đánh giá hiệu quả sản xuất sắn ở phường hương vân - thị xã hương trà - tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13


Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp
vừa sản xuất và cung cấp sản phẩm thiết yếu cho xã hội loài người tồn tại và phát triển
cung cấp các yếu tố đầu vào co các ngành công nghiệp chế biến,khu vực thành thị.
Đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đhất nước thông qua xuất khẩu.Nông nghiệp nông
thôn còn là nơi tiêu thụ về tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng. Nông nghiệp còn đóng
vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững môi trường sinh thái.
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, nông nghiệp việt nam đã đạt được những
thành tựu to lớn, đáng chú ý là ngành nông nghiệp chuyển mạnh sang đa dạng hóa sản
xuất trồng trọt và chăn nuôi, hình thành nhiều vùng chuyên môn hóa sản xuất với quy
mô lớn , tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
Việt Nam từ một quốc qia thiếu lương thực đã trở thành nước đứng thứ hai thế giới về
xuất khẩu gạo. Bên cạnh cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm cũng được chú
trọng phát triển mà sắn là một trong những cây công nghiệp đó
Trong những nông sản xuất khẩu có giá trị lớn thì sắn cũng đươc xem là một
cây có giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây cây sắn thường được nhắc đến như một
cây có tiềm năng lớn trong ngành trồng trọt với mức đầu tư ban đầu thấp ,kỹ thuật
trồng chăm sóc đơn giản,đăc biệt nó có khả năng chịu hạn tốt,có thể trồng làm thức ăn
cho con tầm,cá trấm cỏ…
Thời gian gần đây củ sắn được dùng nhiều trong công nghiệp thực phẩm như
chế biến bột ngọt,bánh kẹo, dùng chế biến thức ăn gia súc,dùng trong ngành dược
phẩm. Trong ngành dược, tinh bột sắn dược sử dụng làm tá dược sản xuất thuốc, biến
tính tinh bột sắn cho nhiều sản phẩm có giá trị như đường glucose,fructose… để làm
dịch truyền hoặc các phụ gia cho sản phẩm khác. Tinh bột sắn được dùng để làm hồ
vải, làm lương thực thực phẩm cho người, đặc biệt tinh bột sắn là thành phần không
thể thiếu dược trong ngành công nghiệp chế biến thức ăn cho nghề nuôi trồng thủy sản
do nó có độ dẻo cao và không bị tan trong nước. Đặc biệt tinh bột sắn là thành phần
không thể thiếu được trong ngành công nghiệp chế biến thức ăn cho nghề nuôi trồng
thuỷ sản do nó có độ dẻo cao và không bị tan trong nước. Từ tinh bột sắn có thể chế
biến được gần 300 loại sản phẩm khác nhau



+ Đánh giá thực trạng, kết quả, hiệu quả sản xuất sắn ở phường Hương Vân -
thị xã Hương Trà- tỉnh Thừa Thiên Huế.
+Nêu những thuận lợi cũng như những khó khăn, từ đó đề xuất ra những giải
pháp và kiến nghị nhầm nâng cao năng xuất cây sắn taị địa bàn nghiên cứu.
• Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu
+ Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu từ các cán bộ thống kê của
phường Hương Vân, phòng thống kê thị xã Hương Trà, báo cáo tình hình kinh tế - xã
hội của thị xã, niên giám thống kê của thị xã Hương Trà, niên giám thống kê của Tỉnh
Thừa Thiên Huế và các tài liệu liên quan khác.
+ Thu thập số liệu sơ cấp: thông qua phỏng vấn điều tra ngẫu nhiên 30 hộ sản
xuất sắn trên địa bàn xã Hương Vân .
- Phương pháp phân tổ: sử dụng một số tiêu thức để phân tổ và phân tích so sánh các tổ.
- Phương pháp phân tích thống kê và phân tích kinh tế
- Một số phương pháp khác như: hỏi ý kiến chuyên gia, phương pháp so sánh
• Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: thị xã Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung chủ yếu ở phường
Hương Vân có diện tích trồng sắn lớn của thị xã Hương Trà.
- Về thời gian : đánh giá tình hình sản xuất sắn năm 2012

;<=>??@AB>
ACD?E?F>GH?@AB>
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa và bản chất của hiệu quả kinh tế (HQKT)
Trong điều kiện ngày nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển và cạnh
tranh được trên thị trường thì yêu cầu đặt ra là kinh doanh phải có hiệu quả.
Theo giáo trình Kinh tế Nông nghiệp thì HQKT là một phạm trù kinh tế mà
trong đó người sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả phân bổ.

H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả đạt được
C: Chi phí bỏ ra
Đây là sự so sánh về mặt lượng giữa kết quả đạt được và chi phí sản xuất, nó
phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra sản phẩm nhằm thõa mãn nhu cầu
con người.
- Hệ thống quan điểm thứ hai cho rằng: HQKT là tỷ số giữa phần tăng thêm của
kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
C
Q
H


=
Trong đó :
Q∆
: Phần kết quả tăng thêm
C∆
: Phần chi phí tăng thêm
- Hệ thống quan điểm thứ ba: Xem xét HQKT trong phần trăm biến động giữa
chi phí và kết quả sản xuất.
HQKT được xác định bởi tỷ số giữa phần trăm tăng thêm của kết quả thu được
và phần trăm tăng thêm của chi phí bỏ ra. Có nghĩa là nếu tăng thêm 1 % chi phí thì
kết quả sẽ tăng lên bao nhiêu %.
C
Q
H


=

kỷ 19 (Fang Baiping 1992. U Thun Than 1992).
Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn Biên, Hoàng
Kim, 1991). Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên. Sắn
được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam. Diện tích
sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du
phía bắc, vùng ven biển nam Trung Bộ và vùng ven biển bắc Trung Bộ .
1.1.2.2. vai trò và giá trị của cây sắn.
Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia
súc và lương thực thực phẩm. Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột
sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi. Từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo
thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco,
xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì
sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược
phẩm. Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc. Thân sắn dùng
để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun. Lá sắn non
dùng làm rau xanh giàu đạm. Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm, nuôi cá. Bột lá sắn
hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,… Hiện tại, sản phẩm sắn ngày
càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế (P.Silvestre,
M.Arraudeau, 1991).
Củ sắn tươi có tỷ lệ chất khô 38-40%, tinh bột 16-32%; chất protein, béo, xơ,
tro trong 100g được tương ứng là 0,8-2,5 g, 0,2-0,3 g, 1,1-1,7 g, 0,6-0,9 g; chất muối
khoáng và vitamin trong 100 g củ sắn là 18,8-22,5 mg Ca, 22,5-25,4 mg P, 0,02 mg
B1, 0,02 mg B2, 0,5 mg PP. Trong củ sắn, hàm lượng các acid amin không được cân
đối, thừa arginin nhưng lại thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh. Thành phần dinh
dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau khi trồng và kỹ thuật phân
tích. Lá sắn trong nguyên liệu khô 100% chứa đựng đường + tinh bột 24,2%, protein
24%, chất béo 6%, xơ 11%, chất khoáng 6,7%, xanhthophylles 350 ppm (Yves

Froehlich, Thái Văn Hùng 2001). Chất đạm của lá sắn có khá đầy đủ các acid amin
cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin.

hút kali gấp 10 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ ba gấp ba lần so với tháng thứ hai,
trước lúc thu hoạch lượng kali được hút gấp 2,5 lần tổng lượng đạm và lân. Nhu cầu
về đạm tháng thứ hai gấp rưỡi nhu cầu đạm của tháng thứ nhất, tháng thứ ba gấp bốn
lần của tháng thứ hai, tháng thứ tư gấp rưỡi của tháng thứ ba, lượng đạm hút được
nhiều nhất vào các tháng thứ 8, thứ 10 nhưng tốc độ hút đạm chậm lại. Lân được cây
hút đều trong suốt quá trình sinh trưởng. Cây hút lượng can xi nhiều gấp đôi lượng lân
và lượng manhê bằng một phần ba lượng can xi. Việc bón phân khoáng cân đối, hiệu
qủa đi đôi với việc tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh và sử dụng cây họ đậu trong
các hệ thống luân xen canh với sắn là giải pháp cơ bản để tăng năng suất sắn .
1.1.3.3 Nhóm nhân tố kinh tế-xã hội
Tập quán canh tác :
Đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng cây trồng. Nếu
tập quán sản xuất canh tác lạc hậu sẽ hạn chế tái sản xuất mở rộng, hạn chế sự đầu tư
khoa học kỹ thuật tiến bộ và sản xuất cây trồng kém hiệu quả, năng suất thấp. Tập
quán canh tác tiên bộ thể hiện ở việc nhận thức của việc đưa kỹ thuật tiên tiến áp dụng
vào sản xuất, tăng cường công tác khuyến nông giúp người dân thấy rõ tầm quan trọng
và điều kiện cần thiết.
Sự phát triển cuả khoa học công nghệ đẫ tác động rất lớn đến tập quán sản xuất
nông nghiệp nói chung và cây săn nói riêng. Trước hết là tiến bộ về giống, làm đất, sau
đó là khâu chăm sóc… Các cơ quan cần làm tốt công tác dồn điền đổi thửa, đảm bảo
ruộng đất được tập trung đủ lớn để máy móc, các công cụ tiến bộ có thể hoạt động
hiệu quả.
Thị trường tiêu thụ và giá của sản phâm :
Giá cả của sản phẩm và các yếu tố đầu vào là yếu tố tác động đến quyết định
sản xuất của người dân, các yếu tố đầu vào là chi phí sản xuất , nên khi tăng giảm giá

của chúng đều ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người sản xuất, tác động đến quy mô
của người sản xuất. Thị trường là nơi điều tiết cung-cầu của sản phẩm giữa người mua
và người bán. Dù ở hoàn cảnh nào thì người nông dân luôn bị thiệt thòi, ép giá. Họ rất
dễ bị tổn thương ,chính vì vậy sản xuất cần có quy hoạch, định hướng, tránh tình trạng

Chỉ tiêu đánh giá mức độ đầu tư sản xuất
- Chi phí đầu tư phân bón/ha( Số lượng: kg/ha ĐVT: 1000đ)
- Chi phí giống|ha (ĐVT: 1000đ)
- Chí phí thuốc BVTV ( ĐVT: 1000đ)
- Chi phí khác/ha( ĐVT: 1000đ) như: lao động thuê ngoài, đất đai, thủy lợi, thu
hoạch…
1.1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất sắn
Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất sắn
+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ được hộ
nông dân sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Đây là chỉ tiêu
tổng hợp nói lên quy mô, cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ.
GO = Qi*Pi (i=1,2, ,n)
Trong đó : Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i
N: Số sản phẩm
+ Chi phí sản xuất của hộ: Là các khoản chi phí mà các hộ nông dân phải bỏ ra
đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bao gồm chi phí bằng
tiền của hộ (C) và chi phí tự có của hộ (Tc).
+ Chi phí bằng tiền của hộ (C): là tất cả các khoản mà hộ phải chi tiền mặt ra
phục vụ cho quá trình sản xuất của mình trong một thời gian nhất định. Ví dụ như tiền
thuê lao động, tiền mua giống, phân bón, mua thuốc BVTV
+ Chi phí tự có (Tc): là những khoản mà hộ gia đình tự có và họ dùng nó để
đầu tư vào sản xuất. Các chi phí này là chi phí cơ hội của hộ nông dân. Ví dụ như công
lao động của gia đình, giống, phân bón mà gia đình tự có

+ Thu nhập hỗn hợp (MI): là kết quả cuối cùng thu được sau khi đã trừ đi chi
phí bằng tiền của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó của hộ gia đình.
MI = GO - C
+ Giá trị gia tăng (VA): Là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất sau khi đã
trừ đi chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất nào đó.

xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau Lúa, Ngô và lúa
mì. Tinh bột sắn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người
trên thế giới ( WW.TTA.Food market, 2009 ). Đồng thời sắn cũng là cây thức ăn gia
súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới và cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị
để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phu
gia dược phẩm. Ngoài những công dụng đã nêu trên thì như chúng ta cũng đã biết sắn
còn là nguyên liệu để sản xuất ra cồn và sắn còn được sử dụng để làm xăng chẳng hạn
như xăng E5 mà hiện nay ta đang dùng.
Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế
biến nhiên liệu sinh học ( ethanol ). Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử
dụng sắn đã được xây dựng năm 2008. Indonesia lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất
ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010. Các nước như
Lào, Papua New Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria….Cũng đang nghiên cứu thử nghiệm
cho sản xuất ethanol ( TTTA. Outtook for 2009 ). Nước có sản xuất sắn nhiều nhất là
Nigeria ( 45,72 triệu tấn ) kế đến là Thái Lan ( 22,58 triệu tấn ) và Indonesia ( 19,92
triệu tấn ). Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ ( 31,43 tấn/ha ), kế đến là Thái
Lan ( 21,09 tấn/ha ), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha
( FAO, 2008 ), Việt Nam ta đứng thứ 10 về số lượng sắn trên thế giới ( 9,38 triệu tấn )
→ Như vậy thì ta có thể thấy được tầm quan trọng của sắn đối với không những
trong sản xuất mà ngay cả trong đời sống hàng ngày của con người và ngoài ra còn là
nguồn cung cấp chủ yếu của các loại gia súc như lợn, gà…
Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên thế giới 2004-2008
Năm Diện tích (tấn/ha) Năng suất
(tấn/ha)
Số lượng
(triệu/tấn
2004 18,51 10,94 202,64
2005 18,69 10,87 203,34
2006 20,50 10,90 224,00
2007 18,39 12,16 223,75

Năng suất
(tấn/ ha)
Số lượng
(1000 tấn)
Đồng Bằng Sông Hồng 7,90 12,92 102,10
Trung du và miền núi phía Bắc 110,00 12,07 1.328,00

Tây Nguyên 150,10 15,70 2.694,50
Đông nam bộ 113,50 23,74 2.694,50
Đồng Bằng Sông Cửu Long 7,40 14,43 106,80
Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền
Trung
168,80 16,64 2.808,30
Cả nước 557,40 16,87 9.395,80
(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2012 )
Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu sắn đứng thứ 10 trên thế giới về sản
lượng nhưng lại là nước xuât khẩu tinh bột sắn đứng thứ 3 sau Thái Lan và Inđônêxia.
Ở miền Bắc nước ta, sắn là ột phần nguồn lương thực và là thức ăn gia súc của các hộ
sản xuất nhỏ. Ở miền Nam, cây sắn đang được chuyển đổi nhanh vai trò từ cây lương
thực thực phẩm truyền thống sang cây công nghiệp. Mặt dù công nghiệp chế biến tinh
bột sắn của nước ta còn mới và lượng xuất khẩu chưa lớn nhưng các nhà máy chế biến
tinh bột đều được trang bị công nghệ hiện đại.
Do giá mua củ sắn tươi của các nhà máy tinh bột sắn của nước ta thường thấp
hơn so với Thái Lan nên mở ra một triển vọng lớn về kim ngạch xuất khẩu tinh bột ra
thị trường thế giới. Mặt khác nguyên nhân sự tăng trưởng nhanh về nhu cầu sử dụng
tinh bột sắn trong các ngành công nghiệp phi thực phẩm là do giá tinh bột sắn trên thị
trường thế giới có tinh cạnh tranh so với tinh bột được chế biến từ các loại cây khác.
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của Việt Nam 2008-2011
Năm
Diện tích

( Nguồn: Tổng cục thống kê – số liệu năm 2012)
1.2.4 Tình hình sản xuất sắn trên địa bàn thị xã Hương Trà
Bảng 6: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn thị xã Hương Trà 2008 -2011
Năm
Diện tích (ha
)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
2008 927 201.1 18.658
2009 896 193 17.293
2010 886 192.5 17.056
2011 910 206 18.78
(Nguồn: Niên Giám Thông Kê thị xã Hương Trà- số liệu năm 2012)
ACD?PPLQL>HLRS@TGUVCW?
CD?
2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN PHƯỜNG HƯƠNG VÂN.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
phường Hương Vân nằm ở phía tây của thị trấn Tứ Hạ, có đường quốc lộ 1A,
tuyến đường tránh phía Tây, đường sắt Bắc Nam, cách trung tâm thành phố huế
10km

+ Phía Đông giáp với phường Hương Văn và xã Hương Bình
+ Phía Tây giáp với xã Phong An và xã Phong Sơn (huyện Phong Điền)
+ Phía Nam giáp với xã Hương Bình và xã Hồng Tiến.
+ Phía Bắc giáp với phường Tứ Hạ
.
2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng.
Với địa hình phức tạp của thị xã Hương Trà và cũng như các huyện trong Tỉnh,

Lượng mưa hàng năm lớn và phân bổ không đều trong năm. Mưa lón tập trung
từ tháng 7 đến tháng 10, mưa nhỏ tập trung từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm. Lượng
mưa trung bình hàng năm lớn, khoảng 2955 mm. số ngày mưa trung bình trong năm là
163 ngày, chiếm 44,66% số ngày trong năm.
Vùng có hướng gió thay dổi theo các mùa trong năm. Mùa đông với hướng gió
thịnh hành là gió Tây-Tây Bắc,đặc biệt có lúc xuất hiện gió Đông Bắc nên gây ra
những đợt rét khủng khiếp khiến cây trông, vật nuôi phải ngừng sinh trưởng, có lúc
phải chết. Mùa hạ với hướng gió Tây Nam lại chịu ảnh hưởng của dãy Trường Sơn
gây ra hạn hán nghiêm trọng.
Tóm lạ, do tính chất thời tiết, khí hậu khắc nghiệt như vậy nên việc xát định
đúng thời vụ gieo trồng là rất khó khăn. Hơn nữa, độ ẩm không khí quanh năm cao tạo
điều khiện thận lợi cho sâu bệnh phát triển, gây ảnh hưởng đến năng xuất, chất lượng
sản phẩm.
2.1.1.4. Sông ngòi
Hệ thống thoát nước mưa ,nước sinh hoạt của địa phương chủ yếu là thoát tự
nhiên rất thuận lợi vì trên địa bàn có hệ thống sông Bồ. Là nguồn cung cấp nước cho
sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tình hình dân cư và lao động
Phường Hương Vân được xem là phường thuần nông, mật độ dân số trung bình,
bình quân có 68.688người/km2. Tuy nhiên, mật độ dân số không đồng đều giữa các
vùng trong các tổ dân phố.
Tổng số nhân khẩu hiện năm 2012 la 7635 người, trong đó nam chiếm tỉ lệ
50,85%, không có sự chênh lệch lớn về tỉ lệ giữa nam và nữ.
Nếu phân theo ngành nghề, lao động trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chiếm
42.5%. Lao động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiêm 18.2%,
thương mại dịch vụ chiếm 39.3%. Nhìn chung lao động hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất từ trước đến nay của phường thể hiện sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế rõ rệt với việc chuyển đổi từ nông nghiệp sang dần thương mại dich vụ.


àm
công
ăn
lương
T
ỷ lệ
T
ổng
cộng
T
ự làm
L
àm
công
ăn
lươn
g
T
ỷ lệ
Tổng
cộng
1

Hương Vân
3
390
1
748
1
734


1
0 -
14
1
5 -
19
2
0 -
24
2
5 -
29
3
0 -
34
3
5 -
39
4
0 -
44
4
5 -
49
5
0 -
54
1
Phường

9
10
11
12
13

14
15
16
Nhu cầu việc làm và thu nhập hiện nay đã gây nên hiện tượng lao động ở nông
thôn di chuyển ra các trung tâm kinh tế lớn để tìm việc làm. Những thanh thiếu niên đi
làm việc ở các thành phố lớn sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông. Bỏ công việc gia
đình để tìm việc trong khi trình độ làm việc cũng như hiểu biết của số lao động này
còn hạn chế nên rất khó để tìm được việc làm tốt, đôi khi lại trở thành gánh nặng cho
gia đình và xã hội nếu rơi vào các tệ nạn xã hội. Vì thế, nâng cao hiệu quả sản xuất
nông nghiệp để lôi kéo số lao động này ở lại địa phương đồng thời cải thiện dời sống
của hơn 70 % dân số ở đây cũng chính là thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của thị xã.
2.1.2.2 Tình hình sử dụng đất đai
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai có vai trò hết sức quan trọng. Nó là tư liệu
sản xuất đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được. Sử dụng và khai thác đất đai
một cách hợp lý sẽ không những cải tạo được đất mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng
đất, từ đó nâng cao được năng suất và hiệu quả cây trồng.
Tổng diện tích đất tự nhiên của phường Hương Vân năm 2012 là 1391 ha.
Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp là 552,21 ha chiếm 39.7% tổng diện tích đất tự
nhiên và chiếm 77.56 % diện tích đất nông nghiệp.
Đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu của phường được dùng vào sản xuất cây
hàng năm với diện tích chiếm 80.35 % . Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện
tích đất trồng cây hàng năm của phường có xu hướng giảm. Năm 2012, diện tích đất
trồng cây hằng năm của phường giảm 0.64 ha so với năm 2011. Diện tích trồng cây
lâu năm của phường năm 2012 tăng 2,75 ha so với năm 2011. Đây là kết quả của việc

164,97
31
8.7
156,51
75.8
50.95
39.7
21.71
3.28
11.86
2.23
0.63
11.25
5.45
 Đất phi nông nghiệp 324.65 23.34
 Đất chưa sử dụng 65.94 4.74
2.1.3 Đánh giá chung tình hình cơ bản của thị xã Hương Vân
2.1.3.1Thuận lợi
- Nằm ở vị trí thuận lợi xác với thị trấn Tứ Hạ có tuyến đường quốc lộ 1A, tuyến đường
tránh phía tây và đường sắt Bắc Nam của cả nước, nằm bên vành đai của thành phố
nên có điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường, giao lưu trao đổi hàng hóa, tiếp thu
tiến bộ khao học kỹ thuật mới trong và ngoài nước.

- Lực lượng lao động của phường khá dồi dào. Người lao động cần cù, chịu học hỏi nên
thuận lợi trong tiếp thu khoa học kỹ thuật và sản xuất.
- Đất đai của phường khá đa dạng và màu mở, có cả đất lâm nghiệp và nông nghiệp rất
thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây công nghiệp ngắn
ngày và cây ăn quả.
- Bộ máy chính quyền địa phương có trình độ và kinh nghiệm quản lý là thuận lợi cơ
bản để phường phát triển trong thời gian tới.

17.0260,24 tạ. Đây là năng suất đạt khá cao do bà con áp dụng các giống lúa mới, kỷ
thuật mới, đầu tư thâm canh nên năng suất lúa ngày cang cao.
Đứng thứ 2 là cây lạc với diện tích và sản lượng cũng chiếm tỉ trọng khá cao.
Diện tích gieo trồng lạc cả năm 164,97 ha, tang 0,3 ha so với năm 2011, năng suất
bình quân : 22,2 tạ /ha, tang 2,1 tạ/ha so với năm 2011; sản lượng : 3663,28 tạ, tăng
406,91 tạ so với năm 2011. Mặc dù năng suất sản lượng cây lạc tang so với năm
2011nhưng vẫn còn thấp, do ảnh hưởng của đợt rét đậm rét hại kéo dài đầu vụ nên các
trà đầu gieo trong tháng 12 âm lịch bị thiệt hại đến 50% sản lượng
Sắn là cây trồng đứng thứ 3 sau cây lúa ,cây lạc với diện tích năm 2012 là 45,56
ha năng suất đạt được 212 ta/ha. Diện tích sắn giảm so với các năm trước do điều kiện
thời tiết không thuận lợi, do nhận thức của bà con về giá trị kinh tế của cây sắn chưa
cao nên một số diện tích trồng sắn chuyển sang trông cây khác.
Sắn là cây trông mang lại hiệu quả kinh tế cao, chi phí đầu tư thấp,ít tốn công,
dễ trồng. Đặc biệt, trong những năm qua, giống sắn KM94 được đưa về trồng ở địa
phương mang lại năng suất cao.Vì thế ta nên chủ động đầu tư vào cây sắn để có hiệu
quả kinh tế cao hơn trở thành vung vung cấp nguyên liệu chính cho nhà máy chế biến
tinh bột sắn Phong An-Phong Điền.
Trồng rau màu có mùa vụ ngắn, quay vòng vốn nhanh nên rất được bà con chú
trọng phát triển.
Ngành trồng trọt đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp của phường.
Đặc biệt sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày mang lại hiệu quả kinh tế cao. Phường
Hương Vân có tiềm năng về phát triển cây công nghiệp ngắn ngày. Vì vậy, phường
cần có chính sách phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp để phát triển sản xuất

hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân trên địa bàn
phường.
U$IXYZ)::%$&"))*+*,-
[6KXIK





AefqA
I ="ij9k  1.55


K [%lno2m 




p L$5*Zlm 362.79
31.0
8
393.
87


AeLR
I
="  i  j9
kl2m
45,56
45,5
6
K [%lno2m 212 212
p L$5*Zlm 9658.72
9658
.72


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status