào nền kinh tế nước ta.
Đồng thời cũng tính đến hết năm 2007 có 11 ngân hàng, tập đoàn tài chính
nước ngoài đầu tư vốn mua từ 10% đến 30% vốn cổ phần trong 8 NHTM cổ phần của
Việt Nam. Đó là ACB, Sacombank, VP Bank, Techcombank, NHTM CP Phương Nam,
NHTM CP Phương Đông, NHTMCP nhà Hà Nội, Eximbank…
Các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đều được
xếp hạng nằm trong số 100 ngân hàng, hay 500 lớn nhất thế giới, như: Citi Bank,
Chase Mahattant Bank, America Express của Mỹ; Sumitomo Mitsui Banking
Corporation, Tokyo and Misubishi Bank của Nhật; Deutshe Bank, Berlin Bank của
Đức; ABN – Amro Bank của Hà Lan; Hongkong and Shanghai Banking Coporation,
Standard Chartered Bank, của Anh;
Với lợi thế về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản trị và công nghệ, các ngân
hàng nước ngoài sẽ là một áp lực lớn đối với các ngân hàng trong nước. Khi thâm nhập
vào Việt Nam, các ngân hàng nước ngoài sẽ triển khai cung cấp các sản phẩm hiện đại
như: Giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế; thực hiện các
giao dịch hoán đổi (lãi suất, hoán đổi các đồng tiền) và các công cụ phái sinh khác để
giúp khách hàng giảm rủi ro trong hoạt động tài chính; tín dụng hàng hoá Với những
danh mục sản phẩm, dịch vụ tuy không nhiều nhưng rõ ràng là vượt trội so với khả
năng của các ngân hàng nội địa. Như vậy, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang
cạnh tranh bằng phương châm không cung cấp nhiều dịch vụ mà cung cấp các dịch vụ
tốt hơn.

và bất động sản
+ Vì nhu cầu khác hàng ngày càng đa dạng và khắt khe hơn nên các ngân
hàng cũng phải không ngừng cải tiến, phát tiển sản phẩm, dịch vụ của mình cũng như
không ngừng tăng cường khả năng cung cấp cho các khách hàng doanh nghiệp những
dịch vụ tốt nhất, vì vậy ngân hàng sẽ chú trọng đến việc thiết kế các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng bán lẻ trọn gói với những tính năng, đặc điểm phù hợp với thị hiếu của từng
nhóm khách hàng riêng lẻ.
+ Ngoài ra, một số dịch vụ có nhiều tiện ích hơn cho khách hàng sẽ được ngân
hàng chú trọng như: thu hộ thuế, dịch vụ bảo quản và ký gửi, dịch vụ uỷ thác, dịch vụ
môi giới, đại lý phát hành và quản lý, môi giới chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, cho
thuê tài chính, dịch vụ mua bán nợ, ngoại tệ
+ Các ngân hàng thường có nhiều kênh phân phối sản phẩm để phục vụ khách
hàng như các chi nhánh, các điểm giao dịch, nơi đặt máy ATM, Website, ngân hàng tự
động Các ngân hàng luôn tìm cách đầu tư vào việc củng cố các cơ sở phân phối sản
phẩm, dịch vụ này để cố gắng tìm ra những giải pháp có tính liên kết chặt chẽ hơn,
phục vụ khách hàng tốt hơn và giúp cho việc khắc phục sự cố dễ dàng hơn, đảm bảo độ
tin cậy cao hơn. Đặc biệt là xu hướng gộp nhiều sản phẩm từ quản lý ngân quỹ, ngoại
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 19
hối đến kinh doanh chứng khoán và lưu ký thành những gói hàng đa dụng và tiện lợi
cũng ngày một tăng.
 Thách thức đặt ra cho các nhà quản trị ngân hàng là phải xây dựng được chiến
lược phát triển sản phẩm, dịch vụ mới cho ngân hàng của mình, và cụ thể hoá cho
từng nhóm sản phẩm hoặc những sản phẩm chủ lực, phù hợp với đặc điểm của mỗi
ngân hàng trong thời kỳ mới sao cho tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tránh việc để
mất thị phần.
 Những thay đổi liên tục trên thị trường vốn và tiền tệ.

2.1.2. Chiến lược của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập quốc tế và khu vực về ngân hàng.

(1) Tiến hành cổ phần hoá các NHTM nhà nước nhằm tận dụng các nguồn lực tài
chính trong dân chúng trong nước và nước ngoài. Trên cơ sở đó thay đổi mô hình quản
lý từ đó tạo sắc thái mới trong hoạt động kinh doanh.
(2) Đẩy mạnh liên doanh liên kết trong hệ thống ngân hàng để tận dụng vốn và kỹ
thuật cũng như trình độ quản lý từ các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.
 Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ ngân hàng, nhất là hệ thống thông tin quản lý
cho toàn hệ thống ngân hàng phục vụ công tác điều hành hoạt động kinh doanh, kiểm
soát hoạt động ngân hàng, quản lý vốn tài sản, quản lý rủi ro, quản lý công nợ và công
tác kế toán, hệ thống thanh toán liên ngân hàng, hệ thống giao dịch điện tử và giám sát
từ xa, vv nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng.
 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, nhất là hệ thống thông tin quản lý cho toàn
hệ thống ngân hàng phục vụ công tác điều hành hoạt động kinh doanh, kiểm soát hoạt
động ngân hàng, quản lý vốn tài sản, quản lý rủi ro, quản lý công nợ và công tác kế
toán, hệ thống thanh toán liên ngân hàng, hệ thống giao dịch điện tử và giám sát từ xa,
vv nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng.
 Đào tạo, nâng cao trình độ nhận thức và kỹ năng nghiệp vụ ngân hàng. Các
ngân hàng cần có trung tâm đào tạo được trang bị hiện đại. Chương trình đào tạo ở các
NHTM phải thiết thực, cụ thể nhằm trau dồi, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của ngân
hàng hiện đại. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, đào tạo và đào tạo lại cán bộ
thực hiện tốt nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác
hội nhập quốc tế, nhất là những cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán, ký
kết hợp đồng quốc tế, cán bộ thanh tra giám sát và cán bộ chuyên trách làm công tác
pháp luật quốc tế, cán bộ sử dụng và vận hành công nghệ mới.
Một số chỉ tiêu phát triển chính của ngành ngân hàng đến năm 2010 như sau:
- Tốc độ tăng huy động vốn: 18-20%/năm
- Tốc độ tăng tín dụng: 18-20%/năm
- Tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn: 33-35% (trong tổng nguồn vốn huy động)
- Tăng trưởng bình quân tổng phương tiện thanh toán (M2): 18-20%/năm
- Tỷ lệ M2/GDP đến cuối năm 2010: 100-115%
- Tỷ trọng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/M2 đ

310
450
710
580
250
200
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Năm
nghìn tỷ đồng
huy động vốn
Cho vay
(Nguồn: Báo cáo thường niên của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam)
- Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động,
góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn tín dụng
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU VIỆT NAM
Trang: 22
cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân
hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn.
- Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo
phát triển bền vững.

 Công ty trực thuộc:
- Công ty Chứng khoán ACB (ACBS).
- Công ty quản lý và khi thác tài sản ngân hàng Á Châu (ACBA).
- Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL)
 Công ty liên kết:
- Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD)
- Công ty cổ phần địa ốc aCB (ACBR).
 Công ty liên doanh:
- Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB-SJC (góp vốn thành lập với SJC)
2.2.2.4 Thành tích và sự ghi nhận.
Với tầm nhìn và chiến lược đúng đắn, chính xác trong đầu tư công nghệ và
nguồn nhân lực, nhạy bén trong điều hành và tinh thần đoàn kết nội bộ, trong điều kiện
ngành ngân hàng có những bước phát triển mạnh mẽ và môi trường kinh doanh ngày
càng được cải thiện cùng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, ACB đã có những
bước phát triển nhanh, ổn định, an toàn và hiệu quả.
ACB với hơn 600 sản phẩm dịch vụ được khách hàng đánh giá là một trong các
ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú nhất, dựa trên nền công
nghệ thông tin hiện đại. ACB vừa tăng trưởng nhanh vừa thực hiện quản lý rủi ro hiệu
quả. Trong môi trường kinh doanh nhiều khó khăn thử thách, ACB luôn giữ vững vị
thế của một ngân hàng bán lẻ hàng đầu.
 Nhìn nhận và đánh giá của xã hội.
- Năm 2002 ACB được Giải thưởng Chất lượng Việt Nam do Hội đồng xét duyệt
Quốc gia xét cấp.
- Năm 2002 nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích nâng cao
chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định, và nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ.
- Năm 2006 ACB là NHTMCP duy nhất nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính
phủ trong việc đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, góp phần
vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
- Cũng trong năm 2006 này, ACB vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCN Việt


Trích đoạn Chiến lược: Ưu và nhược điểm của các chiến lược: Tính tất yếu của việc lựa chọn chiến lược tạo sự khác biệt: Ưu và nhược của các chiến lược: Những ảnh hưởng khi thực hiện chiến lược đa dạng hoá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status