ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Khoa Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
KINH DOANH TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ
VIỆT NAM
NGUYỄN QUỲNH TRANG
ĐHQT3A3
THÁNG 05 – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Ths. Hoàng Thị
Chuyên.
Các số liệu và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quỳnh Trang
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ths. Hoàng Thị Chuyên, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Những lời chỉ dẫn, những tài
liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Cô đã giúp tôi vượt
qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam và
xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới bà Nguyễn Thị Ngọc Bích – cán bộ của Tổng
công ty đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin cũng như
các số liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tạo điều kiện tốt nhất để tôi
hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này.
Với vai trò đặc biệt quan trọng của mình, các doanh nghiệp tham gia sản
xuất kinh doanh điện đã và đang nhận được rất nhiều ưu đãi và sự quan tâm
của Chính phủ.Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, ngành điện ở Việt Nam
vẫn mang tính độc quyền cao. Tập đoàn điện lực (EVN) là người mua và
người bán điện duy nhất đến người tiêu dùng.
Hơn nữa, cũng giống các ngành nghề kinh doanh khác, các doanh nghiệp
ngành điện hiện nay còn phải đối mặt với môi trường kinh doanh ngày càng
phức tạp, biến động thường xuyên do ảnh hưởng của xu hướng quốc tế hóa
cùng với sự khan hiếm của các nguồn lực ngày càng gia tăng, sự phát triển
như vũ bão của công nghệ khoa học kỹ thuật, sự thay đổi chóng mặt của thị
trường.
Hoạt động trong một môi trường ngành chịu sự điều tiết, can thiệp trực
tiếp của nhà nước và trong một bối cảnh môi trường vĩ mô biến động khó
lường như vậy, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp ngành điện
phải xác định cho mình một hướng đi đúng đắn. Vì vậy, nhiệm vụ cấp thiết
của mỗi nhà cung cấp điện năng hiện nay là xây dựng được một chiến lược
kinh doanh tương thích vừa phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ được
ngoại lực. Và để có được những chiến lược kinh doanh phù hợp, trước hết,
các doanh nghiệp ngành điện cần phải không ngừng hoàn thiện công tác
hoạch định chiến lược kinh doanh của mình một cách sâu rộng và toàn diện.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài
“Hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại Tổng công ty
Điện lực Dầu khí Việt Nam” nhằm giúp nhà cung cấp điện năng đứng thứ 2
tại Việt Nam này chuẩn hóa ngay từ đầu trong công tác quản trị chiến lược, từ
đó hoạch định nên những chiến lược tối ưu, tránh khỏi những thách thức bên
ngoài và khó khăn bên trong, hoàn thành trọng trách để xứng đáng với vị trí
và vai trò của Tổng công ty trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của đất nước.
2. Mục tiêu nghiên cứu
5. Hạn chế của luận văn
Luận văn có điểm hạn chế sau đây. Luận văn chỉ tập trung vào phân tích
thực trạng hoạch định chiến lược tổng thể tại Tông công ty, mà không đề cập
đến công tác xây dựng các chiến lược bộ phận hay các giải pháp thực hiện
chiến lược. Hạn chế này cũng là một hướng nghiên cứu trong tương lai.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của Luận văn gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh trong
doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại
Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hoạch định
chiến lược kinh doanh tại Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN
LƯỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ “chiến lược” có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa là
“khoa học về hoạch định và điều kiện các hoạt động quân sự”; là “nghệ thuật
chỉ huy các phương tiện để chiến thắng đối phương”.
Tuy nhiên, từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, khi mà nền kinh tế các
nước phục hồi nhanh chóng và có những bước phát triển nhảy vọt, mỗi nước
đều nhận thấy rằng sức mạnh của một quốc gia không hoàn toàn dựa vào
quân sự mà song song với nó phải là tiềm lực kinh tế vững mạnh và từ đó,
thuật ngữ "chiến lược" dần trở lên phổ biến trong lĩnh vực kinh tế.
Cho tới nay tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về “chiến lược” nhưng
có thể tựu chung lại trong hai nhóm sau:
- Tiếp cận về phía “cạnh tranh”, một nhóm tác giả có quan điểm coi
chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật để giành thắng lợi trong cạnh tranh.
- Chiến lược xác định rõ những mục tiêu cơ bản phương hướng kinh
doanh cần đạt tới trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh
vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Tính định hướng của chiến lược
nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi
trường kinh doanh thường xuyên biến động.
- Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động
của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong
tương lai. Trong thực hiện hoạt động kinh doanh đòi hỏi phát kết hợp mục
tiêu chiến lược với mục tiêu kinh tế, xem xét tình hợp lý và điều chỉnh cho
phù hợp với môi trường và điều kiện kinh doanh để đảm bảo hiệu quả kinh
doanh và khắc phục sự sai lệnh do tính định hướng gây ra.
- Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai
thác và sử dụng các nguồn lực, năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong hiện
tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để giành ưu thế
trong cạnh tranh.
- Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ
xây dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược.
- Chiến lược kinh doanh luôn mang tư tưởng tiến công giành thắng lợi
trong cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ
sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh
nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng tổ chức
thực hiện, đánh giá và điều chỉnh đều được tập trung vào nhóm quản trị viên
cấp cao để đảm báo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn, sự bí mật
thông tin trong cạnh tranh.
1.1.3. Phân biệt chiến lược kinh doanh với kế hoạch kinh doanh
“Chiến lược kinh doanh” là một khái niệm mới trong quản trị ở các
doanh nghiệp nước ta. Do chưa hiểu cặn kẽ bản chất của chiến lược kinh
- Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích
hướng đi của mình rong tương lai, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của
doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các
cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy
cơ và mối đe dọa trên thương trường kinh doanh.
- Chiến lược kinh doanh góp phần nâng cao hiệu qua sử dụng các nguồn
lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển
liên tục và bền vững.
- Chiến lược kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp
đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường. Nó tạo ra cơ sở
vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển, đào
tạo bồi dưỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm.
1.1.5. Phân loại chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau, việc xem xét phân chia này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc và toàn diện
hơn về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa vào các căn cứ của
chiến lược ta có thể chia chiến lược theo hai căn cứ chủ yếu sau:
1.1.5.1. Căn cứ vào phạm vi chiến lược
Trong kinh doanh, căn cứ vào phạm vi của chiến lược người ta chia
chiến lược ra làm hai loại cơ bản sau:
a, Chiến lược tổng thể:
Chiến lược tổng thể (hay chiến lược cấp doanh nghiệp), là chiến lược
nhằm định hướng nghành hay lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang
hoặc sẽ phải tiến hành. Nó xác định những mục tiêu dài hạn và những phương
hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Có bốn loại chiến lược cấp doanh
nghiệp sau đây:
Chiến lược tăng trưởng:
Chiến lược tăng trưởng tập trung: Là các chiến lược tập trung vào một lĩnh
vực kinh doanh giúp công ty có thể tập trung các nguồn lực vật chất, công
mà còn giúp tăng thêm lợi nhuận từ những ngành nghề khác. Các doanh
nghiệp sử dụng chiến lược này có thể đa dạng hóa theo các hướng:
+ Đa dạng hóa đồng tâm: Là việc đa dạng hóa vào hoạt động kinh doanh
mới mà có liên quan đến hoạt động hay các hoạt động kinh doanh hiện tại
bằng sự tương đồng một hay nhiều bộ phận trong chuỗi giá trị của mỗi hoạt
động. Thông thường, các liên kết này dựa trên sự tương đồng về chế tạo, sản
xuất, marketing, hay công nghệ…
+ Đa dạng hóa không liên quan: Là chiến lược tìm cách tăng trưởng bằng
cách hướng tới các thị trường mới với các sản phẩm mới mà về mặt công
nghệ không liên quan đến các sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất.
+ Đa dạng hóa hỗn hợp: Là việc đầu tư phát triển những sản phẩm hoàn
toàn mới cả về công nghệ sản xuất, lĩnh vực kinh doanh cũng như thị trường.
Bảng 1.1: Các loại chiến lược tăng trưởng phổ biến
C
H
I
Ế
N
L
Ư
Ợ
C
CÁC YẾU
TỐ LỰA
CHỌN
S
ả
n
p
đ
ộ
n
g
à
n
h
C
ô
n
g
n
g
h
ệ
HMHMHMHMHM
1
.
T
ă
n
g
t
r
ư
ở
m
n
h
ậ
p
t
h
ị
tr
ư
ờ
n
g
-
P
h
á
t
tr
i
ể
n
t
h
ị
tr
ư
ờ
n
h
ộ
i
n
h
ậ
p
-
H
ộ
i
n
h
ậ
p
d
ọ
c
n
g
ư
ợ
c
c
h
i
ề
u
-
H
c
h
i
ề
u
-
H
ộ
i
n
h
ậ
p
n
g
a
n
g
3
.
P
h
á
t
t
r
i
ể
n
đ
X
X
h
ó
a
đ
ồ
n
g
t
â
m
-
Đ
a
d
ạ
n
g
h
ó
a
n
g
a
n
g
-
Đ
hoá phục vụ thị trường hẹp, gặp các biến động bất thường trên thị trường…
Chiến lược suy giảm:
- Chiến lược suy giảm liên quan đến giảm bớt quy mô hoạt động của
doanh nghiệp. Tăng trưởng và phát triển là mục tiêu song không phải là ở mọi
thời kỳ doanh nghiệp cũng có đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu này. Chiến
lược suy giảm sẽ phù hợp khi doanh nghiệp cần sắp xếp lại để tăng cường
hiệu quả sau một thời gian tăng trưởng nhanh, khi trong nghành không còn cơ
hội để tăng trưởng dài hạn, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng không ổn định
hoặc xuất hiện các cơ hội khác hấp dẫn hơn.
- Có thể có bốn hình thức chiến lược suy giảm cụ thể sau:
Chiến lược cắt giảm chi phí: Đây là chiến lược ngắn hạn tạm thời hướng vào
việc giảm bớt các bộ phận không mang lại hiệu quả hoặc các vấn đề khó khăn
tạm thời liên quan đến điều kiện môi trường.
Chiến lược thu lại vốn đầu tư: Chiến lược này áp dụng khi doanh nghiệp
nhượng bán hoặc đóng của một trong các doanh nghiệp của mình nhằm thay
đổi căn bản nội dung hoạt động, thu hồi vốn đầu tư.
Chiến lược thu hoạch: Thu hoạch là tìm cách tăng tối đã dòng luân chuyển
tiền vì mục đích trước mắt bất chấu hậu quả lâu dài như thế nào. Chiến lược
thu hoạch đòi hỏi doanh nghiệp phải cắt giảm toàn bộ các khoản đầu tư mới
về thiết bị, quảng cáo, nghiên cứu và phát triển…
Chiến lược rút lui: Chiến lược rút lui dựa vào ý tưởng rằng doanh nghiệp có
thể tối đa hóa mức thu hồi vốn đầu tư vào việc kinh doanh bằng cách bán đứt
doanh nghiệp đó trước khi ngành lâm vào tình trạng suy thoái.
Chiến lược hỗn hợp:
- Một chiến lược được kết hợp từ các chiến lược ổn định, tăng trưởng và
cắt giảm thường thấy ở các doanh nghiệp lớn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực,
đa số các công ty đều theo đuổi kết hợp hai hay nhiều chiến lược cùng một
lúc.
b, Chiến lược bộ phận:
!"
#$%&'() )*+,-
./0
%123
4*+) )%5&6 73&8
.)9:%;*+%123<'=8' ;
.=" >9)
.=" *+&$?'";)?80 @0
4*+) )%5&6 73 8+
A80
B"
C) )(,-
- Theo Denning: “Hoạch định chiến lược là xác định tình thế kinh doanh
trong tương lai có liên quan đặc biệt tới tình trạng sản phẩm-thị trường,khả
năng sinh lợi, quy mô, tốc độ đổi mới, mối quan hệ với lãnh đạo, người lao
động và công việc kinh doanh.”
Tuy các tác giả có cách diễn đạt quan diểm của mình khác nhau nhưng
xét trên mục đích thống nhất của hoạch định chiến lược thì ý nghĩa chỉ là một.
Và nó được hiểu một cách đơn giản như sau: Hoạch định chiến lược là quá
trình sử dụng các phương pháp, công cụ và kĩ thuật thích hợp nhằm xác định
chiến lược của doanh nghiệp và từng bộ phận của doanh nghiệp trong thời kỳ
chiến lược xác định.
nhằm tận dụng cơ hội cũng như khả năng, nguồn lực của mình biến cơ hội
thành kết quả. Đồng thời nhờ có hoạch định chiến lược, nhà quản trị có sự đối
phó kịp thời khi môi truờng kinh doanh tiếp tục biến đổi và triển khai đúng
các chương trình hành động của mình.
1.2.4. Tổ chức hoạch định chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh vạch ra hướng đi lâu dài cho doanh nghiệp nên
việc hoạch định phải được cấp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp tổ chức
thực hiện và chịu trách nhiệm. Trong ba cấp quản trị doanh nghiệp (cấp cap,
trung gian, cơ sở) thì cấp quản trị thượng đỉnh chịu trách nhiệm tổ chức vạch
ra các kế hoạch chiến lược.
Thông thường, có ba phương thức tổ chức hoạch định chiến lược là:
- Phương thức hoạch định từ trên xuống (“trên – dưới”): Người đứng đầu
doanh nghiệp sẽ giao cho các quản trị viên cấp cao tiến hành triển khai các
công việc nhằm soạn ra chiến lược kinh doanh. Cách thức tổ chức này phù
hợp với các doanh nghiệp cấu trúc đơn giản, trong đó giám đốc doanh nghiệp
chỉ việc huy động các nhà quản trị và các cộng sự vào hoạch định.
- Phương thức hoạch định theo đề xuất từ dưới lên (“dưới – trên”): Có
nghĩa là mặc dù doanh nghiệp đã có chiến lược nhưng cấp quản trị cơ sở có
thể phát hiện ra những sai lệch và đề xuất thay đổi. Phương thức này phù hợp
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những doanh nghiệp có một loại hoạt động
duy nhất, nơi mà vấn đề phân bổ nguồn lực giữa các hoạt động không được
đặt ra, trong khi việc tối ưu các nỗ lực và nghiên cứu chiếm ưu thế.
- Phương thức kết hợp “trên – dưới – trên”: Chiến lược kinh doanh là kết
quả của quá trình “đối thoại” giữa lãnh đạo doanh nghiệp và tất cả các thành
viên dưới quyền. Các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cuối cùng trong
việc định hướng chung và ấn định các mục tiêu ưu tiên trong hành động.
Phương thức này có ưu điểm quan trọng là huy động được tất cả các thành
viên của tổ chức, từ đó phát huy được kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của
từng người. Quan trọng hơn, việc tham gia vào quá trình hoạch định chiến