Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng đại học y h nội
Nguyễn Huy Gia
đánh giá tác dụng của nấm hồng
chi trên bệnh nhân tăng huyết áp
nguyên phát độ I Chuyên ngành : Y học cổ truyền
Mã số : 60. 72. 60 luận văn thạc sĩ y học
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS
. Nguyễn Nhợc Kim
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tất cả các số
liệu trong luận văn này là trung thực và cha từng đợc công bố trong bất cứ
công trình nghiên cứu nào khác.
Nguyn Huy Gia
Mục lục
Đặt vấn đề 1
Chơng 1: Tổng quan tài liệu 3
1.1. Tổng quan về tăng huyết áp theo y học hiện đại. 3
1.1.1. Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam và trên thế giới 3
1.1.2. Định nghĩa huyết áp. 5
1.1.3. Định nghĩa bệnh tăng huyết áp 5
1.1.4. Một số cơ chế về bệnh sinh tăng huyết áp hiện nay 5
1.1.5. Phân loại tăng huyết áp. 8
1.1.6. Chẩn đoán tăng huyết áp: 11
1.1.7. Điều trị tăng huyết áp 11
1.2. Tổng quan về tăng huyết áp theo y học cổ truyền. 15
1.2.1. Khái niệm về chứng huyễn vựng và mối quan hệ chứng huyễn vựng
với bệnh tăng huyết áp 15
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của chứng huyễn vựng theo YHCT 16
1.2.3. Các thể lâm sàng của huyễn vựng. 19
1.3. Tình hình nghiên cứu về các thuốc có nguồn ngốc tự nhiên dùng hạ
huyết áp trong YHCT trên thế giới và trong nớc 20
3.1.3. Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng 38
3.2. Kết quả trên cận lâm sàng 45
3.2.1. Đặc điểm rối loạn lipid máu 45
3.2.2. Thay đổi một số chỉ số huyết học 46
3.3. Khả năng dung nạp thuốc. 48
3.4. Kết quả theo dõi sau nghiên cứu: 48
Chơng 4: Bàn luận 50
4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu 50
4.1.1. Tuổi và giới 50
4.1.2. Thời gian phát hiện bệnh: 52
4.1.3. Mối liên quan giữa đối tợng nghiên cứu và yếu tố gia đình: 52
4.1.4. Chỉ số khối của cơ thể (BMI) 53
4.1.5. Thể bệnh theo YHCT. 53
4.2. Hiệu lực điều trị của nấm hồng chi trên lâm sàng 54
4.2.1. Hiệu lực của nấm hồng chi trên huyết áp 54
4.2.2. Hiệu lực của nấm hồng chi đối với triệu chứng chủ quan 59
4.3. Hiệu lực điều trị của nấm hồng chi trên cận lâm sàng 60
4.3.1. Đối với các thành phần Lipid máu 60
4.3.2. Về xét nghiệm huyết học 61
4.3.3. Về xét nghiệm sinh hóa 61
4.3.4. Tác dụng đối với tần số tim 62
4.4. Khả năng dung nạp thuốc 62
4.5. Khả năng duy trì hiệu lực của thuốc sau điều trị 62
Kết luận 64
Kiến nghị 66
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Các chữ viết tắt
Bảng 1.3. Tác dụng của nấm linh chi theo YHCT 24
Bảng 3.1: Phân bố theo tuổi. 34
Bảng 3.2: Đặc điểm về chỉ số khối 35
Bảng 3.3. Chỉ số nhân trắc của đối tợng nghiên cứu 36
Bảng 3.4: Phân bố theo thể bệnh YHCT 36
Bảng 3.5: Đặc điểm về yếu tố gia đình. 36
Bảng 3.6: Đặc điểm về thời gian mắc bệnh 37
Bảng 3.7: Phân bố về THA. 37
Bảng 3.8: Kết quả thay đổi HATT. 38
Bảng 3.9: Kết quả thay đổi HATTr 38
Bảng 3.10: Kết quả thay đổi HATB 39
Bảng 3.11: Mức độ thay đổi HATT 40
Bảng 3.12: Mức độ thay đổi HATTr 40
Bảng 3.13: Đánh giá tác dụng hạ huyết áp chung. 40
Bảng 3.14: Đánh giá kết quả hạ huyết áp theo giới. 41
Bảng 3.15: Đánh giá kết quả hạ huyết áp theo tuổi 42
Bảng 3.16: Đánh giá kết quả hạ huyết áp theo thể bệnh 43
Bảng 3.17: Đánh giá kết quả hạ huyệt áp theo thời gian mắc bệnh 44
Bảng 3.18: Sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng. 44
Bảng 3.19: Sự thay đổi triệu chứng lâm sàng theo xếp loại 45
Bảng 3.20: Thay đổi rối loạn Lipid máu trớc và sau điều trị. 45
Bảng 3.21: Thay đổi các chỉ số trung bình lipid máu. 46
Bảng 3.22: Thay đổi chỉ số huyết học 46
Bảng 3.23: Kết quả các xét nghiệm đánh giá chức năng thận 47
Bảng 3.24: Kết quả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan 47
Bảng 3.25: Sự biến đổi một số chỉ số lâm sàng 48
Bảng 3.26: Huyết áp của bệnh nhân đợc theo dõi sau điều trị 48
Bảng 4.1. So sánh tác dụng hạ huyết áp của một số bài thuốc YHCT theo
kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác. 57
động đến tiên lợng của THA.
Để tránh những nguy cơ của THA, Y học hiện đại (YHHĐ) cũng nh Y
học cổ truyền (YHCT) có nhiều biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả.
YHHĐ đã đa ra phơng pháp điều trị THA nh giảm lợng muối trong
chế độ ăn, thể dục liệu pháp, điều độ trong làm việc và sinh hoạt, dùng thuốc
theo 4 bậc thang của WHO với các nhóm thuốc: lợi tiểu (Lasix, Aldaton ),
thuốc giãn mạch (Hydralazin) thuốc chẹn giao cảm anpha, chẹn beta các
thuốc nhìn chung đều có hiệu lực trong điều trị THA song vẫn còn có nhiều
tác dụng không mong muốn. Hầu hết thuốc này phải nhập ngoại giá thành
cao, cha phù hợp với điều kiện thu nhập của đa số ngời dân VN [
14], [21],
2
[
27]. Vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên,
dễ kiếm, ít tác dụng không mong muốn là vấn đề cần thiết.
YHCT phơng Đông, đặc biệt là Trung Quốc và Việt Nam đã nghiên cứu
và dùng nhiều phơng pháp để điều trị bệnh THA, bớc đầu đạt đợc một số
kết quả khả quan.
Một trong những hớng nghiên cứu hiện nay là khảo sát tác dụng hạ
huyết áp của một số bài thuốc, vị thuốc đã và đang sử dụng rộng rãi trên
lâm sàng.
Vị thuốc nấm linh chi thờng dùng nấm hồng chi là một vị thuốc đã đợc
sử dụng lâu đời đợc dùng để chữa các chứng huyễn vựng, đầu thống. Các
chứng này có nhiều điểm tơng đồng với bệnh THA cả về lý luận và thực tiễn
lâm sàng. Song do sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, môi trờng và điều kiện
sống thay đổi nên sự phát triển của bệnh cũng có nhiều thay đổi. Vì vậy khi
dùng vị thuốc này cũng phải nghiên cứu cụ thể để bảo đảm an toàn cho ngời
bệnh [4], [23].
Trên thực tế lâm sàng khi dùng vị thuốc hồng chi thấy có tác dụng hạ
cũng không ngừng tăng lên. Vào năm 1960 theo công trình nghiên cứu của
Đặng Văn Chung ớc tính 2-3% dân số mắc bệnh, đến năm 1975 theo Phạm
Khuê điều tra trên 13.392 trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh là 9,27%, đến năm
1996, Phạm Gia Khải và cộng sự đã tiến hành điều tra THA ở quần thể ngời
trởng thành (>16 tuổi) tại Hà Nội cho thấy tần suất THA đã cao tới 16,05%.
Tại Đại hội tim mạch toàn quốc 4/2002 Phạm Gia Khải và cộng sự đã báo cáo
kết quả điều tra dịch tễ học THA tại 12 phờng HN cho thấy tần suất đã tăng
4
vọt 23,20%. Tần suất mắc bệnh này ở các tỉnh có thấp hơn ở thành phố tại tỉnh
Thái Bình theo Phan Thanh Ngọc điều tra 1997 tỷ lệ THA xấp xỉ là 12%.
Theo điều tra của Phạm Gia Khải năm 2002 vùng Duyên Hải - Tỉnh Nghệ An
tần xuất THA 16,72%. Tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn, so với
nhóm tuổi 25-34 tuổi khi tuổi tăng thêm 10 năm thì khả năng bị THA tăng
gần gấp 4 lần và khi tuổi > 65 tuổi thì nguy cơ THA gấp > 5 lần [28], [29],
[30], [31].
Trên thế giới tỷ lệ THA chiếm 8-18% dân số (theo W.H.O) thay đổi từ
các nớc Châu á nh Indonexia 6-15%, Đài Loan 28% tới các nớc Âu-Mỹ
nh Pháp 10-24%, Hoa Kỳ 24%. ở Việt Nam tần suất THA ngày càng gia
tăng khi nền kinh tế phát triển nh THA năm 1960 chiếm 1% dân số, năm
1982 là 1,9%, năm 1992 tăng lên 11,7% dân số và năm 2002 THA ở miền Bắc
là 16,3% [34].
Bệnh THA lâu ngày sẽ gây tổn thơng nhiều cơ quan trong cơ thể nh
não, tim, thận, mạch máu đồng thời còn thúc đẩy bệnh xơ vữa động mạch
phát triển, THA làm giảm tuổi thọ 10-20 năm, và nguy cơ biến chứng sẽ diễn
ra sau 7-10 năm mắc bệnh nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng [
13],
[
27], [36], [48].
Những số liệu của trung tâm thống kê y tế quốc gia Hoa Kỳ hay nghiên
1.1.4.1. Vai trò của hệ thống Renin- Angiotensin- Aldosteron (RAA)
Hệ này đợc quan tâm nhiều từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX khi các nghiên
cứu phát hiện bên cạnh hệ RAA trong máu lu hành, còn có hệ RAA trong
các tổ chức, đặc biệt ở trong cơ tim và mạch máu. Renin đợc hoạt hoá
chuyển Angiotensinnogen thành angiotensin I (không hoạt tính) chất này
chuyển thành angiotensin II (có hoạt tính) dới sự xúc tác của enzym chuyển
angiotensin (ACE). Angiotensin II có tác dụng co mạch rất mạnh, đồng thời
có khả năng kích thích vỏ thợng thận tiết ra Aldosteron làm tăng tái hấp thu
6
nớc và natri, kích thích hệ giao cảm tăng tiết catecholamin, kích thích vùng
dới đồi - tuyến yên tiết ra arginin - vasopressin, chất này cũng làm cho co
mạch và tăng tái hấp thu nớc ở ống thận làm tăng sức cản ngoại vi và tăng
cung lợng tim [
7], [9], [12], [58].
Hệ RAA tham gia vào cơ chế tăng huyết áp đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
vỏ não nh: sợ hãi, lo buồn, stress đều có thể gây tăng huyết áp.
Pavlov đã chứng minh rằng: Vỏ não là cơ quan kiểm soát điều hoà mọi
quá trình trong cơ thể nhờ hai quá trình cơ bản là hng phấn và ức chế. Nếu
hai quá trình này bị rối loại sẽ ảnh hởng rất lớn đến huyết áp.
Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng khi hệ thần kinh giao cảm bị kích
thích (stress, hạ đờng máu, lạnh ) các xung động giao cảm sẽ đi tới mạch
máu làm co mạch, đồng thời xung động này tới tuỷ thợng thận làm tăng tiết
catecholamin. Catecholamin đợc tiết ra sẽ theo đờng máu đến tác dụng trực
tiếp lên mạch gây co mạch làm tăng huyết áp [
7], [9], [12].
1.1.4.3. Vai trò của Natri.
Trong điều kiện bình thờng, các hocmon và thận cùng phối hợp điều
hoà thải Natri cho cân bằng với việc nhập natri vào. Trong điều kiện ứ natri
hệ thống mạch có thể tăng nhạy cảm với angiotensin II và noradrenalin. Tế
bào cơ trơn tiểu động mạch ứ natri sẽ ảnh hởng độ thấm calci qua màng do
đó làm tăng khả năng co thắt tiểu động mạch. THA do ứ natri cũng có thể do
yếu tố di truyền [
7], [9], [12].
1.1.4.4. Vai trò của thành mạch:
Những biến đổi của động mạch và tiểu động mạch trong THA có thể là
nguyên nhân, cũng có thể là hậu quả của THA tác động qua lại khiến bệnh
THA trở thành mạn tính Khi tiểu động mạch dày sẽ xơ cứng mất sợi chun,
lắng đọng colagel và canxi cùng với sự rối loại chuyển hoá Lipid làm cho khả
năng đàn hồi của thành mạch bị mất, gây tăng sức cản của ngoại vi gây tăng
huyết áp. Nh vậy THA và xơ vữa mạch làm tăng sức cản ngoại vi và gây
THA, THA lại thúc đẩy nhanh quá trình xơ vữa động mạch. Khi điều chỉnh
8
đợc huyết áp thì xơ vữa động mạch cũng đợc cải thiện. Khi hai bệnh này
cùng xuất hiện sẽ làm tình trạng bệnh nhân thêm trầm trọng, gây nên những
u tuỷ thợng thận, hội chứng cushing, tăng calci máu, cờng tuyến giáp.
- Các nguyên nhân khác: Dùng thuốc (cocticoid kéo dài, thuốc tránh thai
kéo dài, thuốc nhỏ mũi, cocain, ergotamine, thuốc điều trị giảm miễn dịch )
do ăn uống (uống nhiều rợu, ăn nhiều muối, hút thuốc lá)
1.1.5.2. Phân loại theo giai đoạn bệnh.
Theo WHO/ ISH 1993 Cách phân chia bệnh THA theo giai đoạn căn cứ
vào mức độ nhẹ của các tổn thơng hay biến chứng mà bệnh gây ra cho các
phủ tạng (tim, não, thận, mắt) gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn I: Không có dấu hiệu khách quan và tổn thơng thực thể nào
ở các phủ tạng.
- Giai đoạn II: Có ít nhất 1 trong các biến chứng sau:
Dày thất trái (phát hiện trên lâm sàng, điện tim, X quang, siêu âm).
Hẹp lan rộng hay khu trú các động mạch võng mạc.
Protein niệu hoặc creatinin huyết tăng nhẹ.
Mảng vữa xơ những động mạch lớn (xác định bằng X quang, siêu âm).
- Giai đoạn III: Có ít nhất một trong các biến chứng sau:
Tim: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim trái.
Não: Xuất huyết não (tiểu não hay thân não, bệnh não do tăng huyết áp).
Mắt: Xuất huyết võng mạc, xuất tiết võng mạc, phù gai thị.
Thận: Suy thận, creatinin máu tăng trên 2g/ dl.
Mạch máu: Phình mạch, viêm tắc động mạch chi.
10
1.1.5.3. Phân loại theo chỉ số huyết áp.
Bảng 1.1: Phân loại bệnh THA theo WHO/ ISH 1999 [62]
Xếp loại Huyết áp tâm thu
(mmHg)
Huyết áp tâm trơng
(mmHg)
Tối u < 120 < 80
Tiền THA 120- 139 80- 89
THA độ I 140- 159 90- 99
THA độ II
160 100
11
Cách phân loại này thay thể HA bình thờng cao bằng thể tiền tăng HA
mục đích nâng tầm quan trọng thể này cần có những biện pháp phòng ngừa
tích cực. Còn độ II thay bằng cả 2 độ II và III vì đến độ này đều có những biến
chứng đều cần phải có những biện pháp phòng và điều trị tích cực hơn.
1.1.6. Chẩn đoán tăng huyết áp:
Chẩn đoán tăng huyết áp chủ yếu dựa vào số đo huyết áp, phơng pháp
đo huyết áp nh sau:
Bệnh nhân nên ngồi ghế tựa lng, hoặc t thế nằm, cánh tay để trần, đặt
ngang tim. Ngời bệnh nên ngừng thuốc lá hoặc cà phê trớc đó 30 phút. Kích
thớc của bao cuốn phải thích hợp, túi hơi trong bao quấn phải bao đợc ít
nhất 80% vòng cánh tay. Dùng máy đo thuỷ ngân là tốt nhất, khi nghe tiếng
đập đầu tiên đó là huyết áp tâm thu, khi mất tiếng đập là huyết áp tâm
trơng. Trị số huyết áp đợc tính theo trung bình của >2 lần đo cách nhau 2
phút. Nếu 2 lần đo đầu tiên có số đo cách nhau >5mmHg nên đo thêm và
tính trung bình.
Cần chú ý một số yếu tố sau ở ngời cao tuổi: Tăng huyết áp giả tạo, tụt
huyết áp t thế đứng và khoảng trống huyết áp [
7], [10], [19], [59].
1.1.7. Điều trị tăng huyết áp.
Trên lâm sàng ngoài biện pháp điều trị không dùng thuốc nh giảm cân
nặng nếu thừa cân, hạn chế rợu bia, gia tăng hoạt động thể lực còn có phơng
pháp điều trị dùng thuốc đã thực hiện mà không đem lại hiệu quả. Các thuốc
điều trị THA đều can thiệp vào các khâu của huyết động, nhằm làm giảm
cung lợng tim hoặc giảm sức cản ngoại vi, hoặc cả hai khâu đó. Mục tiêu của
các tiểu động mạch do ức chế chọn lọc các dòng calci đi vào tế bào cơ trơn và
13
mạch máu nên làm giảm co cơ, chậm nhịp tim, giảm dẫn truyền, giảm huyết
áp với các thuốc sau: Nifedipine, Verapamil, Diltriazem.
1.1.7.5. Các thuốc đối kháng thụ thể alpha.
Thuốc tác dụng chẹn thụ thể Alpha sau sinap làm giãn mao mạch ngoại
vi dẫn đến giảm sức cản thành mạch và làm giảm huyết áp. Tác dụng phụ của
nó là làm hạ huyết áp t thế đứng, có thể làm ngất ở những bệnh nhân THA
nặng, gây mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, ngạt mũi
Nh vậy với nhiều loại thuốc huyết áp nêu trên, mỗi thuốc đều có u
nhợc điểm của nó, nhng thuốc chống tăng huyết áp lý tởng là thuốc có tác
dụng làm giãn cơ trơn thành mạch để làm giảm sức cản ngoại vi cơ quan đích,
duy trì cung lợng tim và dòng chảy tại chỗ, không làm tăng nhiều tần số,
mức co bóp và chuyển hoá của tế bào cơ tim và không làm tăng thể tích
tuần hoàn do phải thích nghi với con số huyết áp khi đứng thấp và giảm tới
máu thận.
Theo WHO và hội THA quốc tế năm 1999 thì mục tiêu và đờng lối điều
trị tăng huyết áp nh sau [62].
Mục tiêu:
Khắc phục các yếu tố nguy cơ, hạ huyết áp ngời trẻ trung niên, ngời
đái tháo đờng xuống dới 135/85 mmHg, hạ huyết áp tâm thu ở ngời cao
tuổi xuống <140mmHg HATT <90mmHg (huyết áp mục tiêu).
Đờng lối:
- Cho thuốc ngay nếu có yếu tố nguy cơ.
- Theo dõi huyết áp và các yếu tố nguy cơ nhiều tuần rồi mới dùng thuốc.
14
- Lựa chọn và áp dụng cho từng bệnh nhân sao cho phù hợp với tình trạng
sức khoẻ. Cố gắng sử dụng thuốc càng đơn giản càng dễ tìm mà vẫn hiệu quả
- Do quá tải thể tích (chế độ ăn mặn, dùng lợi tiểu cha đầy đủ).
- Nguyên nhân do thuốc: Kết hợp thuốc không thích hợp, dùng thuốc thải
trừ nhanh quá, dùng một số thuốc gây tăng huyết áp nh (thuốc chống ngạt
mũi, thuốc gây chán ăn, thuốc tránh thai, thuốc chống viêm Steroid, cocain và
thuốc gây nghiện )
- Do sinh hoạt: hút thuốc lá, uống rợu, tăng cân
1.2. Tổng quan về tăng huyết áp theo y học cổ truyền.
1.2.1. Khái niệm về chứng huyễn vựng và mối quan hệ chứng huyễn vựng
với bệnh tăng huyết áp.
Trong y văn YHCT không có bệnh danh tăng huyết áp, nhng căn cứ vào
những biểu hiện lâm sàng có thể thấy bệnh này thuộc phạm vi chứng Huyễn
vựng, Đầu thống. Những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu tìm mối liên hệ
giữa các triệu chứng của bệnh THA với các biểu hiện lâm sàng của chứng
huyễn vựng có nhiều nét tơng đồng. Khi điều trị bệnh tăng huyết áp theo
biện chứng luận trị chứng huyễn vựng thì đồng thời cũng làm giảm đợc các
chỉ số huyết áp trên lâm sàng.
Huyễn vựng là một thuật ngữ của YHCT để mô tả một tình trạng bệnh lý
trên lâm sàng biểu hiện bằng các triệu chứng chủ yếu: Hoa mắt, chóng mặt,
váng đầu (trong đó Huyễn là một từ để chỉ tình trạng hoa mắt, chóng mặt,
Vựng là tình trạng váng đầu), hai triệu chứng này trên lâm sàng thờng hay
kết hợp với nhau [
6], [35], [50], [52], [54].
16
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của chứng huyễn vựng theo YHCT.
Theo các y văn kinh điển (Tố Vấn- Chí chân yếu đại luận) cho rằng:
chứng huyễn vựng do can phong nội động phát sinh ra. Trong Hà Giang lục
th cho chứng này do phong hoả tạo thành. Trong sách Đan khê tâm pháp nói:
"Không có đàm thì không thành huyễn, không có hoả thì không thành vựng".
Trong cảnh nhạc toàn th lại viết: "Vô h bất năng tác huyễn"- Huyễn
can mộc, thận h thì nặng đầu, tuỷ thiếu thì ù tai". Do vậy ngời khi bẩm tố
tiên thiên không đầy đủ hoặc lao thơng quá độ làm tiêu hao thận tinh nên
tinh không thể thợng xung lên não mà não là bể của tuỷ, bể tuỷ không đầy đủ
gây ra chứng huyễn vựng.
1.2.1.4. Khí huyết bị tổn thơng (Tâm tỳ h):
Thờng gặp ở những ngời mắc bệnh lâu ngày làm tổn thơng khí hoặc
huyết kéo dài hoặc cha kịp hồi phục hoặc do tỳ vị h nhợc làm mất khả
năng sinh hoá làm cho khí huyết bị tổn thơng. Khí h làm cho chất thanh
không thăng đợc, chất trọc không giáng, huyết h làm não kém đợc nuôi
dỡng mà gây ra huyễn vựng hoặc huyết h làm cho sự lu thông khí huyết bị
ngừng trệ. Huyết tắc lại lâu ngày hoá hoả gây huyễn vựng.
Sách tỳ vị luận của Lý Đông Viên nói: "Tuổi 40 trở lên, nguyên khí đã
suy và do lo nghĩ phiền uất càng hại đến nguyên khí, vì thế mà dễ phát bệnh
thành huyễn vựng".
Hải Thợng Lãn Ông cho rằng: "Âm huyết của hậu thiên h thì hoả
động lên, chân thủy của tiên thiên suy thì hoả bốc lên mà gây thành chứng
huyễn vựng".