Triệu chứng cơ năng bệnh thận tiết niệu - Pdf 19

Triệu chứng cơ năng bệnh thận tiết niệu

1. Cơn đau quặn thận.
+ Triệu chứng:
Cơn đau quặn thận thường xuất hiện sau một gắng sức với đặc điểm đau vùng hố
thắt lưng, đau lan phía trước vùng hạ sườn phải hoặc hạ sườn trái, lan xuống vùng
bẹn, vùng sinh dục ngoài. Đau dữ dội không có tư thế nào giảm đau. Đau toát mồ
hôi, đôi khi buồn nôn, mót đi ngoài, buồn đi tiểu, bụng chướng, mặt tái nhợt. Cơn
đau có thể kéo dài trong nhiều giờ. Nhiều trường hợp đau dữ dội kéo dài có thể
gây sốc. Đau vùng hạ sườn phải hoặc trái kèm theo đái máu đại thể, khẳng định
chắc chắn cơn đau quặn thận do sỏi.
+ Nguyên nhân của đau quặn thận:
- Sỏi niệu quản là căn nguyên thường gặp nhất. Sỏi gây ứ niệu làm tăng áp lực
trong đài-bể thận, gây tổn thương niệu quản dẫn đến đái máu đại thể. Để chẩn
đoán sỏi niệu quản, người ta cần chụp X quang thận để phát hiện sỏi nằm trên
đường đi của niệu quản. Trên siêu âm thận tiết niệu có hình ảnh đài bể thận giãn là
dấu hiệu gián tiếp của sỏi niệu quản.
- Xuất huyết đài-bể thận: chảy máu vùng đài-bể thận hình thành máu tụ trong
bể thận dẫn đến tắc niệu quản. Những trường hợp xuất huyết đài-bể thận đơn
thuần khi kiểm tra siêu âm và X quang tiết niệu không có sỏi.
- Viêm chít hẹp quanh niệu quản: viêm mãn tính thường gặp do lao thận-tiết
niệu hoặc u sau phúc mạc chèn ép vào niệu quản.
- Một số trường hợp đau quặn thận do sỏi đài-bể thận.
- U niệu quản, u bàng quang gây hẹp lỗ niệu quản đổ vào bàng quang.
+ Chẩn đoán phân biệt cơn đau quặn thận:
- Cơn đau quặn thận phải cần chẩn đoán phân biệt với viêm ruột thừa cấp
tính: đau hố chậu phải, điểm Mac Burney (+), phản ứng vùng hố chậu kèm theo
sốt nhẹ 37-38oC, buồn nôn, nôn, bạch cầu tăng, công thức bạch cầu chuyển trái.
Trong thực tế 2 bệnh này rất hay nhầm lẫn. Một số trường hợp chẩn đoán viêm
ruột thừa, sau phẫu thuật không hết cơn đau, chụp X quang phát hiện sỏi niệu quản
1/3 dưới.

3. Đau vùng bàng quang.
Đau vùng bàng quang thường gặp do sỏi bàng quang, viêm tiền liệt tuyến. Đau
vùng bàng quang thường kèm theo rối loạn tiểu tiện: đái dắt, đái buốt và đái ra
máu cuối bãi. Đau bàng quang có thể xuất hiện trong những trường hợp trào
ngược nước tiểu vào niệu quản do van niệu quản đóng không kín, thường xuất
hiện đau bàng quang lúc tiểu tiện.
4. Rối loạn tiểu tiện.
Đái dắt, đái buốt là tình trạng mót đi tiểu liên tục nhưng không có nước tiểu
hoặc chỉ rất ít nước tiểu, số lần đi tiểu có thể 50 - 60 lần/ngày, gây mất ngủ. Đái
dắt, đái buốt là dấu hiệu điển hình của viêm đường tiết niệu dưới (bàng quang,
niệu đạo). Nguyên nhân của đái buốt thường gặp:
- Viêm bàng quang cấp tính do E. coli hoặc do tạp khuẩn: điều trị khó khăn, xu
hướng tiến triển mãn tính .
- Viêm bàng quang do lao:
Lao thận-tiết niệu thường thứ phát sau lao phổi và thường kết hợp với lao
thận và lao mào tinh hoàn. Lao bàng quang xuất hiện sau lao thận tiềm tàng dễ bỏ
qua, xuất hiện viêm bàng quang khi thận đã mất chức năng và người ta hay dùng
thuật ngữ “thận điếc bàng quang kêu”. Trong viêm bàng quang, ngoài đái dắt bệnh
nhân còn có cảm giác đau tức vùng bàng quang, đái máu toàn bãi vì thường kết
hợp với lao thận.
- Viêm niệu đạo do lậu cầu khuẩn: đái dắt, đái buốt kèm theo mủ ở lỗ sáo
“hình ảnh giọt sương”, ở quần lót dính nhiều mủ khô cứng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status