Tình hình nhiễm sán lá ruột lợn trên địa bàn một số phường ở thị xã hương trà tỉnh thừa thiên huế và hiệu quả sử dụng thuốc tẩy han dertyl b - Pdf 22

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghề nuôi lợn ở nước ta đang ngày càng được mở rộng và cải tiến theo xu
thế tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới. Trong đó nuôi lợn
chiếm một vị trí quan trọng, phát triển trên địa bàn rộng ở cả nông thôn, thành
thị, miền núi với quy mô, số lượng ngày càng tăng nhằm mục tiêu sản xuất
nhiều thịt phục vụ cho xã hội. Song song với sự phát triển của ngành chăn nuôi
lợn thì dịch bệnh trên đàn lợn cũng ngày càng phức tạp. Bên cạnh những bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi lợn phải kể đến
bệnh ký sinh trùng. Lợn nuôi trong dân hiện nay chủ yếu là lợn Móng Cái và lợn
lai F1, đây là nhưng giống lợn rất tạp ăn, dễ nuôi.Vì vậy, người dân thường tận
dụng các loại phế phụ phẩm trong sản xuất và một số loại rau sẵn có để nuôi lợn.
Bên cạnh đó, các biện pháp để xử lý chất thải trong chăn nuôi có nhiều nhưng
rất ít người dân chăn nuôi áp dụng. Vì thế, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi chưa
cao, lợn dễ mắc bệnh, nhất là trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp như
hiện nay. Bệnh ký sinh trùng tuy không gây chết nhanh và nhiều như bệnh
truyền nhiễm nhưng hầu như các loài gia súc nào cũng nhiễm ký sinh trùng.
Như viện sĩ Skrjabin đã nói: "Ký sinh trùng mở đường cho các bệnh truyễn
nhiễm". Chính phương thức sống ký sinh trong đường tiêu hóa của các loài sán
này đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, nhờ đó các loại mầm bệnh dễ
xâm nhập gây viêm ruột, gây rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu, kích thích nhu
động ruột, gây tiêu chảy và hiện tượng nhiễm trùng. Nhưng điều quan trọng hơn
cả là phần lớn ký sinh trùng này gây bệnh cho súc vật nuôi ở thể mạn tính, các
bệnh ký sinh trùng ít biểu lộ những dấu hiệu đặc trưng, gây khó khăn cho việc
chẩn đoán và xử lý. Bởi vậy, nó là một trong những tác nhân mở đường cho
bệnh truyền nhiễm xâm nhập và phát tán, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn
nuôi.
Bệnh sán lá ruột lợn là một bệnh do ký sinh gây ra điển hình, căn bệnh
được xác định là do ba loại sán sau: Fasciolopsis buski, Echinostoma
malayanum, Gastrodiscodes hominis [1]. Bệnh có ở cả miền Bắc và miền Nam
nhưng có sự khác nhau về phân bố. Ở trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ tìm
thấy hai loại là F. buski và G. hominis và cả hai loài này đều gây bệnh cho cả lợn

nhau nên tình hình dịch bệnh ở các phường cũng có nhiều điểm khác biệt nhau.
Để có sự thay đổi cách nhìn nhận đối với bệnh ký sinh trùng này, góp
phần xây dựng các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả nhằm mang lại hiệu
quả kinh tế cho các hộ chăn nuôi và hạn chế sự nhiễm sán lá ruột lợn cho con
người. Vì thế, xuất phát từ thực tiễn chăn nuôi lợn kết hợp với mục đích của bản
thân và được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại Học Nông
Lâm Huế, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Lê Thị Vân Hà, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm sán lá ruột lợn trên địa bàn một số
phường ở Thị xã Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế và hiệu quả sử dụng
thuốc tẩy Han- Dertyl B”
2
II.CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột lợn trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột lợn trên thế giới
Bệnh sán lá ruột do Fasciolopsis buski (Lankaster, 1857; Odhner, 1802)
gây ra là một bệnh chung cho người và lợn. Bệnh thường thấy ở một số nước
nhiệt đới nhất là các nước ở vùng Đông Nam Châu Á như: Việt Nam,
Cambodia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Myanmar và Ấn
Độ [2],[10], [12].
Loài sán này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1843 do Busk tìm thấy
ở tá tràng của tử thi một người trong Hải quân Ấn Độ, tại bệnh viện hàng hải ở
Luân Đôn. Sau đó, vào năm 1837, Lankester đã mô tả về hình thái của sán này.
Hai năm sau, Cobbold đã bổ sung thêm về hình thái. Năm 1899, Loss xác định
vị trí của sán lá ruột về mặt phân loại. Về vòng đời của sán lần đầu tiên do
Nakagawa (1921) và Barlow (1925) nghiên cứu thành công gây nhiễm cho lợn
và người ở Trung Quốc [2]. Về vòng đời của sán, đầu tiên do Nakagawa (1921)
và Barlow (1925) nghiên cứu thành công gây nhiễm cho lợn và người ở Trung
Quốc [2].
Theo một số tác giả Trung Quốc cho thấy trước đây tỷ lệ nhiễm bệnh ở
Trung Quốc khá cao: Quảng Châu 10,15%, Triết Giang 36% (Trần Tâm Đào,

7,01 %. Về phân loại theo Lê Văn Hòa, Lê Thị Mỹ San loài gặp ở lợn các tỉnh
phía Nam là loài Echinostoma malayanum (Leiper, 1911) đồng nghĩa với
Artyfechinostoma sufrartyfex (Lane, 1915, Bhalerao, 1931) [12].
Những năm gần đây, một số kết quả điều tra cho thấy lợn nhiễm sán lá
ruột lợn với tỷ lệ rất cao 85%( Yakovlev, 1963), 78,4%( Phan Địch Lân, 1963),
41%( Bùi Lập, 1965), và 45,4- 86,4%( Nguyễn Trọng Nội, 1966). Những kết
quả điều tra của nhiều tác giả đã xác định bênh sán lá ruột lợn phân bố rộng
khắp ở các tỉnh thuộc miền núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng ven
biển từ Bắc đến Nam nước ta ( Bùi Lập,1977; Nguyễn Đăng Khải, 1977; Phạm
Văn Khuê, 1982; Lương Văn Huấn, 1994 )[14]
2.2. Vị trí trong hệ thống phân loại:
2.2.1 Fasciolopsis buski:
Ngành : Plathelminthes
Lớp sán lá : Trematoda
Phân lớp : Prosostomidea
Bộ : Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ : Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ : Fasciolidae Raillet, 1895
Phân họ : Fasciolopsinae Odhner, 1910
4
Giống : Fasciolopsis Loss, 1899
Loài : Fasciolopsis buski Lankaster,1857 [3],[7],[11]
2.2.2 Echinostoma malayanum
Ngành Plathelminthes
Lớp sán lá : Trematoda
Phân lớp : Prosostomidea
Bộ : Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ : Echinostomata Szidat, 1936
Họ : Echinostomatidae Dietz, 1909
Phân họ : Echinostomatinae Odhner, 1911

Manh tràng không phân nhánh, xếp đối xứng 2 bên thân. Tinh hoàn phân
nhánh cành cây, xếp trên dưới nhau nằm ở phần sau cơ thể. Buồng trứng phân
nhánh nằm phía trước tinh hoàn, xếp hơi lệch về bên phải. Tử cung uốn khúc nối
liền túi trứng và đổ ra ngoài ở gần chỗ giác bụng bởi âm đạo. Tuyến noãn hoàng
hình hạt xếp hai bên thân sán.[2]
2.3.1.3. Hình thái trứng
Trứng màu vàng nhạt hoặc vàng sẫm, trứng có hình bầu dục, giữa phình
to hai đầu thon nhỏ, đầu nhỏ có nắp trứng tuy nhiên nắp trứng thường khó phân
biệt rõ.
Kích thước trứng lớn, chiều dài từ 0,125 – 0.147mm, rộng từ 0,063 –
0,084 mm. Vỏ trứng mỏng, bên trong chứa đầy tế bào phôi, ranh giới giữa các tế
bào không rõ ràng.[1],[2]
2.3.1.4. Chu trình phát triển của Fasciolopsis Buski
1 Trứng 5 Cercariae ở môi trường
2 Trứng trong môi trường nước 6 Aldolescariae (nang ấu)
3 Miracidium (mao ấu) 7,8 Sán trưởng thành trong lợn và người
4 Ốc vật chủ trung gian
4a Sporocyst (bào ấu)
6
4b Rediae (lôi ấu)
4c Cercariae (vĩ ấu)
Sán lá ruột lợn phát triển gián tiếp qua một vật chủ trung gian là các loài ốc
nước ngọt sau: Planorbis schmacheri, P.coeno Segmentina Calathus, S. largillierti, H.
umbilicalis, Hippeulis cantori, Gyraul Convexiuseulus, G.saigonensis, P.henisphaerula,
Gsinensis. [2]
Sán trưởng thành thải trứng theo phân, mỗi ngày 1 sán có thể đẻ được từ
15.000 – 48.000 trứng. Trứng sau khi thải ra ngoài nếu gặp điều kiện ngoại cảnh
thuận lợi ; t
o
: 25 – 30

đó thì yếu dần.[2]
- Bào ấu (Sporocyst): Khi không cử động, bào ấu có hình tròn hơi dài,
kích thước khoảng 0,131 X 0,083 mm: khi co rút có kích thước 0,094 X 0,050
mm: khi dãn ra có kích thước 0,169 X 0,034 mm. Ở thời kỳ đầu bào ấu có mắt,
nhánh ruột có hai tế bào ngọn lửa và một số ống bài tiết nhỏ, có 30 – 40 phôi
bào . Ở thời kỳ cuối, bào ấu có kích thước 0,308 X 0,108 mm, phôi bào dần phát
triển thành redia mẹ [2]
- Lôi ấu (Redia): Redia mẹ dài 0,600 - 0,800 mm, rộng 0,100 - 0,200 mm,
trong đó có khoảng 22 khối phôi bào và một số Redia con đang phát triển ở các
giai đoạn khác nhau. Redia mẹ có túi miệng, ruột hình túi dài và rộng, có lỗ sinh
sản và một đôi cơ quan phụ. Redia con dài 0,736 - 0,896 mm, rộng 0,159 - 0,165
mm. Ruột của Redia con thay đổi hình thái, có hình bán nguyệt, có khi thành
hình chấm tròn, trong cơ thể có khoảng 1 - 45 vĩ ấu đã thành thục [2].
- Vĩ ấu (Cercaria): vĩ ấu dài 0,639 mm. Cơ thể chia làm hai phần: thân và
đuôi. Thân dài 0,195 mm, rộng 0,145 mm. Phần trước của thân và mặt bụng có
gai nhỏ, có hai giác bám. Giác miệng to hơn hầu và giác bụng. Cercaria sau khi
chui ra khỏi ốc thì chuyển động rất mạnh trong nước, trong một thời gian rất
ngắn thì Cercaria rụng đuôi và tiết chất nhờn bọc thành kén Aldolescaria. Từ lúc
bắt đầu tạo kén đến khi hình thành chỉ cần 1 - 3 giờ. Cercaria nhờ có giác
miệng, giác bụng bám trên vật môi giới, sau đó rụng đuôi, tiết chất nhờn tạo
thành hai lớp màng - lớp màng ngoài dễ vỡ, lớp màng trong chắc chắn, rất bền,
dịch vị không tiêu hóa được, chỉ khi tới ruột non, do tác dụng của dịch ruột và
dịch mật mới phân giải được màng trong. Kích thước của kén là 0,216 x 0,187
mm, nếu không tính màng ngoài thì chỉ có 0,148 x 0,138 mm [2].
2.3.2. Echinostoma malayanum
2.3.2.1. Vật chủ và vị trí ký sinh
Vật chủ: lợn nhà.[7,][11]
Vị trí ký sinh: ruột non của lợn.[7]
2.3.2.2. Hình thái sán trưởng thành
8

7,5 – 9,0 mm. Giác miệng nhỏ ở đỉnh đầu. Giác bụng rất lớn nằm ở phần sau cơ
thể và to hơn hẳn giác miệng. Ruột là hai ống ngoằn nghèo và to nhỏ không đều
nằm hai bên thân.
9
Hai tinh hoàn có chia thùy, nằm dọc ở giữa thân. Buồng trứng hình bầu
dục nằm giữa tinh hoàn sau và giác bụng. Tuyến noãn hoàng phân bố phía sau
thân dọc hai bên nhánh ruột.[2]
2.3.3.3. Hình thái trứng
Trứng hình bầu dục, một đầu có nắp, dài 0,110 – 0,123 mm, rộng 0,064 –
0,089 mm.[2]
2.3.3.4. Chu trình phát triển
Loss (1948) cho rằng cũng như loài Gastrodiscoides aegyptiacus phát
triển ở vật chủ trung gian là những động vật chân bụng Cleopatra bulimoides và
C. cyclostomoides và ốc Helicorbis coenosus.
Lợn mắc bệnh thải trứng qua phân, trứng rơi vào môi trường thích hợp sẽ
phát triển thành miracidium, miracidium chui vào vật chủ trung gian phát triển
tới giai đoạn cercaria. Cercaria ở môi trường nước sau vài giờ sẽ tạo thành
Aldolescaria. Khi lợn và người ăn phải kén sẽ phát triển thành sán trưởng thành
trong ruột già. [1],[2].
2,4. Dịch tễ học bệnh sán lá ruột
2.4.1. Nơi phát hiện
Việt Nam: Nam Bộ, Sài Gòn (1908, 1910, 1913), Nha Trang, Thừa Thiên
Huế, Hà Nội (1908, 1911, 1925, 1941, 1963, 1966), Hải Phòng (1911), Sơn
La (1960), Hà Bắc, Vĩnh Phú, Thái Bình, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định,
Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Yên, Hà Tĩnh.
Thế giới: Đông Dương, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Mianma,
Malaysia [7], [11].
2.4.2. Vùng nhiễm bệnh
Bệnh sán lá ruột lợn phân bố ở các nước và vùng lãnh thổ nhiệt đới châu
Á như: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia,

Dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 16,6 %.
Từ 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 45,8 %.
Từ 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 58,3 %.
Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 70,8 % [16],[17], [19].
Theo Lương Văn Huấn (1990) tỷ lệ nhiễm Echinostoma malayanum cũng
tăng dần theo lứa tuổi lợn
Dưới 3 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 0,5 %.
Từ 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 5 %.
Từ 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 8,5 %.
Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 8,8 % [13].
Lợn càng lớn thì tỷ lệ thức ăn sống trong khẩu phần càng lớn, lợn luôn
tiếp xúc với mầm bệnh nên bị tái nhiễm, bội nhiễm nhiều lần, mầm bệnh tích tụ
trong cơ thể. Bên cạnh đó tập quán nuôi lợn và các biện pháp vệ sinh thú y trong
chăn nuôi chưa được áp dụng nhiều , do đó đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ
11
lệ nhiễm tăng cao. Lợn nái và lợn đực giống có tỷ lệ nhiễm cao hơn cả, điều này
hoàn toàn phù hợp với quy luật tuổi mắc bệnh, vì thời gian nuôi hai loại lợn này
thường dài và thức ăn của chúng đa dạng [1].
2.4.5. Giống nhiễm bệnh
Mọi giống lợn ở nước ta đều bị nhiễm sán. Các giống lợn nội và nhập nội
như Ỉ Bắc Ninh, Ỉ Nam Định, Ỉ Quảng Hải, Móng Cái và Yorkshire đều cảm
nhiễm sán lá ruột mà không có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ (Phạm Văn Khuê,
1965)[2] .
2.4.6. Phương thức cho ăn
Bệnh sán lá ruột là bệnh lây nhiễm qua đường ăn uống vì vậy phương
thức cho ăn và loại thức ăn sử dụng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ nhiễm bệnh và
cường độ nhiễm bệnh.
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ môn chăn nuôi tiểu gia súc, trường Đại
học Nông Nghiệp I (1968 – 1969) Khi cho lợn ăn thức ăn sống thuộc các loại
rau, bèo nước có nhiều kén Aldolescaria lợn thường nhiễm sán lá cao hơn (từ ba

Vật chủ trung gian của sán lá ruột là các ốc nước ngọt Planorbis
coenusus, Segmentina nitidella, S. calathus, S. schmachkeri, S. hemisphaerula,
Gyraulus saigonensis và Hippeulis cantori (Barlow, 1925); Segmentina
12
calathus (Wallace, 1936); S. largillierti (Nakagawa, 1922); H. cantori, G.
saigonensis (Ngô Quang, 1937) [2],[5],[12] .
Ở nước ta vật chủ trung gian của sán lá ruột lợn là Polypilis hemispherula
và Gyraulus chinensis [1]. Qua nghiên cứu 41365 ốc thuộc 14 loài thường phân
bố ở ao, hồ, mương, cống rãnh, đồng ruộng…quanh khu vực chăn nuôi gia đình
vùng ngoại thành (Gia Lâm, Đông Anh) Hà Nội thì chỉ phát hiện được 2 loài
nhiễm Cercaria của sán lá ruột lợn là Polypilis hemispherula (9,2 %) và
Gyraulus chinensis (5,6 %) [21].
2.4.9 Vật môi giới truyền bệnh:
Theo Ngô Quang (1936 - 1938) các loại cây, cỏ sống dưới nước sau đây
có khả năng làm vật môi giới truyền bệnh: Eicchornia crassipes, Trapa natans,
Eliocharis tuberosa, Salvia natans, Lemna polyrhiza, Trapa natans var
(Wallace, 1936) [2].
Theo Hứa Bằng Như (1964), các loại cây cỏ thuỷ sinh khác như: bèo Nhật
Bản (Eichhornia crassipes Solm), tóc tiên nước (Vallisneria spiralis Linn), bèo
ong (Salvinia natans Hoffm), bèo dâu (Azolla pinnala R. Br), rong đuôi chó
(Geratophyllum demersum Linn), rong nhám (Hydrilla verticillata)… đều là vật
môi giới truyền bệnh sán lá ruột lợn [2].
Về cây cỏ sống ở nước làm vật môi giới truyền bệnh sán lá ruột lợn, năm
1966, Phạm Văn Khuê đã làm thí nghiệm lấy ba loại rau muống, rau lấp, bèo
dâu được bón phân lợn tươi, cho 60 lợn ăn riêng từng loại thức ăn sống kể trên,
thì cả ba lô (53 con) đều bị nhiễm sán lá ruột; lô đối chứng ăn chín không bị
nhiễm. Chứng tỏ ba loại rau bèo trên đều có nang kén Aldolescaria [2]
2.4.10. Điều kiện lây truyền bệnh:
Bệnh sán lá ruột muốn phát ra phải có đủ các yếu tố sau:
Nguồn dịch: đó chính là lợn và người bị nhiễm bệnh, trứng sán sẽ theo

làm ô nhiễm nguồn nước.[20]
2.5. Bệnh sán lá ruột lợn
2.5.1. Cơ chế sinh bệnh
Sán có hai giác bám vì thế nó có thể bám chặt vào niêm mạc ruột hoặc di
chuyển trong ruột, quá trình vận động này kích thích vào thành ruột , tạo điều
kiện cho việc nhiễm trùng thứ phát, gây viêm ruột.
Sán ký sinh quá nhiều có thể gây tắc ruột và tắc các tuyến tiêu hóa.
Độc tố của sán gây hiện tượng rối loạn tiêu hóa ở lợn con 3 - 4 tháng tuổi.
Khi xâm nhập vào máu, độc tố của sán gây hiện tượng nhiễm độc toàn thân, làm
giảm sức đề kháng của con vật.
14
Khi sán ký sinh trong ruột, sán lấy dưỡng chấp trong ruột làm thức ăn để
nuôi sống cơ thể và sinh sản. Đây là hoạt động cướp chất dinh dưỡng của sán
làm vật chủ thiếu dinh dưỡng [2]
15
2.5.2. Triệu chứng và bệnh tích
Biểu hiện rõ nhất của lợn nhiễm sán là còi cọc, thiếu máu suy nhược cơ
thể, lông xù, ăn uống thất thường, sụt cân, da sần sùi, niêm mạc mắt nhợt nhạt,
chậm lớn do sán chiếm đoạt chất dinh dưỡng. Lợn nhiễm sán, nhất là lợn con 3 -
4 tháng tuổi vẫn ăn khoẻ nhưng tăng trọng rất thấp. Sự giảm tăng trọng phụ
thuộc vào cường độ cảm nhiễm sán của lợn. Lợn nhiễm nặng có triệu chứng nôn
mửa, ỉa chảy, phân tanh, có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời. Độc
tố của sán cũng gây ra hiện tượng rối loạn tiêu hoá ở lợn con 3 - 4 tháng tuổi,
khi ỉa táo, khi phân lỏng, làm cho lợn còi cọc và chậm lớn [16], [19], [22], ngoài
ra còn làm cho con vật có triệu chứng thần kinh [13].
Lợn nái thường có tuổi thọ cao vì vậy tỷ lệ cũng như cường độ nhiễm sán
cũng cao. Đối với những lợn nái đang nuôi con bị nhiễm sán lá thì không chỉ
gầy còm mà còn giảm lượng sữa, lợn con bị thiếu dinh dưỡng sẽ phát triển
chậm, giảm sức đề kháng, nguy cơ mắc bệnh cao hơn vì thế tỷ lệ hao hụt lợn con
sau cai sữa cũng cao hơn so với những lợn nái khỏe mạnh.

2.6.2. Kiểm tra phân tìm trứng sán
Sán lá đẻ rất nhiều trứng, một con sán mỗi ngày đẻ từ 15.000 – 48.000
trứng nên kiểm tra phân rất dễ phát hiện trứng sán.
Phương pháp kiểm tra thường là phương pháp lắng cặn, nếu không có
dụng cụ chuyên dụng thì có thể kiểm tra bằng phương pháp trực tiếp, tuy nhiên
kết quả không thể chính xác bằng phương pháp lắng cặn.
2.6.3. Mổ khám và điều trị để chẩn đoán
Nếu có đủ điều kiện thì có thể mổ khám phi toàn diện nhằm tìm sán non
và sán trưởng thành trong ruột. Biện pháp này tốn kém vì vậy nên kết hợp để
chẩn đoán nhiều loại ký sinh trùng khác nhau.
Ngoài ra còn có thể dùng thuốc tẩy thử một vài con lợn rồi theo dõi phân
từ 24 – 48h sau khi cho thuốc, nếu có sẽ thấy con sán màu hồng ra theo phân.
2.6.4. Chẩn đoán bằng kháng nguyên tiêm nội bì
Có thể chế kháng nguyên từ sán trưởng thành sau đó pha với nồng độ
1/250 tiêm nội bì. Phương pháp này cho kết quả tốt, có thể chẩn đoán được bệnh
khi sán còn non, chưa kịp đẻ trứng, phát tán mầm bệnh ra môi trường. Tuy nhiên
vẫn có trường hợp cho phản ứng dương tính hoặc âm tính giả, bên cạnh đó kỹ
thuật tiến hành rất phức tạp nên khó áp dụng trong thực tế.
17
2.7. Biện pháp phòng trừ
Căn cứ vào đặc điểm sinh học và dịch tễ học của sán lá ruột, để phòng trừ
căn bệnh phải giải quyết hai khâu, đó là : tẩy trừ căn nguyên ở trong cơ thể gia
súc và diệt trừ mầm bệnh ở môi trường bên ngoài. Hai khâu này phải thực hiện
cùng lúc, nếu tách rời hoặc thực hiện không đồng bộ thì không thể đạt kết quả
tốt. Để đạt được mục đích cần những biện pháp cụ thể như sau:
2.7.1. Tẩy ký sinh trùng cho lợn bệnh và mang sán
Đối với dịch tễ học, Việc nghiên cứu thời gian tẩy sán trước lúc trưởng
thành, sán chưa kịp đẻ trứng rất quan trọng vì như vậy môi trường bên ngoài sẽ
không bị ô nhiễm trứng sán, tránh được hiện tượng tái nhiễm lợn và lây bệnh
cho người. Trong sản xuất, tẩy sán lúc còn non sẽ hạn chế được tác hại của sán

cho nhiều con khác [6],[24].
2.7.2. Xử lý phân để diệt trứng
Bên cạnh việc tẩy trừ sán trong cơ thể vật nuôi còn cần quan tâm đến việc
xử lý chất thải chăn nuôi, bao gồm phân rác, thức ăn thừa, nước tiểu và nước rửa
chuồng. Chất thải chăn nuôi là nguồn chứa trứng sán và phát tán ra môi trường,
vì vậy cần có các biện pháp xử lý phù hợp để cắt đứt chu trình phát triển không
chỉ của sán lá ruột mà của nhiều loài ký sinh trùng khác có trong cơ thể lợn.
Nguyễn Văn Thọ (2005) đã đề xuất biện pháp phòng chống sán lá ruột
cho lợn trong đó có đưa ra phương pháp quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
như sau:
Quản lý và xử lý phân:
Phân lợn nhiễm sán có chứa nhiều trứng, là nguồn bệnh duy nhất. Vì vậy,
phải tập trung phân lợn ủ theo phương pháp nhiệt sinh học để diệt trứng.
Công thức ủ phân: Phân chuồng: 2.000 kg
Lá xanh, cỏ, rơm rác: 200 - 300 kg
Vôi bột, tro bếp: 50 - 80 kg
Cách ủ: cứ một lớp phân lợn phủ một lớp lá xanh, tro bếp ) đánh thành
đống hình khối chóp, phía ngoài cùng trát một lớp bùn. Sau 12 ngày, nhiệt độ
đống phân tăng cao đến 50 - 540C. Ở nhiệt độ này, trứng F. buski và các trứng
giun sán khác đều bị tiêu diệt.
Quản lý phân lợn và diệt trứng F. buski trong bể Biogas:
Trứng F. buski bị diệt khi được giữ trong bể Biogas 30 ngày, nếu bổ sung
chế phẩm EM nồng độ 1% vào bể Biogas thì thời gian trứng bị diệt là 20 ngày.
Vì vậy, cần vận động các hộ nuôi lợn xây dựng bể Biogas để xử lý phân, diệt
trứng F. busk [9].
Quản lý và xử lý triệt để nước rửa chuồng:
Trứng F. buski có thời gian lưu giữ ngắn trong bể Biogas, khi theo nước
thải ra ngoài vẫn còn khả năng phát triển. Vì vậy, biện pháp xử lý đơn giản là
xây 2 - 3 bể chứa nước thải trước cửa thải của bể Biogas để làm lắng trứng, giữ
trứng lại trong bể mà không cho phát tán ra ngoại cảnh. [9],[20].

khi đưa ra môi trường bên ngoài, không sử dụng phân tười để bón ruộng…
Những biện pháp trên đơn giản, dễ làm và có hiệu quả cao trong phòng bệnh,
nên được sử dụng phổ biến để hạn chế sự phát tán và nhiễm bệnh.
2.7.4. Sán lá ruột ở người
Sán lá ruột phân bố từ miền trung Trung Quốc đến Bengal và nhiều nước
ở bán đảo India. Stoll (1947) ước tính rằng có khoảng 10 triệu người nhiễm sán
phần lớn là người Trung Quốc. Barlow cho biết có nhiều làng mạc ở Trung
20
Quốc tỷ lệ người nhiễm 100 % [5]. Tại Trung Quốc, có nơi trẻ nhiễm đến 80 –
86 %; tại Thái Lan, bệnh sán lá ruột chiếm đến 10 % số ca nhiễm ký sinh trùng
này ở đường ruột (Wiwanitkit và cộng sự, 2002) [8].
Tại Việt Nam, thời gian từ năm 2000 - 2005, 16 tỉnh, thành trong cả nước
có người nhiễm sán lá ruột lợn Fasciolopsis buski (Yên Bái, Tuyên Quang, Cao
Bằng, Bắc Cạn, Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Nam Định, Ninh
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Đắc Lăk, Cần Thơ và An Giang. Tỷ lệ nhiễm
chung trung bình là 1,23 % (0,16 – 3,82 %)). Sán lá ruột trưởng thành thu thập
từ bệnh nhân khi điều tra tại 7 tỉnh, thành Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,
Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ và An Giang đã được xác định loài là
Fasciolopsis buski qua phương pháp hình thái học và sinh học phân tử [8].
21
III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Lợn được nuôi tại nông hộ trên địa bàn 3 phường Hương Chữ, Hương An
và Hương Hồ thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ ngày 02/01/2012 đến ngày 05/05/2012.
3.3. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên địa bàn 3 phường Hương Hồ, Hương An và
Hương Chữ thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mẫu được xét nghiệm tại phòng thí nghiệm ký sinh trùng, bộ môn kí sinh

 Phương pháp kiểm tra mẫu:
• Phương pháp lắng cặn :
Nguyên lý : dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng của trứng với nước lã (d =1)
để tách trứng ra khỏi phân.
Các bước tiến hành :
Bước 1: Lấy 5 - 10 g phân cho vào cốc thuỷ tinh, cho vào một lượng nước
vừa để khuấy tan phân, lọc qua rây vào cốc tam giác ta được dung dịch lọc.
Bước 2:
- Đổ nước vào đến vạch 500 ml, chờ trong thời gian 15 – 30 phút sau đó
đổ nước ra.
- Đổ nước vào chờ thời gian t2 < t1, làm như vậy 3 - 5 lần cho 1 mẫu.
Bước 3: Sau khi đổ nước lần cuối ra, đổ cặn vào đĩa petri rồi nhỏ một giọt
xanh methylen vào để nhuộm màu các cặn và dễ phân biệt trứng sán.
Bước 4: Dùng ống hút nhỏ hút cặn lên lam kính, đặt lamen lên và kiểm
tra dưới kính hiển vi.
Bước 5: Đọc và ghi kết quả.
• Phương pháp đếm trứng Stoll:
Nguyên lý: dựa vào tính nhớt của dung dịch NaOH 0,1N để hòa đều
trứng trong dung dịch.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Cân 4g phân cho vào cốc đong.
Bước 2: Cho dung dịch NaOH 0,1N vào cốc đong đến vạch 60ml, sau đó
lấy đũa thủy tinh khuấy tan phân.
Bước 3:
- Dùng đũa thủy tinh khuấy đều rồi dừng lại đột ngột, lấy ống hút có vạch
chia hút 0,15 ml dung dịch trong cốc đong.
23
- Nhỏ 0,15 ml dung dịch lên các phiến kính, đặt lamen lên và kiểm tra
dưới kính hiển vi. Có thể nhỏ từ 3 đến 4 tiêu bản hoặc hơn.
Bước 4: Đếm trứng sán lá ruột lợn có trong 0,15 ml dung dịch đã được

 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
• Vật liệu nghiên cứu:
Thuốc tẩy sán lá Han – Dertyl B của công ty Hanvet
Thành phần:
Mỗi viên nén chứa:
Triclabendazole 300 mg
Albendazole 300 mg
Chỉ định:
Đặc trị bệnh sán lá gan trâu bò (cả 3 giai đoạn), sán lá ruột lợn, sán lá ống
mật, sán dây.
Tẩy sạch các loại giun tròn: Giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim, giun phổi
Liều lượng và cách dùng:
1 viên/ 50 kg TT.
Quy cách:
Viên 600 mg , lọ 20 viên
• Dụng cụ nghiên cứu:
Cốc thủy tinh
Đũa thuỷ tinh
Kính hiển vi
Cốc tam giác
Cốc đong
Ống hút nhỏ
Rây lọc
Ống hút có vạch chia
Phiến kính
Lamen
Đĩa petri
Xanh methylen
Dung dịch NaOH 0,1N
Thùng chứa mẫu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status