Nghiên cứu khả năng chấp nhận, hiệu quả và tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai implanon tại tỉnh thừa thiên huế - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng
trong chiến lược phát triển đất nước. Đây là một yếu tố cơ bản để nâng cao
chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Việc đảm
bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ và đa dạng hoá các biện pháp tránh thai có chất
lượng cao là đáp ứng nhu cầu của từng người nhằm tăng tỷ lệ các cặp vợ
chồng sử dụng các biện pháp tránh thai.
Chương trình Dân số và Kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam đã được
triển khai từ những năm đầu của thập kỷ 60. Trong suốt 4 thập kỷ qua, Chính
phủ đã coi trọng việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số, coi đó là một ưu tiên cho sự
phát triển của xã hội [2], [7]. Điều đó thể hiện qua việc cung cấp các dịch vụ
kế hoạch hóa gia đình.
Khuynh hướng trong nghiên cứu về tránh thai hiện nay trên thế giới là
đa dạng hóa các biện pháp tránh thai nhằm đáp ứng tối đa những nhu cầu cá
nhân của người sử dụng. Tại Việt Nam, thông dụng nhất vẫn là các biện pháp
sử dụng: vòng tránh thai, bao cao su, thuốc viên tránh thai, triệt sản, tránh thai
tự nhiên. Tuy nhiên, tỉ lệ áp dụng biện pháp tránh thai bằng thuốc tiêm tránh
thai, thuốc cấy tránh thai còn thấp [9].
Trên thế giới, vào năm 1990 có hơn 1 triệu phụ nữ ở 51 nước đang sử
dụng Norplantt, trong đó có nhiều nước đã dùng biện pháp này một cách phổ
biến, một số nước khác đang còn đang thử nghiệm. Sau một thời gian, ý
tưởng phát triển một que thuốc duy nhất dùng cấy dưới da có tên là Implanon,
tiện lợi hơn và được nghiên cứu thực hiện tại 9 nước châu Âu, Đông Nam Á.
Một nghiên cứu lớn đã được thực hiện tại Indonesia [7], [8], [9].
1
Ở Việt Nam, thực hiện mục tiêu giảm sinh đến năm 2010, thuốc cấy
tránh thai đã được áp dụng với mục đích tăng sự lựa chọn cho người sử dụng
[7]. Năm 1990, Norplantt là phương pháp tránh thai mới được thử nghiệm lần
đầu tiên ở nước ta. Nó bao gồm 6 mảnh chứa Levonogestrel được cấy dưới da
ở mặt trong cánh tay, có tác dụng tránh thai trong 5 năm và được thực hiện tại
Bệnh viện Phụ sản Trung Ương Hà Nội từ 8/1990 - 12/1991 [6].

Là một cấu trúc thần kinh nhỏ, nằm ở sàn não trên giao thoa thị giác và
dưới não thất ba. Vùng dưới đồi nối trực tiếp với tuyến yên. Về mặt giải phẫu,
vùng dưới đồi (VDĐ) được phân thành 3 vùng: quanh não thất, giữa và bên.
Mỗi vùng được chia nhỏ hơn thành những cấu trúc gọi là nhân. Trung khu
sinh dục của vùng dưới đồi nằm ngay phía dưới hố yên, liên thông với tuyến
yên bằng hệ mạch gánh Popa và Fielding.
Tồn tại nhiều mức độ của cơ chế hồi tác vòng dài; vòng ngắn và vòng cực
ngắn. Hồi tác vòng dài là sự tác động của các hormon trong tuần hoàn đến
vùng dưới đồi, đó là hồi tác của androgen và estrogen lên các thụ thể steroid
vùng dưới đồi và có chức năng điều hoà quan trọng trong hồi tác vòng ngắn.
Vùng dưới đồi chế tiết chủ yếu là các yếu tố giải phóng tuyến yên:
Hormon hướng sinh dục Gn-RH (Gonadotropin Releasing Hormone): Là
hormon duy nhất điều khiển chế tiết LH và FSH. Sự chế tiết Gn-RH theo nhịp
3
và sự chế tiết này bị ảnh hưởng bởi nhiều chất nội tiết và dẫn truyền thần kinh.
Nội tiết tuyến yên cũng được chế tiết theo nhịp gần giống như chế tiết Gn-RH.
1.1.1.2. Tuyến yên
Nếu không kể vùng dưới đồi thì tuyến yên là một tuyến nội tiết chủ đạo
kích thích nhiều tuyến nội tiết khác. Tuyến yên được chia thành 3 vùng hoặc
3 thuỳ: thuỳ trước, thuỳ trung gian, thuỳ sau.
- Thuỳ trước tuyến yên
Thuỳ trước tuyến yên là một tuyến nội tiết thực sự chế tiết ra các hormon
hướng như hormon hướng giáp trạng, hormon hướng vỏ thượng thận, hormon
hướng sinh dục. Trong đó, hormon hướng sinh dục gồm có FSH và LH.
+ FSH là một hormon hướng sinh dục có tác dụng kích thích nang noãn
của buồng trứng phát triển.
+ LH là hormon hướng sinh dục có tác dụng kích thích phóng noãn,
thành lập hoàng thể và kích thích hoàng thể chế tiết.
+ Prolactin là hormon kích thích tuyến vú tiết sữa
Hormon hướng sinh dục FSH và LH được tiết bởi các tế bào

noãn nguyên thuỷ) sẵn sàng cho phóng noãn. Trong số này chỉ có 400 - 500
nang noãn được phóng. Đến tuổi mãn kinh, buồng trứng gồm mô đệm dày và
rất ít nang noãn còn lại nằm rải rác ở buồng trứng.
Sự phát triển của nang noãn gồm một chuỗi các sự kiện xảy ra một
cách có trật tự dẫn đến sự phóng noãn ở giữa chu kỳ, bao gồm: sự chiêu mộ
các nang noãn, sự chọn lọc các nang noãn, sự vượt trội, sự thoái hoá của nang
noãn và sự phóng noãn, quá trình này bắt đầu từ sự phát triển của noãn
nguyên thuỷ, qua các giai đoạn nang noãn sơ cấp, nang noãn thứ cấp và nang
5
de Graff. Một chu kỳ phát triển nang noãn chỉ có một nang de Grraf trưởng
thành và phóng noãn.
+ Dưới tác dụng của FSH và LH nang noãn lớn lên chín, phóng noãn. Nếu
không được thụ tinh, sau 14 ngày sẽ diễn ra sự tiêu hoàng thể, làm giảm nồng
độ estradiol và progesteron nội sinh dẫn đến hành kinh [1], [2], [3], [4 ], [10].
1.2. TÁC DỤNG CỦA CÁC HORMON SINH DỤC NỮ
1.2.1. Estrogen
- Làm phát triển cơ tử cung bằng cách làm tăng phát triển số lượng, độ
dài và độ lớn của các sợi cơ.
- Làm tăng nhạy cảm của cơ tử cung đối với oxytocin và các nhân tố gây
co cơ.
- Làm phát triển niêm mạc tử cung qua việc kích thích phân bào, gây quá
sản niêm mạc tử cung, ung thư niêm mạc tử cung.
- Khi tụt đột ngột làm bong niêm mạc tử cung, gây chảy máu kinh nguyệt.
- Kích thích các tuyến cổ tử cung chế tiết nhiều chất nhầy, làm cho chất
nhầy trong và loãng khiến tinh trùng dễ xâm nhập lên đường sinh dục trên của
người phụ nữ.
- Làm phát triển các môi lớn và môi nhỏ của âm hộ.
- Làm phát triển biểu mô âm đạo, làm dày thành âm đạo thông qua tác
dụng duy trì làm chậm bong tế bào biểu mô âm đạo.
- Làm phát triển tuyến sữa của vú.

+ Giai đoạn hoàng thể: tính từ lúc rụng trứng đến lúc bắt đầu hành kinh,
kéo dài trung bình 14 ngày.
Một chu kỳ kinh nguyệt bình thường kéo dài 21-35 ngày, thời gian hành
kinh 2 - 6 ngày và lượng máu mất trung bình là 20 - 60ml. Tuy nhiên, khi
7
nghiên cứu một số lượng lớn chu kỳ kinh nguyệt, người ta nhận thấy rằng chỉ
khoảng 2/3 phụ nữ trưởng thành có chu kỳ kinh nguyệt kéo dài 21-35 ngày.
Đặc trưng của hai cực của đời sống sinh sản (tuổi dậy thì và tiền mãn kinh) là
có số chu kỳ không phóng noãn hoặc chu kỳ không đều cao hơn.
- Chu kỳ tử cung được phân thành giai đoạn tăng sinh và giai đoạn chế tiết
tương ứng với chu kỳ buồng trứng.
+ Thời kỳ tăng sinh:
Theo quy ước, ngày bắt đầu hành kinh được kể là ngày thứ nhất của chu
kỳ kinh. Sau hành kinh, màng rụng đáy bao gồm các tuyến nguyên thuỷ và
chất đệm dày và chặt nằm kế cận với cơ tử cung. Đáp lại sự gia tăng của
Estrogen trong tuần hoàn, màng rụng chức năng phát triển bằng cách gián
phân liên tục nhằm chuẩn bị cho sự làm tổ của phôi. Đó là đặc trưng của thời
kỳ tăng trưởng. Lúc bắt đầu thời kỳ tăng trưởng, nội mạc tử cung (NMTC)
tương đối mỏng (1-2mm). Thay đổi nổi bật trong thời kỳ này là sự phát triển
của các tuyến nội mạc thẳng, hẹp và ngắn thành những cấu trúc dài hơn, ngắn
hơn ngoằn ngoèo. Trong suốt thời kỳ này, chất đệm dày và đặc. Các cấu trúc
mạch máu ít khi được nhìn thấy.
- Thời kỳ chế tiết:
Ở chu kỳ 28 ngày, sự phóng noãn xẩy ra vào ngày thứ 14. Trong vòng
48-72 giờ sau phóng noãn, progesteron được tiết ra. Điều này chuyển NMTC
sang giai đoạn chế tiết, lòng tuyến chứa các sản phẩm tiết giàu protein. Đối
lập với thời kỳ tăng sinh, đặc trưng của thời kỳ chế tiết là có sự tác động của
progesteron đến tế bào bên cạnh tác động của estrogen. Nói chung, tác động
của progesteron đối lập với tác động của estrogen. Sự xuất hiện của
progesteron sau phóng noãn làm giảm các thụ thể của estrogen ở tế bào

này khuếch tán vào lớp hàng rào làm khép lớp này lại và ngăn không cho tinh
trùng thứ hai xâm nhập vào trứng. Thời gian tồn tại của trứng rất ngắn, chỉ từ
24-48giờ. Tinh trùng tồn tại trong đường sinh dục nữ khoảng 24 - 72 giờ,
9
nhưng khả năng thụ tinh cao nhất là khoảng 12 - 24 giờ. Vì vậy, muốn có hiện
tượng thụ tinh, tinh trùng phải gặp trứng vào đúng ngày rụng trứng hoặc trong
khoảng trước và sau rụng trứng 1 ngày.
1.4.1.1. Trứng đã thụ tinh di chuyển vào buồng tử cung
Nhờ nhu động của ống dẫn trứng, trứng được di chuyển đến tử cung.
Thời gian di chuyển khoảng 4 ngày. Trong thời gian di chuyển trứng trải qua
quá trình phân chia và khi chạm vào niêm mạc tử cung trứng có thể làm tổ
được ngay. Vì lý do nào đó trứng đã thụ tinh không di chuyển được vào
buồng tử cung, trứng có thể phát triển ngay tại tử cung hoặc loa vòi, hoặc do
nhu động theo chiều ngược lại của ống dẫn trứng làm trứng rơi vào ổ bụng.
Những trường hợp này được gọi là chửa ngoài tử cung, nếu không được phát
hiện và xử trí kịp thời sẽ gây nguy cơ tử vong, vỡ chảy máu làm nguy hiểm
đến tính mạng của người mẹ.
1.4.1.2. Trứng làm tổ và phát triển trong buồng tử cung
Sau khi vào đến buồng tử cung, trứng tiếp tục phát triển thêm khoảng 4-5
ngày rồi mới gắn vào niêm mạc tử cung. Như vậy trứng đã thụ tinh thường
làm tổ trong niêm mạc tử cung vào khoảng ngày thứ 7- 8, kể từ khi rụng
trứng, đó cũng là lúc niêm mạc tử cung chuẩn bị đón trứng vào làm tổ. Nơi
trứng làm tổ thường là ở vùng đáy tử cung, mặt sau nhiều hơn mặt trước và là
nơi bằng phẳng nhất [11], [12].
1.5. LỊCH SỬ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
1.5.1. Lịch sử các biện pháp tránh thai nói chung
Trong nhiều thập kỷ qua, sự sinh sản đã có ý nghĩa với mức độ thay đổi
với con người, tuỳ thuộc vào các mối quan hệ xã hội. Trước đây, cuộc đời
người phụ nữ tập trung vào việc đạt được “sự thành công cao nhất về sinh
sản” đảm bảo tương lai gia đình. Trong các thế kỷ trước, việc mang thai và

11
Vào năm 1932, Butenandt và Marrian đã phân tích cấu trúc của estrogen, đến
năm 1934, Allen, Butenandt và Wettstein cũng phân tích cấu trúc của và
progestin. Sau đó, người ta chỉ ra rằng các nội tiết tố steroid buồng trứng và
dẫn xuất của chúng có thể ức chế phóng noãn bằng tác dụng chức năng của
tuyến yên [73]. Các công trình nghiên cứu của Makepiece (1937) và Astwood
& Fevokl (1939) cũng chỉ ra rằng có thể ức chế phóng noãn bằng progesteron.
Năm 1944, Bickenback và Faulikovics chứng minh rằng tiêm 200 mg
progesteron đủ để ức chế phóng noãn ở phụ nữ. Các nhà nghiên cứu Đức là
Inhoffen và Hohlweg đã tổng hợp được ethinyltestoteron, norethisteron và
norethynodel. Đó là các Progestin tổng hợp với hiệu quả ức chế phóng noãn
tuyệt vời (Inhoffen & Hohlweg, 1938). Người ta cũng chỉ ra rằng sử dụng đơn
thuần progestin tổng hợp có thể ức chế một cách chắc chắn sự phóng noãn,
nhưng có tác dụng phụ như ra máu nhỏ giọt, các nghiên cứu sau đó đã phối
hợp progestin với một estrogen. Chế phẩm phối hợp đầu tiên ra đời có tên là
Enovid® . Enovid® đã được thử nghiệm qua nhiều nghiên cứu lâm sàng lớn ở
Nam Mỹ và xuất hiện ở thị trường châu Âu dưới dạng chế phẩm phối hợp
chứa 9,85mg norethydrel và 150µg mestranol. Sự phát triển trong các thập kỷ
gần đây đã làm xuất hiện các thuốc tránh thai nội tiết chứa liều thấp có tác
dụng tránh thai cao và ít tác dụng phụ. Bên cạnh đó, người ta cũng đã phát
triển thuốc với nhiều đường dùng khác nhau. Đến nay, nó cũng được sử dụng
rộng rãi trên toàn cầu [2], [4], [5], [6]. Thuốc tránh thai đường uống có 2 loại,
đơn thuần và kết hợp. Thuốc tránh thai kết hợp (phối hợp) gồm có 2 nội tiết tố
là E & P trong một viên thuốc. Thuốc này có 3 loại: 1pha, 2 pha và 3 pha.
Thuốc 1 pha có hàm lượng giống nhau giữa các viên thuốc trong vỉ thuốc.
Hiện nay, chế phẩm thuốc dạng này được sử dụng rộng, phổ biến và có hiệu
quả tránh thai cao. Thuốc 2 pha và 3 pha có hàm lượng thuốc thay đổi theo
các giai đoạn trong chu kỳ kinh nguyệt và ít được dùng [10], [73]. Tất cả các
12
viên thuốc ở dạng đơn thuần (chỉ có một nội tiết tố là Progestin) đều có hàm

chuyển hoá có hoạt tính này là 3-ketodesogestrel có danh pháp quốc tế là
etonogestrel (ENG).
Một đơn vị kinh doanh khác của tập đoàn OKZO Nobel, chữ O trong
AKZO là Organon, chuyên về sợi đã có thể sản xuất một copolymer gọi là
EVA tỏ ra thích hợp để chứa chất hormon. Etonogestrel dạng kết tinh được
treo trong chất nền polymer EVA để tạo nên một nhân thuốc, nhân này được
bọc trong một màng EVA. Thành phần cấu tạo này cho phép que cấy duy trì
phóng thích ENG lâu dài. Đó là que cấy tránh thai Implanon. So với các biện
pháp tránh thai khác, thuốc cấy tránh thai đã được chứng minh qua các nghiên
cứu ở nước ngoài là một trong những biện pháp tránh thai hiệu quả, an toàn
và dễ chấp nhận nhất [7], [8], [9]. Trên thế giới hiện có 4 loại thuốc cấy tránh
thai [19], [29], [34], [38], [51], [67].
- Mảnh cấy chứa Levonorgestrel có tác dụng tránh thai trong 5 năm.
Gồm 2 loại: Norplant ® 6 que và Jadelle® 2 que.
- Mảnh cấy Implanon® 1que, chứa Etongestrel (3 keto deogsstrel) có
tác dụng tránh thai trong 3 năm.
- Mảnh cấy chứa Progestogen là Nestorone có 2 loại:
+ Nestorone ® 1que, tác dụng tránh thai trong 2 năm.
+ Elcomtrine® 1 que, tác dụng tránh thai trong 6 tháng.
- Mảnh cấy Uniplant®1 que, tác dụng tránh thai trong 1 năm.
Trên thế giới có đủ 4 loại mảnh cấy tránh thai, nhưng có 2 loại được dùng
phổ biến được chấp nhận rộng rãi đó là Norplant ®, Jadelle® và hiện tại là
Implanon®. Các que cấy tránh thai không ảnh hưởng đến sức khỏe người xử
dụng, đã được tổ chức FDA của Mỹ cho phép xử dụng trên người [51].
14
Norplant của hãng Leiras Pharmaceutical - Phần lan và Implanon của
hãng N.V.Organon - Hà Lan.
Norplant là loại thuốc cấy tránh thai lần đầu tiên xuất hiện trên thị
trường thế giới đã chứng minh tính hiệu quả cao và tiện lợi của thuốc so với
các biện pháp khác. Norplantt chứa Levonogestrel, một loại progestogen, gồm

2
(13-Ethyl-17-hydroxy-11-methylene-18,19-
dinor-17a-pregn-4-en-20-yn-3-one) là dẫn chất 19 - nortestosterone và có ái
tính kết gắn cao với các thụ thể progesteron ở các cơ quan đích. Đây là
progesteron ở thế hệ thứ ba có hoạt tính androgen thấp hơn progesteron ở thế
hệ thứ nhất và thứ hai nên không gây nổi mụn, nám mặt, mọc râu ở phụ nữ
[57], [66], [72], [73].
Dược động học
Sau khi cấy que Implanon, etonogestrel nhanh chóng được hấp thu vào
máu. Nồng độ ức chế rụng trứng đạt được trong vòng một ngày. Nồng độ cực
đại trong huyết thanh (từ 427-1270 picrogram/ml), đạt được trong vòng 1-13
ngày. Tốc độ phóng thích của que cấy giảm dần theo thời gian. Do vậy, nồng
độ trong huyết thanh giảm nhanh trong những tháng đầu. Đến cuối năm thứ
nhất, nồng độ trung bình đo được vào khoảng 200 pg/ml (thay đổi trong
16
khoảng 150-261pg/ml ) giảm chậm còn 156 pg/ml (112-202pg/ml) vào cuối
năm thứ ba. Sự biến thiên được nhận thấy trong huyết thanh có thể phần nào
quy cho sự khác biệt về thể trọng. Phân bố 99,5-99% etonogestrel gắn với
protein huyết thanh, chủ yếu là albumin và một tỷ lệ ít hơn gắn với globulin
gắn với hormon sinh dục. Chuyển hoá Etonogestrel được hydroxyl-hoá và
khử trong cơ thể. Các chất chuyển hoá được liên hợp với sulphate và
glucuronide [7], [21], [33], [48], [73], [88]. Sau tháo que cấy tránh thai một
tuần nồng độ etonogestrel là 20 pg/ml, qua tuần thứ hai không còn ENG lưu
hành trong máu [21].
Thải trừ
Sau khi tiêm tĩnh mạch etonogestrel, thời gian bán thải trung bình vào
khoảng 25 giờ và thanh thải huyết thanh vào khoảng7,5 l/giờ. Sự thanh thải
lẫn thời gian bán thải vẫn không thay đổi trong thời gian điều trị. Sự bài tiết
etonogestrel và những chất chuyển hoá của nó, dù cho là dạng tự do hay liên
hợp đều qua nước tiểu và phân (tỷ số 1,5:1) [21], [48].

trong vỉ nhựa làm bằng polyethylene -terephthalate – glycol trong suốt được
hàn kín với giấy không thấm nước. Vỉ nhựa được đựng trong hộp cùng với tờ
hướng dẫn sử dụng [7]. Vỉ thuốc này do công ty N.V.Organon, PO Box 20,
5340 HB Oss, Hà lan sản xuất [41], [58], [67].
1.6.2. Đặc điểm cấu tạo của que cấy tránh thai
Thuốc cấy tránh thai Implanon chỉ có progestin được cấy dưới da, hạn sử
dụng trong thời gian 3 năm. Mỗi que cấy Implanon gồm :
- Lõi dài 40mm, đường kính 2mm và chứa 68mg etonogestrel.
Etonogestrel là một chất chuyển hoá có hoạt tính sinh học là desogestrel, một
proestagen được sử dụng rộng rãi trong thuốc viên ngừa thai. Lõi chứa 40%
EVA (ethylen vinyl acetate) và 60% etonogestrel.
- Màng: 100% là EVA dày 0,06 mm.
18
Que cy ny c ng trong can - nuyn ca ng cy vụ khun c
dựng mt ln. Que cy implanon khụng b phõn hu sinh hc v t ỳng v
trớ di da s khụng gõy cn tr, nhng cú th s thy que trong sut thi gian
s dng. Que cy cú th d dng c nh v v rỳt ra khi ht thi hn s
dng hoc rỳt ra sm hn nu khụng mun trỏnh thai [41]. Khi thỏo que nu
khụng s thy que, siờu õm ti ch cy tỡm v tin hnh th thut thỏo que
[45], [49], [54], [81].
Hỡnh 1.2. Cu trỳc ca que cy Implanon [72]
Hỡnh 1.3. Hỡnh nh que cy trỏnh thai [72]
1.6.3. C ch trỏnh thai ca Implanon
Implanon trỏnh thai nh vo 3 c ch [59], [76].
Mt l c ch rng trng (khụng cú nang noón vt tri).
Hai l lm c cht nhy c t cung ngn chn s xõm nhp ca tinh
trựng lờn ng sinh dc n.
19
Maỡng kióứm soaùt tọỳc õọỹ phoùng thờch (0,06mm)
a. Loợi: 40% EVA

[38], [69], không có những tác dụng phụ của viên thuốc tránh thai kết hợp.
Không ảnh hưởng tới ham muốn tình dục. Là thuốc tránh thai hồi phụ sinh sản
20
nhanh, khách hàng không thích hoặc có tác dụng phụ thì tháo ra [18], [38],
[41], [47], [58], [71], [76]. An toàn, kinh tế và tiết kiệm, là biện pháp tránh thai
của thế kỷ này, nhiều phụ nữ chấp nhận [36], [37], [41], [44], [43], [47], [52],
[62], [65], [74].
Không thuận lợi: đây là biện pháp tránh thai không phòng tránh được
HIV và các bệnh lây qua đường tình dục [8], [26], [48], [79]. Trong năm đầu
xử dụng nang cơ năng buồng trứng to lên, sau đó tự thoái triển, không ảnh
hưởng đến tình hình sức khỏe nói chung [46], [67].
Lợi ích cho sức khoẻ nói chung: thuốc có thể làm giảm hoặc khỏi
thống kinh, giảm bớt nguy cơ ung thư nội mạc tử cung [50], giảm bớt nguy
cơ viêm nhiễm phần phụ và chửa ngoài tử cung [29], [37], [44], [48], [58],
[74]. Đây là biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả tránh thai cao [44], [47],
[51], [57],
- Tác dụng phụ ( Tác dụng không mong muốn)
+ Do thuốc cấy tránh thai:
. Rối loạn kinh nguyệt: Vô kinh, rong kinh ra máu thấm giọt,rong
huyết, kinh thưa [40], [43], [76].
. Nhức đầu, chóng mặt, tăng cân, nám da, căng và đau vú, mụn trứng
cá, [58], [60], [67].
. Nhìn chung các tác dụng phụ thường nhẹ và chấp nhận được [47],
[50], [52], [68], [69], [87], [91].
. Dị ứng với các thành phần của thuốc [7], [50], [71], [72].
+ Do thuốc tê:
Sốc lidocain gây chết người (hiếm khi xảy ra)
+ Tại chỗ cấy:
. Bầm tím chỗ cấy [16], [32], [40]
. Nhiễm trùng chỗ cấy (nếu không tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn)

cản sự thành lập giao tử, hoặc ngăn chặn sự làm tổ của trứng, mỗi biện pháp
tránh thai đều có những ưu điểm và tác dụng không mong muốn, nhất là
phương pháp tránh thai nội tiết hay xảy ra xáo trộn kinh nguyệt [31], [37], [42].
Implanon là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ sức khoẻ mà tất
cả các cặp vợ chồng có thể thực hiện. Việc phòng tránh thai ngoài kế hoạch
và giãn khoảng cách sinh có tác động sâu sắc đến việc bảo vệ sức khoẻ,
giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong bà mẹ, trẻ em, không ảnh hưởng đến sự phát
triển của trẻ [7], [19], [28], [36], [47]. Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp
tránh thai phải là một quyết định tự nguyện dựa trên sự lựa chọn một biện
pháp thích hợp của khách hàng sau khi đã nhận được đầy đủ thông tin về mỗi
biện pháp. Vai trò của nhân viên y tế là cung cấp cho khách hàng tất cả các
thông tin về những thuận lợi, không thuận lợi cũng như cách sử dụng của mỗi
biện pháp.
Hiệu quả của biện pháp tránh thai được đánh giá bằng chỉ số Pearl
Index (P):
Số trường hợp thất bại *1200
P =
Số vòng kinh quan sát được
P: số trường hợp thất bại có thai /100 phụ nữ sử dụng phương pháp
tránh thai /1 năm. Ngoài vấn đề hiệu quả tránh thai cao, các phương pháp
tránh thai còn phải không ảnh hưởng đến sức khoẻ người sử dụng và được sự
chấp nhận xử dụng một cách rộng rãi của cộng đồng [4], [11], [72].
Tình hình nghiên cứu trên thế giới về thuốc tránh thai mảnh cấy
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về mảnh cấy tránh thai của các
nước, tổ chức Y tế Thế Giới kể cả hãng sản xuất ra que cấy. Họ nghiên cứu về
23
tính an toàn, hiệu quả tránh thai, khả năng chấp nhận của cộng đồng, các tác
dụng phụ của mảnh cấy tránh thai. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh tính
hiệu quả cao, an toàn và tiện lợi của thuốc cấy tránh thai so với các phương
pháp tránh thai khác.

hàng chấp nhận và các tác dụng phụ khác như đau đầu, chóng mặt, buồn nôn,
căng ngực, nổi mụn, các tác dụng phụ này chỉ thoáng qua không trầm trọng và
không cần phải điều trị, năm đầu có 5 trường hợp bỏ cuộc (tháo que cấy), năm
thứ hai có 11 trường hợp bỏ cuộc và năm thứ ba có thêm 8 đối tượng nữa bỏ
cuộc. Trong số 24 đối tượng bỏ cuộc có 12 trường hợp tháo que cấy vì bị tác
dụng phụ là rong huyết. Thủ thuật cấy và tháo que cấy đơn giản dễ thực hiện.
Cán bộ y tế được tập huấn sẽ thực hiện thủ thuật cấy và tháo que được [9].
Nghiên cứu của Trần Đức Chiến ở Bắc Giang với 300 đối tượng theo dõi trong
một năm có các kết quả sau: hiệu quả tránh thai là 100%, sự chấp nhận của
cộng đồng là 99,2%, tỷ lệ vô kinh là 15,9%, ra máu thưa là 19%, ra máu bình
thường là 69,5%, thủ thuật cấy que dễ, không có tai biến trầm trọng, có 6
trường hợp bỏ cuộc chiếm tỷ lệ 2 % [5]. Qua tình hình nghiên cứu về thuốc cấy
tránh thai như trên ta thấy đây là một biện pháp tránh thai mới của thế kỷ này,
có nhiều ưu điểm, được phụ nữ tin dùng, tuy nhiên còn một vài tác dụng phụ
không mong muốn, các tác dụng phụ không mong muồn này chỉ thoáng không
cần phải điều trị. Ưu điểm lớn nhất của biện pháp là hiệu quả tránh thai cao, an
toàn cho sức khỏe, có thai lại ngay sau khi ngưng sử dụng biện pháp [7], [9],
[11], [16], [18],[21], [28], [41], [44], [47],[51].
25

Trích đoạn Nghề nghiệp của đối tượng nghiín cứu Trình độ văn hoâ Phđn bố theo số con Câc biện phâp trânh thai đê sử dụng Cđn nặng vă huyết âp so với trước khi cấy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status