TƯ TƯỞNG “CON NGƯỜI BẠC
MỆNH” TRONG THƠ CA NGUYỄN DU Chữ bạc mệnh đây không có nghĩa tuyệt đối, mà chỉ có nghĩa tương đối
theo vũ trụ luận. Bạc mệnh nghĩa là số phận mỏng manh, nhưng không
có nghĩa định mệnh, tức là cố định một cách tiên thiên, mà chỉ là theo
luật thừa trừ hay đắp đổi của thiên nhiên. Vả nữa theo quan niệm "lưỡng
nghi" của Nho gia, thì bạc mệnh hay hậu mệnh cũng chỉ là hai khía cạnh
tất yếu của con người.
Dưới mắt Nguyễn Du, con người sinh trong thế gian với những nguyên
nhân cấu thành phức tạp, thì tùy sự pha tạp ấy mà thành trọc hay thanh.
Ngoài khí thanh trọc này lại còn ảnh hưởng của vũ trụ vạn vật, nên đã
mang sẳn trong mình một tính chất lưỡng phương thanh trọc, thiện ác,
sáng tối, hạnh phúc và đau khổ, may cũng như rủi, bế cũng như thông
v.v. mà Nguyễn Du gọi là "bỉ sắc tư phong" (cái này nhiều cái kia ít).
Vậy con người bạc mệnh hay hậu phước cũng chỉ là truyện thường tình.
Nói thế tức là xác nhận con người vốn bạc mệnh từ tự tính, đồng thời
đoạn trường cũng do hoàn cảnh nhân sinh gây nên
1 - Bạc mệnh tận bản tính - Nhân tính thành hình do tú khí của trời đất,
một thanh một trọc, một tinh thần một vật chất, cho nên luôn luôn có sự
tương tranh tương hoà. Nói tương tranh tương hoà là tranh hoà giữa
Tính và Tài. Tính đây tức là lý mà tài là khí.
Chu Tử viết :
"Giữa trời đất có lý và khí. Lý tức là đường lối của hình nhi thượng và là
căn bản của sự vật. Khí là khí của hình nhi hạ và là thể hiện của sinh
vật". (Thiên địa chi gian hữu lý hữu khí. Lý dã giả hình nhi thượng chi
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen".
(ĐTTT câu 1-6)
Ông đã đưa ra ba nhận xét sâu xa : một là đời người thường có nhiều
khổ đau. Hai là càng tài cán thì càng gian truân. Ba là lý do của bạc
mệnh dựa trên luật thừa trừ : được cái nọ mất cái kia. Theo lẽ đó, Thúy
Kiều trong suốt cuộc đời tài sắc, đã là hiện thân cho bạc mệnh, cho đoạn
trường. Cơn đoạn trường, số kiếp long đong đã bám sát cuộc đời nàng,
cũng như mọi cuộc đời nữ nhi tài sắc.
Vương Quan, em nàng, khi kể truyện kỹ nữ Đạm Tiên, cũng nói :
"Phận hồng nhan có mong manh".
(ĐTTT câu 65)
Chính Thúy Kiều cũng tự xác nhận điều đó :
”Đau đớn thay ! Phận đàn bà !
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung".
(ĐTTT câu 83-84) ”Rằng : hồng nhan tự ngàn xưa,
Cái điều bạc mênh có chừa ai đâu”.
(ĐTTT câu 107-108)
Tâm niệm như thế, nàng nằm mộng thấy Đạm Tiên và tự cho mình có số
bạc mệnh giống âm hồn, rồi nghe âm hồn xác nhận :
cả tiếng đàn giọng ca, khiến cho Kim Trọng đã phải thốt nên lời hoài
cảm :
"Rằng : hay thì thực rằng hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào
So chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình, cũng nao nao lòng người".
(ĐTTT câu 489-493)
Nàng trả lời với một ý thức trọn vẹn :
"Rằng : quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui thôi cũng tính Trời biết sao".
(ĐTTT câu 493-94)