: Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Á Châu Việt Nam.
2.1. Ngành ngân hàng Việt Nam trước thách thức cạnh tranh.
2.1.1 Thuận lợi và thách thức đối với hệ thống ngân hàng thương mại trong
cạnh tranh, hội nhập quốc tế.
2.1.1.1 Thuận lợi:
Am hiểu sâu sắc thị trường nội địa, nhu cầu của khách hàng trong nước.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam ra đời và phát triển với một khoảng thời gian
tương đối dài, mặt khác từ ban lãnh đạo đến nhân viên đều là người Việt Nam nên có thể
hiểu được sâu sắc văn hoá của người Việt, nhu cầu của người Việt hơn so với các ngân
hàng nước ngoài. Chính vì vậy khả năng cạnh tranh so với các ngân hàng nước ngoài dựa
trên lợi thế am hiểu thị trường nội địa là rất lớn.
• Có đội ngũ nhân viên nhiều kinh nghiệm, bên cạnh đó là những cán bộ trẻ, năng
động.
Cùng với hội nhập, các ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng chú trọng hơn
đến đội ngũ nhân viên của mình, họ xác định rằng, nhân viên là nhân tố quan trọng nhất
quyết định đến khả năng cạnh tranh của mình, chính vì thế, cán bộ, nhân viên ngân hàng
đều là những con người năng động, trẻ, và những con người có kinh nghiệm.
• Có mạng lưới rộng khắp (đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh).
Các ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng NN
o
&PTNT có mặt ở 64 tỉnh
thành trên cả nước. Bên cạnh đó, cùng với việc hạn chế số lượng chi nhánh ngân hàng
nước ngoài của ngân hàng Nhà nước, đồng thời, mới xâm nhập vào thị trường Việt Nam
thì ngân hàng nước ngoài có mạng lưới chi nhánh rất ít, thậm chí chỉ vài chi nhánh.
Do sự phát triển của công nghệ ngân hàng hiện đại, việc mở rộng mạng lưới không
nhất thiết phải thành lập thêm chi nhánh mới. Tuy nhiên để cạnh tranh có hiệu quả thì vẫn
phải mở rộng thêm mạng lưới chi nhánh. Với những tốn kém chi phí cho việc mở và vận
hành một chi nhánh mới tại các tỉnh, thành phố khác ở xa trụ sở chính tại Hà Nội hay Tp.
Hồ Chí Minh, với những đối tượng, điều kiện khắt khe trên các chi nhánh Ngân hàng nước
ngoài không dễ làm được. Trong khi đó đây là một lợi thế của các NHTM Việt Nam. Nhất
là Agribank hiện nay có tới 2.200 chi nhánh các loại trong toàn quốc, đến tận các thị tứ,
nguyên liệu cơ bản đứng ở mức cao hoặc có xu hướng tăng, đã tác động làm tăng chi phí
nhập khẩu, tăng mặt bằng giá cả và trong nước.
Sự biến động thường xuyên của lạm phát ở mức lớn đã khiến việc đánh giá rủi ro
tín dụng và rủi ro thị trường của các nhà quản trị ngân hàng thiếu chính xác. Yếu tố lạm
phát làm tăng rủi ro đầu tư và làm suy yếu thông tin để lập kế hoạch, đầu tư, thẩm định tín
dụng. Lạm phát cao ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại.
- Tác động của lãi suất và tỷ giá:
Lãi suất và tỷ giá càng biến động thì rủi ro lãi suất và tỷ giá càng lớn. Khả năng tổn
thương của hệ thống ngân hàng sẽ càng cao nếu nợ nước ngoài ở mức cao và tỷ lệ đầu tư
nước ngoài so với tổng đầu tư ở mức cao. Biến động tỷ giá có thể gây khó khăn cho các
ngân hàng do mất cân đối về loại tiền giữa tài sản có và tài sản nợ. Thực tiễn cho thấy lãi
suất quốc tế tăng lên làm cho hệ thống ngân hàng của các nền kinh tế mới nổi dễ bị tổn
thương do luồng vốn chảy ra, ngược lại lãi suất quốc tế giảm xuống sẽ khiến luồng vốn
chảy vào và có thể gây ra rủi ro bùng nổ tín dụng.
- Sự biến động của các ngành kinh tế khác :
Trước thách thức hội nhập nhiều doanh nghiệp ra đời, đồng thời cũng sẽ có nhiều
doanh nghiệp giải thể, phá sản. Vì vậy nhu cầu vay, khả năng thu hồi nợ vay cũng sẽ có
nhiều biến động, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đến khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Nếu nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp làm ăn có lời thì khả năng thu hồi vốn vay
cao, nhưng ngược lại, nếu nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì rủi
ro tín dụng là rất cao.
Môi trường pháp lý đầy biến động
Trong lĩnh vực kinh tế nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng, môi trường pháp
lý luôn luôn biến động, là do:
Có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành chồng chéo, mâu thuẫn nhau đòi
hỏi phải luôn được rà soát, thay đổi.
Chẳng hạn như: các quy định về đảo nợ, lãi suất nợ quá hạn, cho vay hợp vốn, các
quy định về bảo đảm tiền vay, về đăng kí giao dịch bảo đảm với các quy định của Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD và Bộ luật Dân sự 2005; hay các quy định về
thương phiếu cũng không đồng nhất với các quy định của Luật Thương mại 2005… Không
gần 1,5 tỷ USD. Đó là chưa kể số vốn các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài huy động ở
nước ngoài đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam. Nếu tính doanh số cho vay trong hơn 15 năm
qua thì các ngân hàng và tập đoàn tài chính nước ngoài thực hiện số vốn đầu tư lên tới
trên 11 tỷ USD vào nền kinh tế nước ta.
Đồng thời cũng tính đến hết năm 2007 có 11 ngân hàng, tập đoàn tài chính nước
ngoài đầu tư vốn mua từ 10% đến 30% vốn cổ phần trong 8 NHTM cổ phần của Việt Nam.
Đó là ACB, Sacombank, VP Bank, Techcombank, NHTM CP Phương Nam, NHTM CP
Phương Đông, NHTMCP nhà Hà Nội, Eximbank…
Các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đều được xếp
hạng nằm trong số 100 ngân hàng, hay 500 lớn nhất thế giới, như: Citi Bank, Chase
Mahattant Bank, America Express của Mỹ; Sumitomo Mitsui Banking Corporation, Tokyo
and Misubishi Bank của Nhật; Deutshe Bank, Berlin Bank của Đức; ABN – Amro Bank
của Hà Lan; Hongkong and Shanghai Banking Coporation, Standard Chartered Bank, của
Anh;...
Với lợi thế về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản trị và công nghệ, các ngân hàng
nước ngoài sẽ là một áp lực lớn đối với các ngân hàng trong nước. Khi thâm nhập vào Việt
Nam, các ngân hàng nước ngoài sẽ triển khai cung cấp các sản phẩm hiện đại như: Giúp
các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế; thực hiện các giao dịch hoán
đổi (lãi suất, hoán đổi các đồng tiền) và các công cụ phái sinh khác để giúp khách hàng
giảm rủi ro trong hoạt động tài chính; tín dụng hàng hoá...Với những danh mục sản phẩm,
dịch vụ tuy không nhiều nhưng rõ ràng là vượt trội so với khả năng của các ngân hàng nội
địa. Như vậy, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang cạnh tranh bằng phương châm
không cung cấp nhiều dịch vụ mà cung cấp các dịch vụ tốt hơn.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
Ngày nay, công nghệ cao đang được áp dụng ngày càng nhiều trong kinh doanh, đặc
biệt trong các tổ chức dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với khách hàng
như ngân hàng, môi giới chứng khoán, khách sạn, nhà hàng v.v... Có thể nói, việc phát
triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng đã tạo điều kiện thức đẩy
hoạt động kinh doanh của các NHTM tăng trưởng và phát triển, nâng cao hiệu quả kinh
doanh, năng lực cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng giao dịch và giảm các chi phí liên