BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KHOA KINH TẾ VÀ LUẬT
Môn: LUẬT HIẾN PHÁP
Đề tài
SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ
BẦU CỬ VIỆT NAM QUA CÁC HIẾN PHÁP VÀ DỰ
THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 2013
GVHD: ThS. Trần Thị Mai Phước
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 2
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013
A – Khái quát về chế độ bầu cử ở Việt Nam :
I. KHÁI NIỆM:
1. Khái niệm bầu cử :
Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra một
cá nhân nắm giữ các chức vụ của chính quyền. là cơ chế thông thường của các
nền dân chủ hiện dùng để phân bố chức vụ trong bộ máy lập pháp, và ở chính
quyền địa phương.Là cơ sở pháp lý để lập ra các cơ quan đại diện cho quyền
lực của nhà nước.
Có hai hình thức bầu cử cơ bản:
Dân chủ trực tiếp: là nhân dân trực tiếp thực thi bằng cách bỏ phiếu phúc
quyết .
Dân chủ gián tiếp: là nhân dân bỏ phiếu bầu ra những người đại diện thay
mặt cho nhân dân giải quyết các công việc của nhà nước .
2. Khái niệm chế độ bầu cử:
Chế độ bầu cử là một tổng thể các nguyên tắc, các quy định của pháp luật
quy định trình tự, thủ tục bầu ra các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước, điều
chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình bầu cử.
II. CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ:
Điều 17 - Mục C - Chương 2 Hiến Pháp năm 1946: Chế độ bầu cử là phổ
thông đầu phiếu, bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín.
Điều 5 - Chương I - Hiến Pháp năm 1959 : Việc tuyển cử đại biểu Quốc
nhau; các ứng cử viên được giới thiệu ra ứng cử theo tỉ lệ như nhau; kết quả
bầu cử chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri bỏ phiếu cho các ứng cử viên.
Pháp Luật quy định :
Đối với quyền bầu cử: :
- Mỗi cử tri chỉ có một phiếu bầu và chỉ được bầu ở một nơi.
- Gía trị của các lá phiếu là như nhau.
- Cử tri tham gia vào việc bầu cử có quyền và nghĩa vụ như nhau, không
vì địa vị XH mà có quyền không chấp hành các quy định về bầu cử.
- Công dân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật bầu cử có thể
được ghi tên vào danh sách cử tri.
Đối với quyền ứng cử :
- Các ứng cử viên chỉ được lập danh sách ứng cử viên ở một đơn vị bầu
cử, không được tham gia vào Ban bầu cử hoặc tổ bầu cử ở đơn vị mình.
- Mỗi đơn vị bầu cử được bầu ra số lượng đại biểu tỉ lệ thuận với số dân ở
địa phương của mình.
- Các ứng cử viên có khả năng và điều kiện ứng cử là như nhau.
b. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp :
Cử tri tín nhiệm người nào thì bỏ phiếu thắng cho người đó làm đại biểu
Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân .
Để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện Pháp Luật qui định:
• Ngày bầu cử phải là chủ nhật để cử tri có điều kiện trực tiếp tham bỏ
phiếu.
• Phải thông báo thường xuyên địa điểm bỏ phiếu.
• Cử tri phải tự mình đi bầu , không được nhờ người khác bầu thay
hoặc bầu bằng cách gửi thư.
• Không tín nhiệm ứng cử viên nào thì trực tiếp gạch tên ứng cử viên
đó lên phiếu bầu.
• Tổ bầu cử chỉ phát phiếu cho người có tên trong danh sách cử tri ,
người có thẻ cử tri.
Ý nghĩa : Nguyên tắc này đảm bảo cho người được bầu trực tiếp nhận
Quyền bầu cử quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện
quyền lựa chọn người đại biểu của mình ở cơ quan quyền lực nhà nước, gồm:
• Quyền bỏ phiếu.
• Quyền đề cử .
2. Quyền ứng cử :
Quyền ứng cử là quyền ứng cử của công dân thể hiện ở sự chấp thuận
việc người khác đề cử mình hoặc việc công dân tự ra ứng cử làm đại biểu .
Nhận xét :Hiến Pháp năm 1946, có quy định về quyền của công dân trong quyền
bầu cử bên cạnh đó còn đề cập đến các điều kiện được và không được bầu cử.
Từ nền tảng đó, Hiến Pháp năm 1992 kế thừa và hoàn thiện các quyền của công
dân trong việc làm chủ đất nước của mình.
IV. SỐ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN:
Điều 7- Luật bầu cử đại biểu Quốc Hội năm 1992 : Tổng số đại biểu nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không quá 500 người.
• Tổng số đại biểu quốc hội được quy định dựa trên cơ sở:
• Yêu cầu nhiệm vụ của quốc hội .
• Tỷ lệ dân và đại biểu đại diện .
• Khả năng tài chính của nhà nước.
Tổng số đại biểu Quốc Hội cần được quy định đủ đảm bảo cơ cấu thành
phần của Quốc Hội, phản ánh hội đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo hiệu lực của
Quốc Hội.
Tổng số đại biểu quốc hội có 2 cách để ấn định: ấn định số theo tỷ lệ dân,
hoặc ấn định con số cụ thể trong luật bầu cử.
Trong đó:
• Tỷ lệ đại biểu quốc hội người dân tộc thiều số thường chiếm
14% .
• Thủ đô Hà Nội cũng được dành số đại biểu cụ thể.
Hội đồng nhân dân:
• HĐND xã, phường, thị trấn: tối thiểu là 25, tối đa là 35 đại biều.
• HĐND huyện và tương đương : tối thiểu 30, tối đa 40 đại biểu.
Phụ trách bầu cử đại biểu Quốc Hội trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc
TW thành lập ủy ban bầu cử chậm nhất 95 ngày trước ngày bầu cử .Ủy ban bầu
cử có từ 7 đến 9 người, gồm đại diện Mật Trận Tổ Quốc Việt Nam, đại diện
Chính Phủ cùng cấp.
Nhiệm vụ và quyền hạn của UBBC:
• Chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức bầu ở đơn vị bầu cử.năm
• Nhận và kiểm tra biên bản bầu cử.
………
Ủy ban bầu cử là tổ chức bầu cử đặc thủ của cuộc bầu cử dbqh, không
được tổ chúc ở các cuộc bầu cử đại biểu HĐND các địa phương.
Ban Bầu Cử ( BBC ):
Đ. 16 Luật bầu cử ĐB QH 1997, (sđ năm 2001).
Chậm nhất là 60 ngày trước ngày bầu cử, ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc TW phối hợp với thường trực HĐND cùng cấp thành lập ở mỗi
đơn vị bầu cử một ban bầu cử từ 9 đến 15 người, gồm đại diện Mật Trận Tổ
Quốc Việt Nam, đại diện Chính Phủ địa phương
Nhiệm vụ và quyền hạn của ban bầu cử:
• Kiểm tra đôn đốc việc bố trí các bàn phiếu
• Xét và giải quyết khiếu nại về người ứng cử.
………….
Ban bầu cử đại biểu HĐND cũng được tổ chức với thành phần và nhiệm
vụ tương tự ở các đơn vị bầu cử.
Tổ Bầu Cử ( TBC ):
Chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử, UBND xã, phường, thị trấn
thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu 1 tổ bầu cử có từ 5 đến 10 người gồm đại diện
Mật Trận Tổ Quốc Việt Nam, đại diện Chính Phủ địa phương. Các đơn vị lực
lượng vũ trang nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một tồ bầu
cử từ 5 đến 9 người đại diện đơn vị. tổ bầu cử bầu ra 1 tổ trưởng 1 tổ phó, tổ
trưởng thư ký và các thành viên.
Nhiệm vụ và quyền hạn của TBC:
VII. VIỆC BÃI NHIỆM ĐẠI BIỂU:
Điều 20 Hiến Pháp 1946 : “Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình
đã bầu ra, theo Điều thứ 41 và 61.”
Đi ều 5 Hiến Pháp 1959 : “Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không
xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.
Điều 7 Hiến Pháp 1980 : “Cử tri có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và
đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu đại biểu đó không xứng đáng với sự tín nhiệm
của nhân dân”.
Điều 7 Hiến Pháp 1992 : “Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi
nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử trải hoặc Hội đồng nhân dân bãi
nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.
Nội dung :
- Thủ tục cử tri bãi nhiệm đại biểu tương tự như thủ tục bầu cử.
- Thành lập uỷ ban công tác, ban công tác,tổ công tác bãi nhiệm.
- Đại biểu bị bãi nhiệm khi có ít nhất 2/3 đại biểu bỏ phiếu bãi nhiệm.
- Bãi nhiệm đại biểu bằng chính HĐND và quốc hội theo đề nghị của cơ quan
thường trực HĐND của UBTVQH, đại biểu quốc hội, UBMTTQVN.
Nhận xét : Hiến Pháp 1946 quy định công dân có quyền bầu cử đại biểu
thì cung có quyền bãi nhiệm các đại biểu mình đã bầu ra. Từ đó Hiến Pháp
1959, Hiến Pháp 1980, Hiến Pháp 1992 đã kế thừa các đặc điểm của Hiến Pháp
1946 từ đó quy định chặc chẽ hơn, hoàn thiện hơn việc bãi nhiệm đại biểu nếu
không còn xứng đáng của công dân.
B – Sự kế thừa và phát triển của chế độ bầu cử Việt Nam qua các
Hiến Pháp và dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 2013
1. Các nguyên tắc bầu cử :
Điều 17 , Mục C, Chương 2 Hiến Pháp 1946 :Chế độ bầu cử là phổ thông
đầu phiếu, bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín.
Điều 5, Chương I Hiến Pháp 1959 : Việc tuyển cử đại biểu Quốc hội và đại
trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lênđều có quyền ứng
cử, trừ những nhười mất trí và những người bị Tòa án hoặc pháp luật tước
quyền bầ cử và ứng cử.”
Điều 57 – Chương V – Hiến Pháp 1980: “ Công dân không phân biệt dân
tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề
nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai
mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân
tước các quyền đó.”
Điều 54 – Chương V – Hiến Pháp 1992: “Công dân, không phân biệt dân
tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề
nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai
mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân
theo quy định của pháp luật.”
Điều 28 (sửa đổi, bổ sung Điều 54):Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có
quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp.
Kết luận :
- Hiến Pháp 1946: Nhìn chung đưa ra những qui định còn mang tính chất
sơ sài, chưa rõ những người nào có quyền bầu cử,những người có quyền
ứng cử.
- Hiến Pháp 1959: Điều 23 đã qui đinh rõ hơn về độ tuổi những người có
quyền tham gia bầu cử và ứng cử,kế thừa về độ tuổi của Hiến Pháp 1946
nhưng không có phát triển gì.
- Hiến Pháp 1980 : Điều 57 của Hiến Pháp đã kế thừa về độ tuổi được
bầu cử và ứng cử của Hiến Pháp 1959 nhưng không phát triển và có sự
thụt lùi hơn so với 1959. Tuy nhiên có sự thu gọn kĩ thuật lập pháp so với
1959.
- Hiến Pháp 1992: Kế thừa Hiến Pháp 1980 về việc đã qui định rất rõ về
sự bình đẳng, bình quyền những người tham gia các quyền của mình và
- Hiến Pháp 1980 : Nêu rõ hơn và súc tích hơn về quyền của cử tri
và nguyên nhân bãi nhiệm tại Hiến Pháp 1980.
- Hiến Pháp 1992 : Bên cạnh cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu còn
qui định thêm
Nhận xét : Hiến Pháp 1946 quy định công dân có quyền bầu cử đại biểu
thì cung có quyền bãi nhiệm các đại biểu mình đã bầu ra. Từ đó Hiến Pháp
1959, Hiến Pháp 1980, Hiến Pháp 1992 đã kế thừa các đặc điểm của Hiến Pháp
1946 từ đó quy định chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn việc bãi nhiệm đại biểu nếu
không còn xứng đáng của công dân.
C – Tổng kết :
Hiến Pháp 1946 gồm 7 chương , 70 điều. thể hiện tính đoàn kết toàn dân,
không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo, đảm bảo các quyền tự do
dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Hiến Pháp 1959 gồm 10 chương, 112 điều ra đời trong bối cảnh miền Bắc
xây dựng phục hồi kinh tế gây dựng CNXH. Miền Nam tiếp tục đấu tranh chống
đế quốc Mỹ và tay sai.Từ đó Quốc Hội ta đã sửa đổi Hiến Pháp 1946 và cho ra
đời Hiến Pháp 1959 để thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước,
nhằm hoàn thiện hơn các quyền cơ bản của công dân.
Hiến Pháp 1980 gồm 12 chương, 147 điều từ nền tảng Hiến Pháp 1946 và
Hiến Pháp 1959, Hiến Pháp 1980 đã tổng hợp và xác định những thành quả đấu
tranh Cách mạng của nhân dân Việt Nam trong nữa thế kỉ qua, thể hiện ý chí
nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trog việc làm chủ vận mệnh của đất nước,
đảm bảo bước phát triễn rực rỡ của xã hội Việt Nam trong thời gian tới.
Hiến Pháp 1992 gồm 12 chương, 147 điều đã kế thừa và hoàn thiện
những thiếu xót những Hiến Pháp 1946, 1959, 1980. Quy định rõ hơn các quyền
của công dân trong việc tham gia vao quyền lực của Nhà Nước trong bối cảnh
hòa bình xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
The End