Phân tích hoạt động xây dựng và giám sát danh mục thuốc tại trung tâm y tế thành phố điện biên phủ năm 2013 - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

ĐÀO MINH HUẾ PH¢N TÝCH HO¹T §éNG X¢Y DùNG Vµ GI¸M S¸T
DANH MôC THUèC T¹I TRUNG T¢M Y TÕ THµNH PHè
§IÖN BI£N PHñ - TØNH §IÖN BI£N N¡M 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI - 2014

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
 ĐÀO MINH HUẾ

PH¢N TÝCH HO¹T §éNG X¢Y DùNG Vµ GI¸M S¸T
DANH MôC THUèC T¹I TRUNG T¢M Y TÕ THµNH PHè

Ds: Đào Minh Huế
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADR : Adverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc)
ASHP : American Society of Health System Pharmacists
DMT : Danh mục thuốc
HĐT&ĐT : Hội đồng Thuốc và Điều trị
KHKT : Khoa học kỹ thuật
TTY : Thuốc thiết yếu
TTYT : Trung tâm y tế
VEN : Vital, Essential, Non – essential
WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế Thế giới)
BV : Bệnh viện
SL : Số lượng
MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1. Hoạt động xây dựng và giám sát danh mục thuốc trong Bệnh viện 3
1.1.1. Mô hình bệnh tật của bệnh viện 4
1.1.2. Hướng dẫn điều trị chuẩn 5
1.1.3. Hội Đồng Thuốc và Điều Trị 6
1.1.4. Danh mục thuốc 8
1.2. Phân tích hoạt động xây dựng danh mục thuốc. 10
1.2.1. Danh mục thuốc bệnh viện 10
1.2.2. Nguyên tắc xây dựng danh mục 12
1.2.3. Tiêu chí lựa chọn thuốc 13
1.2.4. Các bước xây dựng danh mục thuốc 14
1.3. Vài nét về hoạt động xây dựng và giám sát danh mục thuốc tại các
Bệnh viện ở nước ta trong những năm gần đây 14

3.2.6. Tỷ lệ thuốc uống và thuốc tiêm 46
3.2.7. Cơ cấu DMT theo quy chế chuyên môn 47
3.2.8. Đánh giá tính hợp lý của Danh mục thuốc TTYTTP Điện Biên
năm 2013. 48
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 50
4.1. Hoạt động xây dựng và giám sát DMT của TTYT 50
4.2. Phân tích cơ cấu DMT sử dụng của TTYT 2013 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Cơ cấu nguồn nhân lực TTYT Điện Biên 20

Bảng 1.2. Bảng số liệu khám chữa bệnh Trung tâm y tế năm 2013 21

Bảng 3.1. Danh mục 5 nhóm thuốc sử dùng nhiều hoạt chất nhất trong
năm 2012 33

Bảng 3.2. Danh mục thuốc năm 2013 35

Bảng 3.3. Cơ cấu nhóm thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm thuốc 2013 36

Bảng 3.4. Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần trong DMT 39

Bảng 3.5. Danh mục 10 thuốc có giá trị sử dụng cao nhất năm 2013 40

Bảng 3.6. Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại TTYT theo nguồn gốc, xuất xứ 42

Bảng 3.7. Cơ cấu thuốc ngoại nhập trong DMT TTYT năm 2013 43


Biểu đồ 3.8. Cơ cấu DMT của TTYTTP năm 2013 theo quy chế chuyên môn 47

Biểu đồ 3.9. Số thuốc không sử dụng và sử dụng ngoài DMT năm 2013 48DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm y tế Thành phố Điện Biên Phủ. 19

Hình 2.1. Sơ đồ tóm tắt nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài. 24

Hình 3.1. Sơ đồ Qui trình xây dựng danh mục thuốc Trung tâm y tế Thành
Phố Điện Biên Phủ 261
ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý nói chung và trong bệnh
viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Đây cũng là
một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm
chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh.
Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa theo cơ chế thị trường và
đa dạng hoá các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong
phú cả về số lượng và chủng loại. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc
nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy
nhiên, nó cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa, sử
dụng thuốc chữa bệnh không chỉ với các bệnh viện mà ngay cả trong cộng
đồng. Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các
quốc gia thành lập.Hội đồng thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) tại các bệnh viện.

Các tiêu chí lựa chọn thuốc, liên quan đến hoạt động xây dựng DMT
được khái quát theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố để xây dựng danh mục thuốc [12]
4
1.1.1. Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Bệnh viện là nơi khám chữa bệnh cho người mắc bệnh trong cộng
đồng. Mỗi bệnh viện có tổ chức nhiệm vụ khác nhau, đặt trên địa bàn khác
nhau với đặc điểm dân cư, địa lý khác nhau đặc biệt là sự phân công chức
năng, nhiệm vụ khác nhau. Ở Việt nam cũng như trên thế giới có hai loại

các hướng dẫn điều trị các bệnh thường gặp. Ở nhiều nước trên thê giới, khi
bắt đầu xây dựng DMT thì đã có sẵn những hướng dẫn điều trị hoặc những tài
liệu tương tự để tham khảo và sử dụng. Sơ đồ sau chỉ ra mối tương quan giữa
HDĐTC, DMT và những tác động của chúng đối với việc sử dụng và dự trữ
thuốc [12].

6

Sơ đồ 1.4. Chu trình tác động của HDĐTC và DMT lên kết quả
chăm sóc và phòng bệnh
1.1.3. Hội Đồng Thuốc và Điều Trị (HĐT&ĐT)
Do sự gia tăng về chi phí điều trị và ngân sách dành cho thuốc hạn
chế khiến cho hệ thống y tế không đủ khả năng cung cấp thuốc cho điều trị,
vì vậy ở mỗi bệnh viện cần phải có một diễn đàn giữa bác sĩ, dược sĩ, điều
dưỡng để trao đổi những vấn đề quan trọng trong bệnh viện. Diễn đàn sẽ là
nơi mà các bất đồng trong điều trị và vấn đề kinh tế được mang ra thảo luận
và giải quyết. Vì vậy mà cần thiết phải có một HĐT&ĐT trong bệnh viện và
các cơ sở y tế để đảm bảo và tăng cường sử dụng thuốc hợp lý.
1.1.3.1. Mục đích và mục tiêu của Hội Đồng Thuốc và Điều Trị.
Mục đích của HĐT&ĐT: đảm bảo người bệnh được hưởng chế độ
chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc lựa chọn thuốc cần
được cung ứng, giá cả, sử dụng.
Để đạt được mục đích trên HĐT&ĐT cần phải đạt những mục tiêu sau:

Xây dựng và thực hiện một hệ thống danh mục thuốc có hiệu quả
về mặt điều trị và giá thành bao gồm: một danh mục thuốc và cấm nang
hướng dẫn danh mục thuốc.

7


8
Quản lý, giám sát hoạt động thông tin thuốc của trình dược viên, công
ty dược và các tài liệu quảng cáo thuốc.
1.1.4. Danh mục thuốc
1.1.4.1. Danh mục thuốc thiết yếu (TTY)
Danh mục TTY Việt Nam lần thứ VI được ban hành kèm theo quyết
định số 45/2013/TT-BYT ngày 26/12/2013 của Bộ Y tế bao gồm 29 nhóm
và 466 tên hoạt chất tân dược, kèm theo bản hướng dẫn sử dụng danh mục
TTY Việt Nam lần thứ VI [10].
Danh mục TTY là cơ sở để xây dựng DMT chủ yếu tại các cơ sở
khám, chữa bệnh dựa vào thông tin sau:

Mô hình bệnh tật của TTYT TP ĐBP

Hướng dẫn điều trị chuẩn

Ngân sách TTYT

Danh mục thuốc năm 2012

Danh mục tiêu thụ các thuốc trong năm vừa qua (2012)

Danh mục các thuốc nằm ngoài danh mục nhưng được sử dụng
trong năm vừa qua

Báo cáo ADR
1.1.4.2. Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh .
Danh mục thuốc có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc
trong bệnh viện. Vì thế nên bệnh viện có một danh mục các thuốc đảm bảo
chất lượng, an toàn, hợp lý, hiệu quả, và kinh tế. Danh mục thuốc chủ yếu

o Sử dụng theo quy định phân hạng bệnh viện, thuốc chuyên khoa
được sử dụng theo phân cấp quản lý và thực hành kỹ thuật y tế;
o Các thuốc có ký hiệu (*) là thuốc dự trữ, hạn chế sử dụng, chỉ sử
dụng khi các thuốc khác trong nhóm điều trị không có hiệu quả và phải
được hội chẩn (trừ trường hợp cấp cứu);

10
o Thuốc được xếp nhóm này dùng điều trị bệnh thuộc nhóm khác
được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nếu có chỉ định như đã đăng ký trong hồ
sơ đăng ký thuốc đã được cấp;
o Các thuốc xếp trong nhóm điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch:
- Đối với các thuốc chỉ có chỉ định điều trị ung thư, kể cả các thuốc
ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế: chỉ được sử dụng tại các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh có chức năng điều trị ung thư và phải do bác sỹ được đào
tạo, tập huấn về chuyên ngành ung bướu chỉ định;

- Đối với các thuốc có chỉ định điều trị các bệnh khác không phải ung
thư được sử dụng tại các bệnh viện hay các khoa lâm sàng khác ngoài khoa
Ung bướu theo phác đồ điều trị của bệnh viện nhưng phải có hội chẩn với
bác sỹ chuyên khoa ung bướu để bảo đảm an toàn và hiệu quả điều trị.
o Các thuốc điều trị đặc hiệu bệnh phong, tâm thần, động kinh có
trong Danh mục thuốc ban hành theo Thông tư này nhưng được các chương
trình, dự án cấp thì sử dụng theo hướng dẫn của các chương trình, dự án.
* Thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu thuộc Danh mục phải kiểm
soát đặc biệt vì vậy việc cung ứng, sử dụng và quản lý thực hiện theo đúng
quy định, quy chế về Dược và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp
luật về an toàn và kiểm soát bức xạ.
1.2. Phân tích hoạt động xây dựng danh mục thuốc.
1.2.1. Danh mục thuốc bệnh viện
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các


Chỉ sử dụng các sản phẩm phức hợp (ở liều cố định) trong những
trường hợp bệnh cụ thể

Tiêu chí lựa chọn phải rõ ràng bao gồm: Hiệu quả và hiệu lực điều
trị; an toàn; chất lượng; chi phí

Thuốc trong danh mục phải thống nhất với danh mục thuốc chủ yếu
và hướng dẫn điều trị chuẩn

12
* Tiêu chí đánh giá, lựa chọn thuốc trong danh mục.
Mô hình bệnh tật

Hiệu quả và hiệu lực

Độ an toàn

Chất lượng (của sản phẩm và nhà cung ứng)

Chi phí và chi phí - hiệu quả của thuốc

Thuốc rõ nguồn gốc

Điều kiện trang thiết bị, chuyên môn, con người đế xử trí thuốc

Nguồn tài chính dành cho việc mua thuốc
* Quy trình lựa chọn một số thuốc mới.

Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ

1.2.3. Tiêu chí lựa chọn thuốc
- Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn
thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng.
- Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn
định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định;
- Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy
định thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị,
tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng;
- Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào
chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các
thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so
sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc;
- Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng
phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng
hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh
đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với
thuốc ở dạng đơn chất;
- Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế,
hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
- Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như
các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa
hoặc nhà sản xuất, cung ứng;

14
1.2.4. Các bước xây dựng danh mục thuốc
- Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và
giá trị sử dụng, phân tích ABC - VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các
phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông
tin đáng tin cậy;
- Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng

thực trạng kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn cầu, tới mức trung bình
30-60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỉ lệ này cao gấp đôi so với
nhu cầu lâm sàng.
Tại Bệnh viện Bạch Mai, số thuốc kháng sinh chiếm tỉ lệ 46,25%,
nghĩa là theo đánh giá chuẩn của WHO đã có đến 1/2 số thuốc kháng sinh sử
dụng thừa. Số thuốc được kê không cần thiết này làm tăng chi phí y tế, tăng
khả năng xuất hiện tác dụng phụ của thuốc và tình trạng kháng kháng
sinh[26]. Tại một số cơ sở y tế, mức độ sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân
thậm chí gần như 100%. Tại Bệnh viện Bạch Mai, khoa tai mũi họng:
100%, răng hàm mặt: 94%, khoa ngoại: 94%, khoa sản: 89% Tình trạng
kết hợp nhiều loại kháng sinh cũng ở mức rất phổ biến (41,91%) và đã xuất
hiện những đơn thuốc kê kết hợp cùng lúc đến bốn loại kháng sinh. Riêng
chi phí dành cho kháng sinh đã lên mức gần 100 tỉ đồng, chiếm khoảng 1/3
ngân sách mua thuốc toàn viện. Có thể nói, việc kê đơn, sử dụng thuốc
không hợp lý đang còn phổ biến ở hầu hết các bệnh viện. Tỷ lệ tiền thuốc
kháng sinh trong tổng số tiền thuốc sử dụng năm 2008 chiếm 32,7% một
phần cho thấy MHBT ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm các bệnh nhiễm khuẩn cao,
mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến.

16
Hiện nay, do ảnh hưởng tiêu cực của một số hoạt động Marketing
không lành mạnh dẫn đến trong DMT của các bệnh viện thường có quá
nhiều tên thuốc khác nhau cho cùng một hoạt chất, đặc biệt là các thuốc
kháng sinh, thuốc bổ (bổ gan, vitamin ), thuốc tăng cường sức đề kháng
Điều này khiến cho người kê đơn dễ dàng lạm dụng kháng sinh (nhất
là Cephalosporin thế hệ 3) và lạm dụng thuốc bổ, kê quá nhiều thuốc cho
người bệnh, dẫn đến nhiều tương tác khi điều trị. Từ đó gây khó khăn cho
người mua thuốc, cấp phát thuốc và cho người giám sát sử dụng thuốc. Mặt
khác, việc truy cập trực tuyến thông tin thuốc trong phạm vi toàn cầu ở Việt
Nam còn hạn chế dẫn đến khó khăn cho việc cập nhật thông tin thuốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status