TOÀ án VÀ VIỆN KIỂM SÁT QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP - Pdf 20

I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN:
Sau khi đập tan thực dân Pháp và thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, bên cạnh nhiệm vụ đạp tan bộ máy nhà nước thực dân, phong kiến,
Nhà nước ta đã khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước cách mạng “của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” trong đó có tòa án nhân dân.
Từ ngày 13 tháng 9 đến ngày 28 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ
lâm thời đã ban hành các Sắc lệnh ở Bắc bộ: Hà Nội, Hải Phòng, Thái
Nguyên, Ninh Bình, Vinh; miền trung: Huế ,Quảng Ngãi, Nha Trang; Nam
bộ: Sài Gòn, Mĩ Tho thành lập tòa án quân sự. Nhiệm vụ là xét xử( sơ thẩm,
trung thẩm) phạm vào 1 việc có phương hại đến nền độc lập của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 24 tháng 1 năm 1946 Chủ tịch Chính phủ ban
hành Sắc lệnh số 13 quy định về việc tổ chức tòa án ở nước ta như sau:
- Tòa án sơ cấp tổ chức ở quận(phủ, huyện, châu).
- Ở các tỉnh và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn-Chợ Lớn, có
1 toàn đệ nhị cấp.
- Ở mỗi kì có 1 tòa thượng thẩm.
Có 2 ngạch thẩm phán là sơ cấp và đệ nhị cấp.
Tiểu kết: thời kì đầu thì bộ máy tổ chức toàn án được phân chia theo cấp từ
trên xuống dưới và chỉ hình sự, dân sự và thương sự ở sơ thẩm.
Ngày 25 tháng 4 năm 1947 Chủ tịch Chính Phủ ban hành sắc lệnh số 45
thành lập toàn án trung ương.
Ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85
về cải tổ bộ máy tư pháp. Đây là điểm phát triển so với Sắc lệnh số 13 năm
1945 khi cải tổ bộ máy tòa án thành xét xử theo vùng lãnh thổ chứ k phải theo
cấp. Theo đó, tòa án sơ cấp được đổi thành TÒA ÁN NHÂN DÂN huyện, tòa
án đệ nhị cấp gọi là TÒA ÁN NHÂN DÂN tỉnh, hội đồng phúc án nay gọi là
tòa phúc thẩm, phụ thẩm nhân dân đổi thành hội thẩm nhân dân; bộ máy này
khá hoàn thiện và giống với cách tổ chức hệ thống tòa án bây giờ.
Tháng 4 năm 1958 Quốc hội quyết định thành lập TÒA ÁN NHÂN DÂN
tối cao và Viện công tố trung ương, 2 cơ quan này không chịu sự quản lý về
tổ chức của bộ tư pháp mà chỉ trực thuộc chính phủ.

- Theo điều 137 HP 1980:’Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân
đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội
và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành.”. Đây là điều hoàn toàn mới so với HP 1959 nhằm nhấn
mạnh việc thực thi pháp luật trong quần chúng nhân dân cũng như các cơ
quan, đề cao tính nghiêm minh của tòa án và pháp luật nước CHXHCNVN.
Ngày 03 tháng 07 năm 1981 Quốc hội đã thông qua luật tổ chức Tòa án
nhân dân 1981. Theo đó có 1 số quy định mới như sau:
- Việc quản lý Tòa án nhân dân địa phương do bộ Tư pháp đảm nhiệm
theo điều 16 luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981: “Việc quản lý các Toà án
nhân dân địa phương về mặt tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà án nhân dân tối
cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó.”.
- Mở rộng thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giám đốc thẩm và tái thẩm những bản
án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới bị kháng nghi vì có
sự vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ
bản nội dung của bản án hoặc được quyết định mà tòa án không biết được khi
ra bản án hoặc quyết định đó theo điều 21, 23 và 25 luật tổ chức tòa án 1981.
- Tòa án nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan, tổ chức khắc
phục những thiếu sót trong quản lý. Các tổ chức nói trên có trách nhiệm trả
lời cho Tòa án nhân dân về các kiến nghị đó.
Ngày 15 tháng 4 năm 1992, QH khóa 8 kỳ họp thứ 11 đã thông qua HP
1992. Ngoài việc kế thừa những quy định HP 1980, luật tổ chức Tòa án nhân
dân 1981 về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, HP 1992 và luật tổ
chức Tòa án nhân dân 1992 đã có những điểm mới sau:
- Thực hiện chế độ bổ nhiệm thẩm phán thay cho chế độ bầu thẩm phán
trước đó theo điều 3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992: “Chế độ bổ nhiệm
Thẩm phán được thực hiện đối với các Toà án các cấp.” và tất cả những thẩm
phán của Tòa án nhân dân các cấp đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn

127 Hiến pháp năm 1992, xác định rõ Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư
pháp để thể chế hóa quan điểm về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền
lực. Không liệt kê tên các Tòa án cụ thể để phù hợp với tinh thần cải cách tư
pháp về việc thành lập các Tòa án không theo đơn vị hành chính, tạo sự linh
hoạt trong việc tổ chức hệ thống tòa án. Xác định và nhấn mạnh hơn nhiệm vụ
của Tòa án là bảo vệ công lý, làm nổi bât tôn chỉ, mục tích của Tòa án.
Tóm lại, sự hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân luôn gắn liền với
quá trình hình thành và phát triển của bộ máy nhà nước. Bộ máy tổ chức ngày
càng chặt chẽ, phân chia nhiệm vụ rõ ràng giữa các cấp; đóng góp quan trọng
vào việc xây dựng và bảo vệ luật pháp, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
II. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN:
1) Chức năng của Tòa án nhân dân:
Trong tổ chức bộ máy nhà nước chỉ có tòa án nhân dân mới có thẩm
quyền xét xử.
Điều 1 (chương I, khoản 1 Luật tổ chức tòa án nhân dân 1960):
“TAND là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
TAND xét xử những vụ án hình sự và dân sự để trừng trị những kẻ phạm tội
và giả quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân.”
Khoản 1 Điều I (chương 1 Luật tổ chức tòa án nhân dân 1981):
“TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN. TAND xét xử những vụ
án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình và những việc khác do
pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của TAND.”
Điều 1 (Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1992):
“ TAND tối cao, TAND địa phương,TA quân sự và các Ta khác do Luật định
là các cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN. Các TA xét xử những vụ án
hình sự , dân sự, hôn nhân và gia đình lao dộng và những vụ án khác theo
pháp luật quy định.”
Điều 127 (hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung 2001):
“TAND tối cao các TAND địa phương, các TA quân sự và các tòa án khác :
do Luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN”.

xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân
dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự
do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành
với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của
cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừavà chống tội phạm.
Điều 126(HP1992):
Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của
nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản,
tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, các vi phạm pháp luật khác.”
Điều 108 khoản 2(sửa đổi, bổ sung các điều 129, 130, 131, 132 và 133)
Tòa án Nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân.
 Điều 126 của Hiến pháp năm 1992 quy định về những nhiệm vụ chung
của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, các cơ quan này
có chức năng khác nhau, nên có nhiệm vụ riêng mang tính đặc thù của từng
cơ quan; vì thế cho nên nhiệm vụ của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân cần được quy định riêng, cụ thể là đưa những nội dung tại Điều này về
Điều 108 và Điều 113 của dự thảo Hiến pháp.
Trong giai đoạn hiên nay,để tạo điều kiện cho tòa án nhân dân thực hiện
hiệu quả chức năng xét xử, Nhà nước cần hoàn thiện các văn bản Pháp luật có
liên quan đến tổ chức và hoạt động của TAND, trong đó chú ý đến việc quy
định để nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân tăng
cường xây dựng cơ sở vật chất cho ngành tòa án,xây dựng ngành tòa án nhân
dân vững mạnh về mọi mặt.
III. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN:

Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán; việc
bầu và nhiệm kỳ của Hội thẩm Tòa án nhân dân do luật định.
=> Theo Hiến pháp 1946,thẩm phán tòa án đều do Chính phủ bổ nhiệm.Đến
Hiến pháp 1959, 1980 Và các luật tổ chức tòa án nhân dân tối cao do Uỷ ban
thường vụ Quốc hội bổ nhiệm (HP1959), Hội đồng nhà nước cử(HP1980).
Thẩm phán tòa án nhân dân địa phươn đều do cơ quan quyền lực nhà nước
bầu bãi nhiêm. Hiến pháp 1992 ra đời đã thay thế chế độ bầu thẩm phán các
tòa án địa phương bằng chế độ bổ nhiệm thẩm phán đã tạo điều kiện tốt hơn
cho tòa án xét xử độc lập khách quan và đề cao phẩm chất ngề nghiệp của
thẩm phán.
Khoản 2 Điều 129 (HP1980):
Nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và thẩm phán Toà án nhân dân các
cấp theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu ra mình.
Khoản 4,5 Điều 40 (Luật tổ chức tòa án nhân dân 2002):
4. Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân là năm năm.
5. Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân Tòa án nhân dân địa phương theo
nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
=> Nhiệm kì của chánh án, Phó chánh án và Thẩm phán TAND tối cao, chnhs
án, phó chánh án và thẩm phán TAND địa phương,tòa án quân sự là 5
năm.Nhiệm kì của hội thẩm nhân dân, hội thẩm nhân dân địa phương la 5
năm.
2)Nguyên tắc khi xét xử hội thẩm nhân dân (hội thẩm quân nhân)
tham gia,hội thẩm ngang quyền với thẩm phán:
Điều thứ 65 (HP1946):
Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý
kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại
hình.
Điều 44 (Luật tổ chức TAND 1981):
Các hội thẩm nhân dân có nhiệm vụ tham gia công tác xét xử của toà án
nhân dân.

điều về nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân trên cơ sở giữ nguyên một
số nguyên tắc đã quy định, sửa đổi một số nguyên tắc cho chính xác, bổ sung
một số nguyên tắc mới.
Không quy định “Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” trong
Hiến pháp mà sẽ quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố
tụng tư pháp là điều kiện để hội thẩm nhân dân phát huy vai tró người đại
diện cho nhân dân và tham gia vào hoạt động xét xử của toà án.Một yêu cầu
cấp thiết hiện nay là phải nâng cao trình đọ ngiệp vụ cho hội thẩm nhân dân.
3)Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán,hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ
tuân theo pháp luật:
Điều thứ 69 (HP1946):
Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan
khác không được can thiệp.
Điều 4 (Luât tổ chức TAND 1960) và Điều 6(Luật tổ chức TAND
1981):
Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Điều 5 (Luật tổ chức TAND 1992, 2000):
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Điều 130(HP 1992)
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Khoản 2 Điều 109 (dự thảo sửa đổi HP2013 bổ sung điều 130 HP1992)
2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm
cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội
thẩm.
=> Qua các hiến pháp và luật tổ chức TAND đều có sự kế thừa nguyên tắc
xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập , chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ pháp chế xã hội chủ nghĩa,nó bảo đảm cho
TAND xét xử khách quan,đúng pháp luật đẻ bảo vệ trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa. Đến dự thảo sửa đổi bổ sung 2013 đã bổ sung nguyên tắc “nghiêm
cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội

đặc biệt do luật định.
Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm.
Khoản 1 Điều 131:
Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.
Điều 6 (Luật tổ chức TAND 1960) và Điều 8 (Luật tổ chức TAND
1981):
Việc xét xử tại các Toà án nhân dân đều công khai, trừ trường hợp đặc
biệt mà Toà án nhân dân xét thấy cần xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước hoặc
giữ gìn đạo đức xã hội.
Điều 7 (Luật tổ chức TAND 1992)
Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật
Nhà nước hoặc thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Điều 7( Luật tổ chức TAND 2002)
Tòa án xét xử công khai, trừ trườnghợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật
nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộchoặc để giữ bí mật của các đương
sự theo yêu cầu chính đáng của họ.
Khoản 3 Điều 108 (dự thảo sử đổi bỏ sung 2013)
Tòa án Nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.
=> Nguyên tắc này đã được quy định từ hiến pháp 1946,và tiếp tục được kế
thừa phát triển tới dự thảo 2013.Mục đích của nguyên tắc này nhằm thu hút
đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kiểm tra giám sát hoạt động xét xử
của TAND đồng thời nâng cao công tác giáo giục ý thức trong nhân dân,thu
hút đông đảo nhân dân tham gia vào phòng chống tội phạm và các vi phạm
pháp luật khác.Ngoài xét xử công khai luật tổ chức TAND cũng quy địnhcó
thể xét xử kín để giữ bí mật của đát nước,thuần phong mĩ tục hoặc giữ bí mật
của đương sự theo yêu cầu của họ.Nhưng dù xét xử công khai hay giữ kín tòa
án đều phải đọc công khai cho mọi người biết.
6) Mọi công đân đều bình đẳng trước Pháp Luật:
Nguyên tắc "Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" là một nguyên
tắc cơ bản của nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, được quy định tại Điều 52 Hiến

bào chữa cho bị cáo. Việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo góp
phần làm cho việc xét xử của Toà được khách quan toàn diện và chính xác.
Quyền bào chữa là quyền cơ bản của công dân được pháp luật quán triệt
trong các giai đoạn tố tụng. Trong bộ luật tố tụng hình sự, quyền bào chữa của
bị can, bị cáo được mở rộng rất nhiều so với trước đây. Khi tự bào chữa cho
mình, bị can, bị cáo vận dụng tất cả các quyền mà luật pháp cho phép để
chứng minh không có tội hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình. Nêú bị can, bị cáo
không tự bào chữa, thì có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc
người đại diện cho mình bào chữa.
Pháp luật quy định trong những trường hợp: Bị can, bị cáo là người chưa
thành niên; người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc bị can, bị
cáo phạm vào những tội nặng có khung hình phạt đến tử hình, thì Toà án hoặc
cơ quan chức năng phải chỉ định luật sư bào chữa.
Nguyên tắc này đc quy định từ HP1946 đến HP1992 (sửa đổi bổ sung
2001) & các Luật tổ chức tòa án nhân dân các năm 1960,1981,1992, 2002:
1946: Điều 67
Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.
1959: Điều 101
Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm.
1980: Điều 133
Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm.
Tổ chức luật sự được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về
mặt pháp lý.
1992: Điều 132
Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình.
Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Luật tổ chức TAND 2002:Điều 9

trước tòa án.
1980:Điều 134
Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc
mình trước Toà án.
1992: Điều 133
Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc
mình trước Toà án.
Luật tổ chức TAND 2002: Điều 10
Tòa án bảo đảm cho những ngườitham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói,
chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án.
9) Nguyên tắc tòa án nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan quyền
lực nhà nước :
Tòa Án nhân dân là cơ quan thực hiện việc xét xử của Nhà Nước nên
chịu sự giám sát của Nhà Nước mà cụ thể là Quốc Hội, Hội đồng nhân dân
các cấp. Quy định cụ thể ở các ở các Hiến Pháp 1946,1959,1980,1992 (sửa
đổi,bổ sung 2001), Luật tổ chức tòa án 2002:
1946: Điều 135
Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
Chánh án Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trước Hội đồng nhân dân.
1959:Điều 104
Tòa án Nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Các Tòa án Nhân dân địa
phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhân dân địa
phương.

án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực phápluật.
2- Đối với bản án, quyết địnhcủa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà
phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc cótình tiết mới thì được xem xét lại theo
trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm dopháp luật tố tụng quy định.
Luật tổ chức tòa án nhân dân đã đảm bảo việc thực hiện quyền tố tụng
của bị cáo và các đương sự đc xét xử qua 2 cấp sơ thẩm & phúc thẩm.Cho
thấy sự đổi mới tiến bộ nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người tham gia tố
tụng,tránh những sai sót gây thiệt hại.Khi thực hiện chế độ 2 cấp xét xử sẽ
đưa thủ tục giám đọc thẩm,tái thẩm về đúng bản chất là giai đoạn xét lại bản
án,qđ của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Nhận xét :
Những nguyên tắc này liên tục được sửa đổi,bổ sung ở các HP1959,
HP1980 dựa trên HP1996 để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn và chính
xác hơn trong công việc xét xử, làm việc của TAND.
Ở bản Hiến Pháp 1946 Tòa Án Nhân Dân tương đối đơn giản và nhưng
cơ bản cũng cho thấy việc định hình,tổ chức TAND ở Việt Nam là vô cùng
quan trọng và đề cao quyền lợi của công dân trong quá trình xét xử.
Năm 1960 Luật Tòa Án Nhân Dân ra đời quy định cụ thể,nâng cao tính
hiệu quả của Tòa Án Nhân Dân,góp phần bổ sung quan trọng cho Hiến Pháp.
Đến Hiến Pháp năm 1980 & Hiến Pháp 1992 đã cho thấy sự hoàn thiện
trong việc quy định,phân chia nhiệm vụ,chức năng,cơ cấu,thủ tục xét xử cũng
như đảm bảo quyền lợi của người dân.
Tuy nhiên trên thực tế cho thấy Tòa án là nhánh yếu nhất trong ba cơ
quan quyền lực nhà nước. Mặc dù "Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà
nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng.
Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ chị, nghị quyết của Đảng mới
là tối thượng". Điều này trái với nguyên tắc Tam quyền phân lập, tức hành
pháp, tư pháp và lập pháp là bình đẳng và giám sát lẫn nhau.
IV. Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của toà án nhân dân tối cao:
1) Toà án nhân dân tối cao:

- Toà hình sự TANDTC có nhiệm vụ và quyền hạn giám đốc thẩm, tái
thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của toà án cấp dưới
trực tiếp bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
- Toà dân sự TANDTC có nhiệm vụ và quyền hạn giám đốc thẩm, tái
thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của toà án cấp dưới
trực tiếp bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Toà kinh tế TANDTC có nhiệm vụ và quyền hạn giám đốc thẩm, tái
thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của toà án cấp dưới
trực tiếp bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng kinh tế.
- Toà lao động TANDTC có nhiệm vụ và quyền hạn giám đốc thẩm, tái
thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của toà án cấp dưới
trực tiếp bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng lao động.
- Toà hành chính TANDTC có nhiệm vụ và quyền hạn giám đốc thẩm,
tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của toà án cấp
dưới trực tiếp bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính
- Các toà phúc thẩm TANDTC có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Phúc
thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp
luật tố tụng; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của toà án nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về tuyên bố phá sản theo quy định của
pháp luật; giải quyết các khiếu nại đối với các quyết định của toà án nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc giải quyết các cuộc đình công
theo quy định của pháp luật.
- Toà án quân sự trung ương gồm có chánh án, các phó chánh án, thẩm
phán, thư kí toà án.
- Bộ máy giúp việc và các cơ quan trực thuộc gồm có: Vụ tổ chức cán
bộ, Văn phòng, Viện nghiên cứu khoa học xét xử, Tạp chí toà án, Tập san
người bảo vệ công lí, Trường bồi dưỡng cán bộ toà án.
2) Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
a) Nhiệm vụ và thẩm quyền của toà án nhân dân tỉnh, thành phố

những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của
toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Bộ máy giúp việc.
3) Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:
a) Nhiệm vụ và thẩm quyền:
- Sơ thẩm những vụ án hình sự mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ
15 năm tù trở xuống, trừ những tội sau: các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm
an ninh quốc gia; các tội quy định tại các điều 89, 90, 91, 92, 93, 101 (khoản
3), 102, 179, 231, 232 Bộ luật hình sự; sơ thẩm những vụ án dân sự, vụ án
hôn nhân và gia đình, vụ án kinh tế, vụ án lao động, vụ án hành chính theo
quy định của pháp luật, trừ một số việc tranh chấp phức tạp hoặc có yếu tố
nước ngoài, các tranh chấp về sở hữu công nghiệp, các khiếu nại về việc thôi
việc.
b) Cơ cấu tổ chức:
- Gồm có chánh án, một hoặc hai phó chánh án, thẩm phán, hội thẩm
nhân dân, thư kí toà án.
- Chánh án toàn án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có
nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức công tác xét xử và công tác khác theo quy
định của pháp luật; báo cáo công tác của toà án nhân dân cấp mình trước hội
đồng nhân dân cùng cấp và với toà án nhân dân cấp trên trực tiếp.
4) Các toà án quân sự:
a) Nhiệm vụ và thẩm quyền:
- Các toà án quân sự có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh
quốc phòng, kỉ luật quân đội; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ
tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công
nhân, nhân viên quốc phòng và của công dân khác.
- Toà án quân sự trung ương có thẩm quyền: phúc thẩm những vụ án mà
bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của các toà án quân sự cấp dưới
trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà

đức, phải là người biết bảo vệ PL, bảo vệ công lý và bảo vệ quyền và lợi ích
của công dân. Ngoài những kiến thức chuyên môn cần thiết để giải quyết
những vần đề thuộc thẩm quyền của TAND một cách thấu tình đạt lý, đúng
luật thì TP còn phải am hiểu các lĩnh vực khoa học XH khác như: tâm lý học,
XHH,…
b) Tiêu chuẩn của các TP TAND các cấp:
Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm nhân dân năm 2002 quy định tiêu
chuẩn cụ thể của -Thẩm phán TAND các cấp như sau:
- Thẩm phán TAND cấp huyện.
Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 5 pháp lệnh thẩm phán nhân dân năm
2002, có thời gian làm công tác pháp luật từ 4 năm trở lên, có năng lực xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của TAND cấp
huyện, TAQS khu vực thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm thẩm phán
TAND cấp huyện; trường hợp nếu là sĩ quan đang tại ngũ thì có thể được
tuyển chọn và bổ nhiệm làm TP TAQS khu vực.
- Thẩm phán TAND cấp tỉnh.
Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 5 pháp lệnh thẩm phán nhân dân năm
2002 và đã là TP TAND cấp huyện, TP TAQS khu vực ít nhất là 5 năm, có
năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của
TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu thì có thể được chọn và bổ nhiệm làm
TP TAND cấp tỉnh; trường hợp nếu là sĩ quan đang tại ngũ thì có thể được
tuyển chọn và bổ nhiệm làm TP TAQS cấp quân khu.
Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành TAND, người có đủ tiêu
chuẩn tại Điều 5 pháp lệnh thẩm phán nhân dân năm 2002, có thời gian làm
công tác pháp luật từ 10 năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải
quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, TAQS cấp
quân khu thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm thẩm phán TAND cấp
tỉnh; trường hợp nếu là sĩ quan đang tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ
nhiệm làm TP TAQS cấp quân khu.
- Thẩm phán TAND tối cao.

Danh từ Hội thẩm nhân dân này rất có ý nghĩa: các người dân cử từ nay
không phải là đóng vai phụ thuộc như trước mà ngang hàng với các vị chuyên
môn của Tòa án và cùng xét xử các việc. Hơn thế nữa là số Hội thẩm nhân
dân lại tăng lên đa số: Tòa án nhân dân huyện gồm một thẩm phán chuyên
môn và hai hội thẩm, trước đây không có; Tòa án tỉnh trước đây khi xử những
việc đại hình thì có ba thẩm phán chuyên môn và hai phụ thẩm nhân dân, hội
đồng phúc án xử việc tiểu hình và đại hình gồm có ba thẩm phán chuyên môn
và hai phụ thẩm nhân dân, thì nay ở cấp Tỉnh, Tòa án gồm có một thẩm phán
chuyên môn và hai Hội thẩm nhân dân, ở cấp liên khu có hai thẩm phán nhân
dân và ba Hội thẩm nhân dân. (Điều 3 sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950 ). Số lượng
Hội thẩm nhân dân tăng lên và nhiều hơn số lượng thẩm phán cho thấy được
tính nhân đạo, thể hiện rõ tính nhân dân của pháp luật nước ta.
Trước khi, vì không có điều kiện và không đủ quyền hạn nên cái vai trò
các vị dân cử ( Phụ thẩm nhân dân) ở các Tòa án đã bị lu mờ, việc chọn lựa
người cũng chỉ làm cho lấy có và người được chọn đi dự Tòa án cũng tự thấy
được rằng mình chỉ có cái địa vị tượng trưng mà thôi, cho nên một ít quyền ấy
của mình có người cũng bỏ đi nốt. Hiện nay tư pháp đã đổi mới, địa vị pháp
lý và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân đã được nâng cao, theo đó từ nay
nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân cũng ngày càng nặng nề hơn.
Hiện nay, “Hội thẩm Tòa án nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam gồm có:
- Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Hội thẩm nhân dân Tòa
án nhân dân cấp huyện (gọi chung là Hội thẩm nhân dân);
- Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Hội
thẩm quân nhân Tòa án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quân nhân).”
( theo Điều 2 Thông tư số 14/2011/UBTVQH12 ngày 19/02/2011 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội ) chứ không bao gồm cả Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân
dân tối cao và Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự Trung ương như năm 1992
nữa.
b) Tiêu chuẩn của hội thẩm:

thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì có thể được bầu hoặc cử
làm Hội thẩm.”
Và gần đây nhất là trong Luật tổ chức Tòa án 2002 tại Khoảng 2 Điều
37 có quy định:”Công dân Việt Nam trungthành với Tổ quốc và Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩmchất, đạo đức tốt, liêm
khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thầnkiên quyết bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa, có sức khỏe bảo đảm hoàn thànhnhiệm vụ được giao,
thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.”
Từ năm 1959 đến nay, những quy định về tiêu chuẩn của Hội thẩm
ngày càng cao hơn, cụ thể hơn, rõ ràng và chặt chẽ hơn. Điều này giúp cho
chế định Hội thẩm có thể đảm đương tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao cho,
khẳng định vai trò của mình trong bộ máy Tư pháp của đất nước, nhất là trong
quá trình cải cách Tư pháp ở nước ta hiện nay, mà yêu cầu trọng tâm của tiến
trình cải cách Tư pháp chính là làm cho vai trò của Tòa án ngày càng độc lập
hơn đối với các cơ quan quyền lực khác.
3) Thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm:
Về thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm và bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân, tại Điều
39 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 quy định:
- Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối cao do Uỷ ban thường vụ Quốc
hội cử theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và do Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm.
- Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự Trung ương do Uỷ ban thường vụ
Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt
Nam và do Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm.
- Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và do
Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm.
- Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu và tương đương do Chủ
nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu
của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status