LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi
luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình, quý báu của nhà trường và địa phương. Nhân
dịp hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc tới:
Ban giám hiệu và Lãnh đạo Khoa Chăn nuôi – Thú y Trường Đại học Nông
lâm Huế cùng toàn thể các thầy cô giáo trong nhà trường.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình Giáo viên hướng dẫn đã tận
tình giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Hợp tác xã An Đô, phường Hương
Chữ đã tạo điều kiện cho tôi thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình,
bạn bè đã động viên, chia sẻ và khuyến khích tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
Do hạn chế về mặt thời gian nên báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong sự góp ý đánh giá của các thầy cô để báo cáo được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Huế, tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
1
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 3.1: Phân biệt trứng sán lá gan và trứng sán lá dạ cỏ
Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm
Bảng 4.1: Tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola spp theo vùng sinh thái trên đàn
trâu phường Hương Chữ
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola theo lứa tuổi
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu sinh lý của trâu trước và sau khi tẩy
Bảng 4.4: Hiệu lực của 2 thuốc Phar- Detocid và Fasciolid
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ Trang
3.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.2. Địa điểm nghiên cứu 22
3.3. Thời gian thực tập 22
3.4. Nội dung nghiên cứu 22
3.5. Phương pháp nghiên cứu 22
3.5.1. Phương pháp lấy mẫu phân trâu 22
3.5.2. Phương pháp xét nghiệm mẫu 23
3.5.3. Đánh giá trọng lượng trâu 24
3.6. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 25
3
3.6.1. Vật liệu nghiên cứu 25
3.6.2. Dụng cụ nghiên cứu 26
3.7. Phương pháp xử lý số liệu 26
3.7.1. Tính tỷ lệ nhiễm 26
3.7.2. Tính cường độ nhiễm 26
PHẦN 4 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
PHẦN 5 35
KẾT LUÂN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Đề nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
4
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là nước nông nghiệp vì vậy để phát triển nền kinh tế thì chúng ta
phải chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa tới nông nghiệp về trồng trọt cũng như
về công tác chăn nuôi thú y, để góp phần giải quyết về nhu cầu thực phẩm, sức cầy
kéo và tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với cư dân vùng cao,
vùng trung du, miền núi.
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Tình hình nghiên cứu về Fasciola spp
2.1.1. Tình hình nghiên cứu Fasciola spp trên thế giới
Nhà triết học Hy Lạp – Aristole, (384 - 322) trước công nguyên đã nói về cơ
chế phát sinh ký sinh trùng được sinh ra từ môi trường bên ngoài, về sau có nhiều
công trình nghiên cứu về sán và ký sinh trùng ở gia súc ra đời [15].
F. hepatica được Johande phát hiện đầu tiên vào năm 1379 trên cừu và được
gọi là sán lá gan cừu và đến năm 1758 Linnaeus đặt tên latinh là Fasciola
hepatica. Sau 130 năm sau Thomas (1882) và Leuckart (1882) ở Anh và Đức
đồng thời xác định được vòng đời phát triển của F. hepatica, sau đó Thomas tiếp
tục nghiên cứu vòng đời phát triển của F. gigantica. Tác giả coi đó là vòng phát
triển chung của loài sán thuộc lớp Treamtoda. [9]
Thời kỳ trưởng thành của sán ở các loài động vật cũng khác nhau: ở bê là 84
ngày (Alicata, 1938); 111 ngày ở dê, cừu (Kendall và Parfit, 1953); 132 ngày ở trâu
[9].
Alicata, 1941 đã xác nhận F. gigantica có thể ở gan bò 3 năm 4 tháng [9].
Hedonleyz, 1954 đã chế ra dung môi nuôi sán và đã nuôi sán sống được từ 72 -
120 giờ [9].
Rohrbacher, 1957, đã nuôi sán đạt tới 21 ngày và giữ được màu sắc tự nhiên hoạt
động đến ngày 14 [9].
Theo Taylor, 1965, thì F. gigantica và F. hepatica có hình thái khác nhau. F.
gigantica có hình dáng thuôn và dài, thường có phần sau kéo dài, có ruột chia thành
nhiều nhánh nhỏ và có giác miệng to hơn. F. hepatica thân có hình tam giác, ruột không
phân nhánh hoặc ít khi chia nhánh [9].
P.Bergeon, 1970, quan sát ở Etiope cho biết: F.hepatica có tinh hoàn chia nhánh
hình ống và hơi ngoằn ngoèo, F. gigantica thì tinh hoàn hết sức ngoằn ngoèo gấp vào
nhau tạo thành 1 búi cuộn lại [9].
Ở khu vực Đông Nam á, Châu á các loài sán thường gặp ở bò là F. gigantica,
F. hepatica, Paramphistomata, Gigantocotyle explanatum (Joseph và Boray, 1994)
Năm 1978, Phan Địch Lân, công bố công trình nghiên cứu đầy đủ về sán lá
gan do loài F. gigantica gây ra bao gồm hình thái, sinh thái, chu kỳ sinh học, tác
hại của bệnh đối với trâu, bò ở nước ta [8].
Phan Lục và cs, (1993) điều tra đàn bò nuôi ở đồng bằng sông Hồng thấy tỷ lệ
nhiễm sán lá gan là 61,2% [14].
8
Vương Đức Chất (1994) cho biết, đàn bò sữa ở ngoại thành Hà Nội được chăm
sóc và nuôi dưỡng tốt vẫn bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ là 34,42% [1].
Năm 1995, Phan Lục và cs, cho biết: tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở phía Bắc trên
trâu là 70%, bò là 61,2%, dê là 20%. Và tỷ lệ nhiễm sán khi mổ khám trâu ở 8 tỉnh
phía Bắc là 47% [14].
Cũng trong năm 1995, Nguyễn Trọng Kim đã điều tra tỷ lệ nhiễm Fasciola
spp ở tỉnh Nghệ An cho thấy huyện Nghi Lộc nhiễm 25,27%, huyện Diễn Châu
nhiễm 32,65%, tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi của vật nuôi, thấp hơn 2 tuổi
nhiễm 10,9%, từ 3 - 5 tuổi nhiễm 23,33%, từ 6 - 8 tuổi nhiễm 53,58, trên 9 tuổi
nhiễm 76,68% [5].
Năm 1996, Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê, kiểm tra đàn bò sữa ở Ba Vì cho biết
đàn bò sữa ở đây bị nhiễm sán lá gan tới 46,23% [17].
Theo Lương Tố Thu và cs, (1996) thì ở miền Bắc nước ta tỷ lệ nhiễm sán lá
gan chung ở trâu, bò là 44,53%, tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là
54,21% nặng hơn trâu là 33,92% [24].
Năm 1997, Nguyễn Văn Diên cho biết: qua mổ khám bò ở Tây Nguyên bị
nhiễm Fasciola spp 58,06%, xét nghiệm phân thấy nhiễm 61,75%. Tỉ lệ nhiễm tăng
dần theo lứa tuổi, bò nhỏ hơn 6 tháng nhiễm 8,08%, từ 7 - 12 tháng nhiễm 36,79%,
từ 13 - 24 tháng nhiễm 70,29% và trên 24 tháng nhiễm 87,09%. Tác giả cũng cho
biết tỷ lệ nhiễm cao nhất ở vùng trũng là 72,37%, vùng đồi núi, trung du là 63,05%,
vùng cao nguyên là 46,09% [2].
Theo Lương Tố Thu và cs, (2000) khi kiểm tra phân trâu, bò ở Đông Anh - Hà
Nội thấy 100% số trâu, bò bị nhiễm Fasciola spp với cường độ nhiễm 13,8 - 16,5
trứng/1g phân [25].
nhau ở phần sau của cơ thể. Mỗi tinh hoàn thông với một ống dẫn tinh riêng rồi
gộp lại thành ống dẫn tinh chung đổ vào lỗ sinh sản ở mặt bụng. Buồng trứng phân
nhánh ở phía trước tinh hoàn, tử cung uốn khúc thành hình hoa ở giữa. Trứng của
F. gigantica phình rộng ở giữa và thon về 2 đầu, đầu nhỏ hơn có nắp, vỏ mỏng
gồm có 4 lớp bên ngoài phẳng có chiều dài từ 0,125 - 0,170mm, chiều rộng từ
0,060 - 0,100mm, phôi bào phân bố đều và có màu vàng sáng [3].
- F. hepatica thân có hình tam giác, ruột không chia nhánh hoặc ít khi chia
nhánh, có chiều dài từ 18 – 51mm, chiều rộng từ 4 - 13mm, thân dẹp hình lá, có
màu nâu nhạt, phần đầu hình nón dài từ 3 - 4mm có chứa 2 giác bám, giác bụng
lớn hơn giác miệng, phía trước thân phình to và thon dần về cuối tạo thành vai rất
rõ. Cấu tạo bên trong giống F. gigantica trứng hình elip, các đầu hơi giống nhau
10
chiều dài từ 0,130 - 0,145mm, chiều rộng từ 0,070 - 0,090mm, bên trong chứa phôi
bào hình hạt, có mầu vàng [3].
2.2.2.2 Vòng đời phát triển của Fasciola spp
Fasciola spp luôn luôn cần vật chủ trung gian là ốc nước ngọt và các cây rau,
cỏ thuỷ sinh làm vật môi giới truyền bệnh.
Fasciola spp trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê, cừu…
Sau khi thụ tinh mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng, những trứng này cùng dịch mật
đổ vào ruột sau đó theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ từ 15 -
30°C, pH = 5 - 7,7 có ánh sáng, độ ẩm thích hợp, sau 10 - 15 ngày trong trứng hình
thành Miracidium, dưới tác động của ánh sáng Miracidium đẩy bật nắp trứng chui
ra ngoài và bơi lội tự do trong nước không quá 40 giờ. Nếu gặp ký chủ trung gian là
ốc Limnae auricularia, Limnae viridis, Galba tracatula, Radix ovata. Miracidium
chui vào cơ thể ốc di chuyển vào gan, mất hết lông và phát triển thành Sporocyst.
Sporocyst chứa nhiều tế bào phôi, những tế bào phôi này sau 15 - 30 ngày phát
triển thành Redia, Redia hình suốt chỉ chứa nhiều tế bào mầm [9].
Bằng lối sinh sản vô tính mỗi Sporocyst sinh ra 5 - 15 Redia, mỗi Redia lại
sinh ra nhiều redia con sau 32 - 40 ngày ấu trùng dài tới 1mm và có thể sinh ra 15 -
20 Cercaria. Từ khi Miracidium vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần 50 -
rụng lông và bóc ra các tế bào thân, cuối cùng cơ thể mao ấu rữa dần ra biến thành
1 khối nhạt màu.
Kích thước của mao ấu dài 0,19mm, rộng: 0,026mm [9].
- Sporocyst (Bào ấu) là dạng ấu trùng thứ 2 của Fasciola spp, bào ấu có dạng
hình túi được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các cơ quan ở giai đoạn mao ấu mất đi
12
và xuất hiện các cơ quan khác, không còn mắt, lông xung quanh và các tuyến đỉnh
cũng mất đi và hình thành ống ruột và hầu. Các bộ phận này nằm trong khối tế bào
thân rất lớn. Trong cơ thể bào ấu đôi tế bào ngọn lửa hoạt động mạnh, các đám tế
bào phôi do hiện tượng đơn sinh tính về sau phát triển thành các Redia. Bào ấu có
mầu sáng ít hoạt động.
Kích thước của bào ấu dài: 0,272mm, rộng: 0,167mm [9].
- Redia (Lôi ấu) có dạng hình giun hoạt động mạnh và xuất hiện 1 số nét của
sán trưởng thành: hầu hai mảnh hình hạt đậu, ống ruột chạy dọc cơ thể, cơ thể có
màu vàng đậm, các đám phôi rõ và lớn hơn.
Kích thước Redia mẹ dài: 0,333 - 0,582mm, rộng: 0,140 - 0,156mm, trung
bình dài: 0,494mm, rộng: 0,134mm. Cơ thể chỉ chứa các đám tế bào phôi, số lượng
Redia có từ 1 - 3 ấu trùng, thời gian hình thành giai đoạn này từ 8 - 14 ngày. Từ
ngày thứ 15 kích thước của lôi ấu lớn dần lên và đã có hiện tượng ấu trùng sinh. Số
lượng Redia con sinh ra từ Redia mẹ từ 4 - 5 ấu trùng, cấu tạo của giai đoạn này:
hầu còn là 1 khối u tròn toàn bộ cơ thể có mầu sáng, hoạt động chậm chạp, sau 28
ngày đã xuất hiện những redia con và có kích thước dài: 0,83 - 1,87mm, rộng: 0,10
- 0,31mm, trung bình dài: 1,43mm, rộng: 1,25mm [9].
- Cercaria (Vĩ ấu) thời gian từ khi mao ấu đến khi phát triển thành vĩ ấu cần
khoảng 50 - 80 ngày. Vĩ ấu gần giống con nòng nọc, kích thước nhỏ. Vĩ ấu non
phần thân dài hơn phần đuôi, vĩ ấu trưởng thành thì phần đuôi dài hơn phần thân.
Thân vĩ ấu có hình tròn, chiều dài lớn hơn chiều rộng, phần đuôi làm cho vĩ ấu
chuyển động. Vĩ ấu có giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành
hai manh tràng.
Kích thước của vĩ ấu trưởng thành dài: 0,28 - 0,30mm, rộng: 0,23mm [9].
xạ cho thấy mỗi một sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy đi 0,2ml máu mỗi ngày, với
những gia súc nhiễm sán với số lượng lớn lên tới hàng trăm con thì số lượng máu
bị mất đi mỗi ngày là không nhỏ. Gia súc có chửa bị mắc sán lá gan dễ bị đẻ non,
con đẻ ra yếu, sinh trưởng chậm.
Các triệu chứng thường thấy ở gia súc bị mắc bệnh sán lá gan là gầy còm, ốm
yếu, suy nhược cơ thể, phân bị nhão không thành khuôn, có lúc đi ỉa lỏng, phân
đen có mùi khắm thể hiện đường tiêu hóa bị tổn thương nặng. Niêm mạc mắt nhợt
nhạt, do thiếu máu kéo dài, lông xù, bị rụng nhiều, da mốc, hốc mắt sâu có dử, thùy
thũng ở mi mắt, ngực, yếm, gia súc cái dễ bị sảy thai và sản lượng sữa bị giảm tới
50%.
14
Những thiệt hại kinh tế do bệnh sán lá gan gây ra trên trâu bò thường thể hiện
ở những mặt sau:
Khi bệnh phát sinh, lưu hành có tính chất địa phương, thường làm súc vật chết
nhiều, nhất là súc vật non. Trường hợp này gặp ở thể cấp tính của bệnh.
Bệnh tiến triển dưới thể mạn tính làm súc vật gầy còm, sút cân, kiệt sức. Nếu
bò sữa mắc bệnh, sản lượng sữa bị giảm từ 40%, có trường hợp nhiều hơn nữa
(Phạm Văn Khuê, 1996) [6].
Bệnh sán lá gan là một trong những nguyên nhân làm cho trâu bò cày kéo gầy
yếu, giảm sức kéo, giảm tuổi sử dụng và tuổi thọ. Tác động của sán lá gan gây tăng
sinh mô liên kết, thoái hóa mô mềm, tức là một quá trình xơ hóa thoái biến. Trong
những trường hợp xâm nhiễm nặng hậu quả là biến loạn dạ dày, ruột, thiểu năng
tuần hoàn, thiếu máu, gầy rạc, có thủy thũng ở mạc, có khi thủy thũng toàn thân
(Nguyễn Trọng Nội, 1980) [18].
Khi mổ thịt phải bỏ những gan bị nhiễm sán. Nguyên nhân là do sán lá gan
trong quá trình di hành gây viêm gan, xơ gan, tạo những hang hốc trong gan trong
đó có nhiều ký sinh trùng, làm mất phẩm chất và năng suất sản phẩm, đồng thời
cũng gây nguy hại đến sức khỏe con người.
Chất lượng thịt, len và khả năng đẻ của những súc vật mắc bệnh bị giảm, gầy
yếu, sút cân, sức sản xuất giảm, nhiều khi con vật không ăn, có khi bị ho, đi ỉa,
Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại tăng theo tuổi, nó được thể hiện
qua các số liệu : từ 1-12 tháng tuổi : 23%, từ 13- 24 tháng tuổi là 30%, và trên 24
tháng tuổi là 47% (Trịnh Văn Thịnh,1978) [23].
Theo tác giả Phạm Khuê, Phan Lục (1996) [6]và cùng nhiều tác giả khác
đều cho rằng : tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở loài động vật nhai lại tăng theo
tuổi.
2.3.3 Mùa mắc bệnh
Mùa hè số gia súc bị nhiễm sán cũng tăng hơn so với các mùa khác trong
năm. Đến mùa cuối thu và mùa đông bệnh thường phát ra. Lúc này trong gan gia
súc có nhiều sán trưởng thành. Gan cũng có nhiều trứng sán. Bệnh này thường phát
ra nặng có khi làm gia súc chết vào mùa này (Trịnh Văn Thịnh 1963) [22]. Từ mùa
hè sang mùa đông sán lá gan hoàn thành vòng đời, gia súc bị bệnh thường phát vào
mùa đông, khi thời tiết giá rét,cỏ thiếu, nguồn thức ăn dự trữ khan hiếm, gia súc
làm việc nhiều làm cho sức đề kháng của gia súc giảm. Bệnh có thể gép với một số
bệnh ký sinh trùng đường máu gây chết hàng loạt.
16
Ngoài ra, súc vật nhiễm bệnh thường tăng lên vào mùa ký chủ trung gian
phát triển và ở các vũng nước có nhiều cercaria, adolescaria cho nên những năm
mưa nhiều số súc vật bị nhiễm sán cũng tăng lên hơn những năm nắng ráo khô hạn.
2.3.4 Chất chứa mầm bệnh
Nguồn gieo bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu, ) và những thú
dã mang Fasciola spp. Một con sán lá gan một năm có thể thải theo phân khoảng 1
triệu trứng/tuần và nó có thể sống trong cơ thể gia súc khoảng 11 năm (Wainland
và Brand,1926 ; trích dẫn từ Nguyễn Thị Lê, 2000) [13]. Bởi vậy, mỗi súc vật
mang sán mỗi năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và những nơi chăn
thả. Những đồng cỏ ẩm thấy lầy lội là nơi cần thiết để mầm bệnh phát triển và
xâm nhập vào súc vật. Những nơi này chẳng những thuận lợi cho trứng sán phát
trển thành miracidium mà thuận lợi cho ký chủ trung gian của Fasciola spp tồn tại
và phát triển.
Từ một trứng sán phát triển thành miracidium, nếu gặp điều kiện thuận lợi
2.4.3. Chẩn đoán bằng xét nghiệm phân
Xét nghiệm phân của súc vật bằng phương pháp gạn rửa nhiều lần (phương
pháp lắng cặn) phát hiện trứng Fasciola spp. Phương pháp này dùng phổ biến
nhưng chưa phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm Fasciola spp, nhất là những
súc vật nhiễm ít hoặc ở gian đoạn sán còn non.
2.4.4. Chẩn đoán bằng kháng nguyên: Dùng phản ứng biến thái nội bì
Kháng nguyên chẩn đoán là toàn bộ cơ thể sán lá nghiền nhỏ, sấy khô pha với
nước sinh lý. Độ loãng 1/200 → 1/300, tiêm 0,2 ml vào dưới tai hoặc khấu đuôi.
Sau đó chỗ tiêm sưng lên, chung quanh đỏ, đường kính đo được khoảng 0,2 - 4 cm
thì dương tính, ngược lại là âm tính (Trịnh Văn Thịnh, 1963) [22].
2.4.2. Chẩn đoán bằng mổ khám toàn diện
Phương pháp này được áp dụng với những gia súc chết.
Mục đích phương pháp này là mổ khám để tìm Fasciola spp ở giai đoạn ấu
trùng và trưởng thành trong ống mật, xoang bụng và những nơi khác. Phương pháp
này chính xác hơn cả (có độ chính xác cao) tìm được Fasciola spp cả giai đoạn ấu
trùng lẫn giai đoạn trưởng thành (Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1963) [22], (Phạm
Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [6].
2.5. Một số thuốc sử dụng điều trị bệnh sán lá gan cho trâu bò
2.5.1. Fasciolid
Thành phần: trong 100ml thuốc có 25g Nitroxynil.
18
Liều dùng: 10mg/1kg P/SC hay 0,4ml/10kg P/SC. Dùng một liều duy nhất, ở
những nơi ô nhiễm nặng sau 3 tháng tiêm nhắc lại. Khi tiêm thuốc đặc có thể chổ
tiêm sưng tấy hoặc phù nề. Do đó nên pha loãng thuốc với nước cất để tiêm và
tiêm ngay sau khi pha, để thuốc nơi mát và tránh tuyệt đối ánh sáng mặt trời.
2.5.2. Bio-clomectin
Thành phần: trong 100ml chứa 1000mg Ivermectin và 10000mg Clorsulon.
Liều dùng: thuốc dùng phòng và trị nội ngoại ký sinh trùng.
Phòng: 1ml/50kg P/SC. Bê, nghé, dê, cừu dưới 1 năm tuổi cứ 3 tháng dùng
một liều và trâu, bò, dê, cừu trưởng thành thì 6 tháng dùng một liều.
Người là vật chủ chưa thích hợp nên nhiều trường hợp sán lá gan lớn nằm
trong nhu mô gan gây những ổ hoại tử lớn mà không đi vào đường mật để đẻ
trứng. Có trường hợp sán non còn di chuyển xuống đại tràng hoặc ra thành ngực
hoặc đến tuyến vú hoặc chui ra khớp gối đã gặp ở Việt Nam.
Ở người, bệnh sán lá gan do Fasciola hepatica trước tiên biểu hiện dưới một
dạng nhiễm bệnh - nhiễm độc trong giai đoạn xâm nhập (di hành của vĩ ấu trong
nhu mô gan): suy nhược, các cơn đau thượng vị và vùng hạ sườn phải, sốt nhẹ kiểu
cảm cúm tiến triển với việc tăng bạch cầu của eosin. Tiếp đó là giai đoạn toàn phát
đồng thời với sự có mặt của sán lá trưởng thành trong các ống dẫn mật: viêm túi
mật mạn tính, cơn đau gan, kèm theo những hiện tượng tăng dị ứng đối với kháng
nguyên của ký sinh trùng (nổi mẩn, phù Quinke), những rối loạn đó có thể rất rõ
rệt (Nguyễn Phước Tương - Trịnh Văn Thịnh, 2000) [37].
Theo bác sĩ Đoàn Thị Hạnh Nguyên, Trưởng khoa khám bệnh-Viện SR-KST-
CT TƯ, tính từ ngày 1/1-25/8/2006, Viện đã tiếp nhận 202 trường hợp bệnh nhân
nhiễm sán lá gan.
So với các năm trước, số bệnh nhân nhiễm sán lá gan nhập viện ở Viện SR-
KST-CT TƯ đã tăng mạnh. Năm 2003, Viện chỉ điều trị có 7 bệnh nhân. Sang năm
2004, Viện tiếp nhận 45 bệnh nhân sán lá gan. Năm sau, 2005, 55 bệnh nhân sán lá
nhân đến Viện điều trị. Và, cho đến quý 3 năm 2006, số bệnh nhân nhiễm sán lá
gan đã tăng gấp 4 lần so với cả năm trước [37].
Số liệu khảo sát của Viện SR-KST-CT TƯ vào tháng 8/2004, toàn quốc có
27/64 tỉnh, thành có người bị nhiễm sán lá gan. Tuy nhiên, đến nay, sau hai năm,
theo TS. Đặng Thị Cẩm Thạch, Trưởng Khoa Ký sinh trùng, Viện SR-KST-CT
TƯ, tính đến tháng 8/2006, toàn quốc đã có 45 tỉnh, thành bị nhiễm sán lá gan với
tổng số 1.465 người bị nhiễm (đến bệnh viện) [37].
20
Hình 2.2: Bản đồ phân bố sán lá gan do Viện SR-KST-CT TƯ lập
Các địa phương bị nhiễm theo con số trên bản đồ là 1. Hà Giang, 2. Lào Cai,
3.Yên Bái, 4. Tuyên Quang, 5. Sơn La, 6. Hòa Bình, 7. Bấc Giang, 8. Phú Thọ, 9.
21
cho vào phích đá xếp theo trật tự và bảo quản bằng đá trước và trong quá trình xét
nghiệm.
22
Lưu ý: Phân thu thập được phải là những mẫu phân tươi, không lấy phân có
lẫn đất hay dị vật. Mỗi một trâu có một túi nilong riêng để đựng. Nhãn ghi trong
mỗi bao đều cho biết: tên chủ hộ nuôi trâu địa điểm, tuổi, loài, tính biệt, dạng phân
địa điểm, ghi chú cần thiết về trâu bò được lấy phân. Trong thời gian mẫu chưa
được xét nghiệm, mẫu luôn được bảo quản bằng đá lạnh nhiệt độ 2 - 8
0
C và được
thay đá trường xuyên (nếu bảo quản ngoài phích đá).
3.5.2. Phương pháp xét nghiệm mẫu
Dùng phương pháp lắng cặn của Benedek (1943) [28] để tìm trứng sán lá gan.
Nguyên lý: Dựa vào sự chênh lệch giữa tỉ trọng nước lã (D= 1 g/cm
3
) và tỉ
trọng trứng sán lá (D>1) để phân ly trứng ra khỏi phân.
Cách tiến hành:
Lấy 5 - 10 g phân cho vào cốc thủy tinh. Dùng đũa thủy tinh dầm nát rồi cho
nước lã vào. Lấy đũa thủy tinh khuấy đều, đánh phân, mục đích là làm cho trứng
tách khỏi phân. Dùng rây lọc đặt trên miệng bình tam giác (có thể tích (V = 600
ml), rồi đổ dung dịch phân vừa đánh được trong cốc thủy tinh qua rây lọc. Thêm
nước lã vào bình tam giác cho đủ thể tích (đến vạch 500 ml). Để yên cho lắng cặn
khoảng 15 - 30 phút. Đổ nhanh tay phần nước phía trên đi, ngừng lại đột ngột để
giữ phân lắng cặn phía dưới bình. Cho thêm nước lã vào đến vạch 500 ml, để yên
cho lắng 15 phút, rồi đổ phần nước phía trên.
Quá trình đổ nước đi, thêm nước vào và chờ thời gian lắn cặn được lặp đi lặp
lại 3 - 5 lần (số lần này tùy theo mẫu phân). Khi mẫu lắng cặn đã trong suốt thì đổ
lớp nước trong phía trên, giữ lại phần cặn phía dưới bình rồi cho vào đĩa hộp lồng.
Mỗi mẫu như vậy nhỏ một giọt Xanh methylen 1%. Trộn đều dung dịch lắng cặn
2
x dài thân chéo
Chú thích: 88,4: hệ số đo
Vòng ngực, dài thân chéo: tính bằng mét (m).
(Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2001) [7]
* Theo dõi và kiểm tra sau tẩy:
Sau tẩy 1 ngày:
Theo dõi triệu chứng lâm sàng, phản ứng con vật sau khi tẩy. Công việc này
đòi hỏi khá cẩn thận, vì trong thời gian từ 8 giờ - 24giờ là thời gian sán ra. Vì thế,
thường xuyên theo dõi trạng thái của phân gia súc được tẩy. Đối với những gia súc
được tẩy mà thuốc có hiệu lực cao thì phân thải ra có trạng thái: sánh đặc hơn, keo
nhầy hơn, có màng bao bọc dạng keo nhầy, có lẫn các giác bám trong phân.
Sau 1 ngày, chúng tôi thu thập phân của những trâu được tẩy và cho vào túi
nilong, đựng trong phích đá và đưa vào phòng thí nghiệm thuộc bộ môn ký sinh
trùng - truyền nhiễm để xét nghiệm lại tìm trứng sán lá gan có còn trong phân nữa
không.
Sau tẩy 7 ngày, 15 ngày: tiến hành kiểm tra phân định kỳ sau tẩy vào các thời
điểm khác nhau: 7 ngày, 15 ngày. Thu thập phân của những trâu đã được tẩy theo
24
các thời điểm như trên, bảo quản đá và đưa về Bệnh xá thú y, Khoa Chăn nuôi -
Thú y, Trường Đại học Nông Lâm- Huế, để xét nghiệm lại tìm trứng sán lá gan
trong phân. Thông qua việc làm này, kết quả thu được dùng để đánh giá tỉ lệ sạch
trứng sán của thuốc đối với các trâu được tẩy.
Như vậy: hiệu quả của thuốc tẩy sẽ được đánh giá thông qua 2 chỉ tiêu: Tỉ lệ
ra sán (kiểm tra phân gia súc trong vòng 1 ngày sau khi tẩy) và tỉ lệ sạch trứng sán
(kiểm tra phân gia súc ở các thời điểm 7 ngày, 15 ngày sau khi tẩy sán).
+ Tỉ lệ ra sán (%) =
Số gia súc ra sán
x 100
Tổng số gia súc được tẩy