THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG - Pdf 68

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP
PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG
2.1. Đặc điểm các doanh nghiệp và lao động trong các doanh nghiệp tại
tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1. Số lượng, chất lượng các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Thừa
Thiên Huế
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt Việt
Nam đã là thành viên của WTO các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và
doanh nghiệp ở Thừa Thiên Huế nói riêng ngày càng phát triển số lượng, nâng
cao chất lượng và đa dạng về các ngành nghề.
2.1.1.1. Về số lượng
Thực hiện Luật doanh nghiệp những năm qua số lượng doanh nghiệp đăng
ký và hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ngày một tăng về số lượng.
Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, tổng số lượng doanh
nghiệp vào năm 2006 là 1955 doanh nghiệp. Năm 2007 số doanh nghiệp tăng
lên 2400 doanh nghiệp. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là cổ phần
hóa doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm, các công ty
cổ phần, trách nhiệm hữu hạn ngày càng tăng. Đến cuối năm 2008 số doanh
nghiệp tiếp tục tăng lên 2854 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa
chiếm 96% số doanh nghiệp của tỉnh. Thực hiện cơ chế mở cửa đầu tư, số doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng.
Từ năm 2006 đến năm 2007, số doanh nghiệp giải thể có xu hướng giảm
dần. Tuy nhiên cuối năm 2008 doanh nghiệp giải thể có xu hướng tăng lên.
Nguyên nhân do ảnh hưởng của lạm phát, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, mặc
dầu đã gặp khó khăn do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, song các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
xã hội như; tạo thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động
và góp phần thu ngân sách cho tỉnh.
2.1.1.2. Về chất lượng
1 1

lao động trong các doanh nghiệp vào năm 2005 là 38601 người , trong đó khu
vực trong nước là 35277 người, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3324
2 2
người, chiếm 8.6% tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại Thừa Thiên
Huế. Năm 2006 con số lao động làm việc trong doanh nghiệp có xu hướng tăng
lên 40261 người, tăng 2020 người so với năm 2005, trong đó số lao động trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm, do nhu cầu sắp xếp và chuyển
đối lại doanh nghiệp, chiếm 0,79% tổng số lao động trong doanh nghiệp.
Do số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng,
nhu cầu tuyển dụng lao động các doanh nghiệp tiếp tục tăng lên vào năm 2007 là
48445 người, tăng 7824 lao động so với năm trước. Bên cạnh đó, ở địa bàn tỉnh
số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều và có chất lượng
hơn so với doanh nghiệp trong nước, nên số lao động tăng lên 3658 người làm
trong khu vực này.
Đến cuối năm 2008, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tại Thừa
Thiên Huế là 58.600 người, trong đó tổng số người đã đăng ký hợp đồng lao
động là 52.447 người chiếm 89.5%, còn 5% số lao động thuộc đối tượng phải ký
hợp đồng lao động nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động chưa thực hiện.
Số lao động này tập trung ở một số doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp FDI, ở các
doanh nghiệp tư nhân có số lượng 20 người trở xuống. Với sự cạnh tranh các
doanh nghiệp, các doanh nghiệp FDI có lợi thế so với các doanh nghiệp trong
nước, đến cuối năm 2008 số lao động làm trong các công ty này là gần 15000
người, thu hút ngày càng nhiều lao động trẻ, tay nghề cao, phần lớn được đào
tạo cơ bản và có trình độ chuyên môn. Tuy gặp khó khăn về việc làm và đời
sống nhưng lực lượng lao động trong các doanh nghiệp FDI hằng năm cò nhiều
đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Thừa Thiên Huế.
2.1.2.2. Về chất lượng
Chất lượng trong các doanh nghiệp trên địa bàn Thừa Thiên Huế được nâng
cao về nhiều mặt. Nhìn chung tuổi đời của công nhân – viên chức lao động trong
các doanh nghiệp còn trẻ, chủ yếu là 20 – 35 tuổi, bình quân tuổi nghề là 10 đến

2.1.3. Về tình hình việc làm, tiền lương, đời sống của người lao động.
2.1.3.1. Về việc làm
Trong những năm gần đây, do Nhà nước có nhiều cơ chế, chính sách khuyến
khích và đào tạo cho các thành phần kinh tế phát triển nên có nhiều doanh nghiệp
được thành lập tại Thừa Thiên Huế tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, trên toàn tỉnh có gần 3000 lao
4 4
động được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của
lạm phát và sự suy thoái của nền kinh tế thế giới nên các doanh nghiệp trên đại bàn
tỉnh liên tiếp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và thị trường tiêu thụ...
Đầu năm 2009, toàn tỉnh có hơn 1800 lao động bị thôi việc hoặc nghỉ việc tạm thời.
2.1.3.2. Về tiền lương
Theo báo cáo của Sở thương binh lao động xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế,
tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp tương đối ổn định và tăng
hơn so với các năm trước đây. Ở các doanh nghiệp nhà nước tiền lương ổn định
hơn các loại hình doanh nghiệp khác, bình quân 2400.000 đồng/ tháng/ 1 người,
doanh nghiệp dân doanh bình quân 1.900.000 đồng/ tháng/ 1 người, doanh
nghiệp FDI bình quân 1.600.000 đồng/ tháng/ 1 người.
Điều đáng quan tâm ở đây là sự chênh lệch thu nhập của người lao động
trên cùng một địa bàn, tronng cùng một ngành nghề, giữa người lãnh đạo và
người lao động trực tiếp. Hiện nay, mức thu nhập của người lao động có tăng
hơn so với những năm trứơc. Tuy nhiên, so với các tỉnh khác thì mức thu nhập
của người lao động như vậy vẫn còn thấp so với các tỉnh khác.
2.1.3.3. Về điều kiện làm việc
Nhìn chung các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có trang thiết bị công nghệ
tương đối tốt, nhưng điều kiện làm việc của công nhân còn kém, tình trạng công
nhân phải lao động thủ công nặng nhọc. Hơn thế nữa, công nhân còn phải làm
việc trong điều kiện môi trường độc hại như: nóng, ồn, bụi, độ rung vượt tiêu
chuẩn cho phép; phương tiện bảo hộ lao động kém chất lượng, tai nạn lao động
còn thường xuyên xảy ra. Theo báo cáo của Thanh tra Sở lao động thương binh

độ chuyên môn nghiệp vụ là một nhiệm vụ quan trọng đối với các doanh nghiệp
và người lao động đang hoạt động trên địa bàn tỉnh.
2.2. Thực trạng áp dụng tiền lương trong các doanh nghiệp tại Thừa
Thiên Huế
2.2.1. Những kết quả đạt được
Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn tỉnh nói chung và các doanh
nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh nói riêng. Hằng năm các doanh nghiệp
thu hút, tạo việc làm và nguồn thu nhập chủ yếu cho hàng chục nghìn lao động.
Các doanh nghiệp thực hiện việc trả lương cho người lao động trong những năm
qua đã đạt được những kết quả sau:
2.2.1.1. Tiền lương và tiền thưởng cho người lao động
6 6
Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả
cao. Mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người lao động, đảm bảo đựơc cuộc
sống tối thiểu nhất cho người lao động, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh luôn
luôn quan tâm đến tiền lương của người lao động.
Theo niên giáp thống kê Thừa Thiên Huế và báo cáo tổng kết của Sở lao
động thương binh và xã hội Thừa Thiên Huế, tiền lương của người lao động qua
các năm được tăng theo giá thị trường, bình quân thu nhập của người lao động
đươc thể hiện qua bảng sau.
Đơn vị : 1000 đồng
Loại hình doanh nghiệp
Năm
Thu nhập bình quân(đồng/tháng/người)
2005 2006 2007 2008
Doanh nghiệp nhà nước 1481 2036.4 2285 2400
Doanh nghiệp dân doanh 935 1113.4 1384 1900
Doanh nghiêp FDI 1581 1325,4 2017 1600
Qua số liệu và biểu đồ trên ta thấy, bình quân tiền lương của người lao động
tăng lên qua các năm, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhà nước và doanh

thuận tiền lương với người lao động.
Theo báo cáo của Sở lao động thương binh và xã hội Thừa Thiên Huế đến
cuối năm 2008 đầu năm 2009 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 2854 doanh
nghiệp có đăng ký hoạt động kinh doanh, thuộc diện xây dựng thang bảng lương
áp dụng cho người lao động( không tính hộ gia đình và cá nhân có sử dụng lao
động ). Hiện có 106 doanh nghiệp đã thực hiện việc đăng ký thang lương, bảng
lương với Sở lao động thương binh và xã hội chiếm 3.6% số doanh nghiệp đang
hoạt động, trong đó có 20 doanh nghiệp tự xây dựng thang lương riêng để thực
hiện còn lại đăng ký áp dụng hệ thống thang bảng lương của công ty nhà nước
theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Việc các doanh nghiệp tự
xây dựng thanh lương, bảng lương cho doanh nghiệp mình chủ yếu là các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nứơc ngoài (FDI).
Để thực hiện việc trả lương cho người lao động các doanh nghiệp xây dựng
quy chế trả lương, trả thưởng cho người lao động nhằm khuyến khích người lao
8 8
động nâng cao năng lực, đạt năng suất lao động cao đem lại nguồn thu nhập và
lợi nhuận cao cho người lao động.
Qua thực tế khảo sát việc xây dụng thang bảng lương của các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, các doanh nghiệp áp dụng Nghị định
205/2004/NĐ-CP đều áp dụng đúng với quy định của Nghị định, mức lương bậc
1 đều bằng và cao hơn mức lương tối thiểu. Các doanh nghiệp tự xây dựng
thang bảng lương cho doanh nghiệp mình thì có khác, mức lương bậc 1 cao hơn
mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định.
Thực tế đã chứng minh rằng, khi Nhà nước điều chỉnh pháp luật về tiền
lương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu vùng thì các doanh nghiệp ở Thừa
Thiên Huế cũng điều chỉnh tiền lương cho người lao động để đáp ứng với những
biến động trên thị trường, nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động
dưới tác động của các yếu tố chỉ giá sinh hoạt, điều kiện lao động.
Ví dụ : Công ty TNHH Scanword chi nhánh Huế, Công ty cổ phần cơ khí ô
tô Thừa Thiên Huế đã qua 4 lần điều chỉnh tiền lương thì tiền lương tăng thêm

tác các doanh nghiệp luôn trả lương cho người lao động theo tỷ lệ mà pháp luật
tiền lương quy định hoặc hai bên thỏa thuận.
2.2.1.4. Về công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền pháp luật
Thực hiện chủ trương của Bộ lao động thương binh và xã hội, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở lao động
Thương binh xã hội và Liên đoàn lao động tỉnh..., đã đẩy mạnh công tác thanh tra,
kiểm tra, tuyên truyền pháp luật cho các doanh nghiệp và người lao động trong
quá trình thực thi chế độ, chính sách tiền lương. Công tác thực hiện chế độ, chính
sách tiền lương cho người lao động ngày càng phức tạp, đặc biệt với sự phát triển
kinh tế của thế giới và khu vực, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về chính
sách tiền lương. Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền pháp luật được
tăng cường tần suất với nhiều nội dung, hình thức. Trong quá trình triển khai thực
hiện, Sở lao động thương binh và xã hội (đặc biệt là Thanh tra sở) đã thống nhất
xây dựng chương trình kiểm tra, tuyên truyền pháp luật, chủ động kết hợp với các
ban ngành liên quan để thực hiện pháp luật lao động.
Thanh tra Sở lao động thương binh xã hội, kết hợp với các ban nghành liên
quan, 4 năm qua đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 349 doanh nghiệp, trong đó có
99 doanh nghiệp nhà nước, 120 công ty cổ phần và 130 doanh nghiệp khác.
10 10
Hàng năm Phòng chính sách tiền lương - lao động thuộc Sở lao động thương
binh xã hội Thừa Thiên Huế đã tổ chức các lớp tập huấn về chính sách tiền
lương cho các doanh nghiệp.
Tháng 12 năm 2008, Sở lao động thương binh xã hội đã tổ chức tập huấn 5
lớp để triển khai các Nghị định số 110/2008/ND-CP và Nghị định số
111/2008/NĐ- CP ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định mức
lương tối thiểu vùng cho các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cho 150
doanh nghiệp trên 350 số doanh nghiệp được mời tham gia tập huấn; đồng thời
triển khai những nội dung cơ bản trong quan hệ lao động như: Hợp đồng lao
động, thỏa ước tập thể lao động, kỹ năng lao động và trách nhiệm vật chất, tiền
lương, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thành lập Hội

phản ánh được giá cả sức lao động, chưa thực sự gắn với mối quan hệ cung cầu
lao động trên thị trường, tốc độ tăng tiền lương nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất
lao động, mức lương tối thiểu còn thấp chưa theo kịp với yêu cầu sinh hoạt cần
thiết để tái sản xuất sức lao động.
Với mức tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có vốn đàu tư nước
ngoài pháp luật quy định là 1200.000 đồng/tháng và trong doanh nghiệp còn lại
là 800.000 đồng/tháng áp dụng cho vùng 1 và mức lương tối thiểu là 920.000
đồng/tháng và 650.000 đồng/ tháng áp dụng cho vùng 4. Sự quy định của pháp
luật về tiền lương tối thiểu giữa các vùng vẫn còn chưa hợp lý. Có sự chênh lệch
quá lớn về tiền lương tối thiểu giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI
và các doanh nghiệp trong nước, tiền lương ở vùng 1 của doanh nghiệp trong
nước lạo thấp hơn mức lương ở vùng 4 của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, trong lúc điều kiện sống, giá cả của vùng 1 lại cao hơn rất nhiều so với
vùng 4, hơn thế nữa quy định như vậy làm mất đi sự công bằng giữa các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó cùng một vùng có chung một mức giá cả thị trường, cùng
hoạt động trong một môi trường kinh doanh như nhau nhưng pháp luật quy định
về mức lương khác nhau như vậy là chưa phù hợp, chênh lệch đến 400.000
đồng/tháng tạo nên sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
ngoài nước.
Chế độ tiền lương chủ yếu vẫn dựa trên hệ thống phân phối theo việc, gắn
12 12
tiền lương với hệ số tiền lương tối thiểu là như nhau, nên không tạo động lực
làm việc hiệu quả, tạo ra những tác động cản trở, sự chênh lệch về thu nhập giũa
các doanh nghiệp, các chế độ chính sách như phụ cấp, bảo hiểm xã hội, an toàn
lao động vẫn chưa được coi trọng. Chính sách tiền lương chưa được đảm bảo
cho người lao động, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức. Như vậy mức tiền
lương ở mức trung bình khá trong xã hội, chưa khuyến khích và thu hút người
tài, người làm việc giỏi.
Hầu hết tiền lương trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
nhà nước, cơ chế phân phối tiền lương chưa phân phối theo nguyên tắc thị

cấp với các chế độ phụ cấp khác đã làm giảm tác dụng của chế độ phụ cấp.Ví dụ
như; theo Nghị định 205/2004/ NĐ- CP của Chính phủ ngày 14 tháng 12 năm
2004 quy định về phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm công việc,
phụ cấp khu vực đèu có chung một hệ số phụ cấp là 0.1- 0.2- 0.3 so với mức
lương tối thiểu chung. Quy định như thế này là quá thấp và có sự trùng lặp giữa
các chế độ phụ cấp đã mất đi tác dụng của nó. Chẳng hạn, một lao động làm việc
trong môi trường độc hại, nguy hiểm thì với mức phụ cấp cao nhất so với múc
lương tối thiểu chung như hiện nay là 260.000, trong đó các chế độ phụ cấp khác
lại cao hơn như phụ cấp thu hút...
Trong Nghị định 205/2004/ NĐ- CP của Chính phủ có sự trùng lặp giữa
bảng B.15 công nhân viên ngành du lịch, dịch vụ quy định mức lương của chức
danh phục vụ bàn, nhưng ở thang lương A1-1 du lịch, dịch vụ khác quy định mức
lương của phục vụ bàn. Ở thang lương A1-1 quy định mức lương bậc 1 của phục
vụ bàn là 391500 đồng nhưng ở bảng lương B15 quy định mức lương bậc 1 phục
vụ bàn là 493000 đồng. Từ đó thấy rằng có sự chồng chéo lẫn nhau giữa hai hệ
thống thang lương, bảng lương quy định về nhân viên phục vụ bàn, điều đó đã
dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trả lương cho người lao động.
Về quan hệ tiền lương giữa thang lương và bảng lương của khối trực tiếp sản
xuất, giữa lao động nặng nhọc độc hại, có nơi chưa hợp lí đặc biệt bảng lương
B.10 quy định nhân viên trên tàu là lao động nặng nhọc, nguy hiểm xếp loại IV,
bậc cuối cùng của chức danh này có hệ số mức lương 3.17 lại thấp hơn bậc cuối
cùng của tất cả chức danh nhóm 1(lao động bình thường) của thang lương A1 có
hệ số mức lương là 3.60. Sự quy định của pháp luật như vậy đã dẫn đến không
công bằng trong việc trả lương cho người lao động.
14 14
* Thứ ba; doanh nghiệp tự xây dựng thang lương, bảng lương còn
nhiều bất cập.
Gần như 100% các cuộc đình công xảy ra ở các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ trước đến nay đều có
nguyên nhân từ tranh chấp về tiền lương. Trong khi nhà nước chỉ quy định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status